mở đầu cho dự án hội tụ các chuẩn mực kế toán quốc tế. Đây là một dự án ngắn nhằm mục tiêu giảm thiểu sự khác biệt trong chuẩn mực do 2 tổ chức này ban hành, trong đó bao gồm cả chuẩn mực về báo cáo bộ phận. IASB khẳng định rằng SFAS 131 có một số những ưu điểm rõ ràng hơn hẳn IAS 14. Do đó, tháng 1/2005 IASB quyết định điều chỉnh chuẩn mực cho phù hợp với SFAS 131 và áp dụng theo phương pháp quản trị cho việc xác định các bộ phận báo cáo và các thông tin được trình bày.
IASB cũng cho rằng điều này đem lại lợi thế khi mà IFRS mới này ra đời sẽ làm giảm chi phí của việc công bố các thông tin bộ phận vì TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 các thông tin trình bày cũng chính là thông tin dược ban quản trị sử dụng cho việc ra quyết định. Dự án được tiến hành từ 2002, và tháng 1 năm 2006 ban hành bản dự thảo số 8 (Exposure Draft 8) về bộ phận hoạt động. Sau đó tháng 11 năm 2006, chuẩn mực kế toán mới IFRS 8 được chính thức ban hành. IFRS 8 có hiệu lực áp dụng cho các năm tài chính bắt đầu tư hoặc sau 1 tháng 1 năm 2009 và các công ty có quyền được lựa chọn đối với các năm tài chính trước thời điểm đó.
IFRS 8 gần giống với SFAS 131 ngoại trừ 3 vấn đề tương đối nhỏ như sau: Thứ nhất, mặc dù cả 2 chuẩn mực này yêu cầu phải trình bày thông tin về tài sản dài hạn, nếu chúng được báo cáo cho “người ra quyết định hoạt động”nhưng SFAS 131 chỉ đề cập tới tài sản hữu hình còn IFRS 8 áp dụng cho cả tài sản vô hình; Thứ hai, IFRS 8 bổ sung thêm yêu cầu trình bày các khoản nợ của bộ phận nếu nó thường xuyên được báo cáo cho người ra quyết định của bộ phận; Thứ ba, quy tắc xác định bộ phận hoạt động trong trường hợp công ty có cơ cấu tổ chức kiểu ma trận là khác nhau.1 Nguyên tắc chính Một công ty sẽ trình bày thông tin để giúp người đọc báo cáo tài chính đánh giá được bản chất và tác động về mặt tài chính của hoạt động kinh doanh mà nó thực hiện và môi trường kinh tế nó hoạt động trong đó.2 Phạm vi áp dụng IFRS 8 áp dụng đối với (a) Báo cáo tài chính riêng hay báo cáo tài chính của một công ty mà: Có các công cụ nợ hoặc công cụ vốn được trao đổi trên thị trường chứng khoán nội địa hoặc nước ngoài hoặc thị trường OTC tại địa phương hoặc trong khu vực; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Đã nộp hồ sơ hoặc đang trong quá trình chuẩn bị đăng ký với trung tâm chứng khoán hoặc các cơ quan/ tổ chức pháp quy cho mục đích phát hành bất cứ loại công cụ tài chính ra công chúng. (b) Báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn mà công ty mẹ: Có các công cụ nợ hoặc công cụ vốn được trao đổi trên thị trường chứng khoán nội địa hoặc nước ngoài hoặc thị trường OTC tại địa phương hoặc trong khu vực; Đã nộp hồ sơ hoặc đang trong quá trình chuẩn bị đăng ký với trung tâm chứng khoán hoặc các cơ quan/ tổ chức pháp quy cho mục đích phát hành bất cứ loại công cụ tài chính ra công chúng.3 Định nghĩa, xác định bộ phận hoạt động và bộ phận cần báo cáo Bộ phận hoạt động Bộ phận hoạt động là một bộ phận của công ty mà: (a) Tham gia những hoạt động kinh doanh mà có thể tạo ra doanh thu và phát sinh chi phí (bao gồm doanh thu và chi phí liên quan đến các nghiệp vụ phát sinh với các bộ phận khác trong cùng một công ty); (b) Có kết quả hoạt động thường xuyên được xem xét bởi người ra quyết định hoạt động để ra quyết định về các nguồn lực được phân bổ cho bộ phận và đánh giá kết quả hoạt động của bộ phận đó; (c) Và có các thông tin riêng rẽ cho từng bộ phận này. Một bộ phận hoạt động có thể tham gia các hoạt động kinh doanh mà chưa thể tạo ra doanh thu. Bộ phận cần báo cáo Một công ty sẽ báo cáo các thông tin riêng rẽ theo bộ phận mà bộ phận đó đáp ứng điều kiện sau: Xác định là đáp ứng được các điều kiện của bộ phận hoạt động hoặc các điêu kiện để tổng hợp của 2 hay nhiều bộ phận hoạt động.
(Điều kiện để kết hợp các bộ phận hoạt động là các bộ phận có các đặc điểm về kinh tế tương TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 tự và gần giống nhau ở các điểm: sản phẩm và dịch vụ, quy trình sản xuất, các nhóm khách hàng hướng tới, phương pháp phân phối sản phẩm, môi trường pháp lý và quy định); Vượt qua được giới hạn về số lượng.4 Các giới hạn về số lượng Một công ty sẽ phải báo cáo các thông tin riêng rẽ về bộ phận hoạt động đáp ứng điều kiện về các giới hạn số lượng sau đây Doanh thu báo cáo bao gồm cả doanh thu bán cho khách hàng bên ngoài và doanh thu cung cấp cho các bộ phận bên trong thấp nhất là 10% của tổng doanh thu bán ra ngoài và nội bộ của tất cả các bộ phận hoạt động. Giá trị tuyệt đối của lãi/lỗ bộ phận báo cáo phải thấp nhất là 10% giá trị tuyệt đối của giá trị nào lớn hơn trong hai giá trị sau đây: Tổng lãi của tất cả các bộ phận hoạt động không phát sinh lỗ và Tổng lỗ của tất cả các bộ phận hoạt động có phát sinh lỗ Tài sản của bộ phận phải đạt ít nhất 10% của tổng tài sản của tất cả các bộ phận hoạt động. Các bộ phận hoạt động không đáp ứng được bất cứ điều kiện nào trên đây vẫn có thể cân nhắc việc báo cáo như là một bộ phận riêng rẽ nếu ban quản trị tin rằng những thông tin về bộ phận này sẽ hữu ích cho người sử dụng báo cáo tài chính. Nếu tổng doanh thu cung cấp cho bên ngoài của các bộ phận hoạt động được báo cáo chỉ đạt thấp hơn 75% của doanh thu công ty, thì phải xác định thêm các bộ phận báo cáo (ngay cả khi nó không đủ điều kiện là một bộ phận báo cáo) cho đến khi ít nhất 75% doanh thu công ty được thể hiện trong báo cáo bộ phận.5 Các thông tin được trình bày trên báo cáo bộ phận Các thông tin trên báo cáo bộ phận được trình bày để giúp người đọc báo cáo tài chính đánh giá được tác động tài chính của các hoạt động kinh doanh mà công ty đang thực hiện và môi trường kinh tế mà nó đang hoạt động trong đó.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Để đánh giá được tác động như đề cập ở trên thì công ty cần trình bày các thông tin chi tiết sau đây trong các mỗi kỳ báo cáo: Các thông tin chung bao gồm cơ sở để xác định bộ phận báo cáo của công ty, cơ sở cho việc tổ chức trong nội bộ công ty, và loại sản phẩm dịch vụ mà mỗi bộ phận báo cáo cung cấp để tạo ra doanh thu. Thông tin về lãi/lỗ trong đó bao gồm cả thông tin chi tiết về doanh thu, chi phí trong báo cáo về lợi nhuận bộ phận; tài sản bộ phận; nợ phải trả bộ phận và cơ sở đo lường các khoản mục trong báo cáo. Đối chiếu tổng doanh thu, lãi/lỗ, tài sản, nợ phải trả bộ phận và các yếu tố quan trọng khác của bộ phận với số liệu tổng của toàn công ty. Bảng đối chiếu số liệu các khoản mục của bảng cân đối kế toán bộ phận với các khoản mục trên bảng bảng cân đối kế toán của công ty tại ngày của bảng cân đối kế toán.
Các thông tin của kỳ so sánh trước đó sẽ được trình bày lại cho phù hợp. Trong trường hợp một số công ty không tổ chức dựa trên sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ hay khác biệt về khu vực địa lý hoạt động. Trong những công ty như vậy một bộ phận báo cáo có thể có doanh thu từ nhiều loại sản phẩm hay dịch vụ khác nhau hoặc là nhiều bộ phận báo cáo có thể cung cấp cùng loại sản phẩm, dịch vụ. Tương tự, các bộ phận báo cáo của một công ty có thể có tài sản tại nhiều khu vực địa lý khác nhau và có doanh thu từ các khách hàng ở những khu vực địa lý khác nhau, hoặc là nhiều bộ phận báo cáo có thể hoạt động trong cùng khu vực địa lý.
Các thông tin sau đây ở mức độ tổng thể công ty/ tập đoàn và được trình bày trong trường hợp không thể cung cấp phần nào đó thông tin bộ phận báo cáo theo yêu cầu của chuẩn mực IFRS này và gọi là các thông tin tổng thể: Trình bày doanh thu từ khách hàng bên ngoài cho mỗi loại hoặc mỗi nhóm sản phẩm và dịch vụ; Trình bày doanh thu từ khách hàng bên ngoài bao gồm trong nước và các nước, khu vực quốc gia khác; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Tài sản dài hạn ngoại trừ các công cụ tài chính, tài sản thuế thu nhập hoãn lại, tài sản lợi ích nhân viên, quyền phát sinh theo hợp đồng bảo hiểm tại địa điểm trong nội địa hoặc nước khác mà tại đó công ty nắm giữ tài sản; Công ty trình bày các thông tin về mức độ phụ thuộc của mình vào các khách hàng chủ chốt. Nếu doanh thu từ một khách hàng đơn lẻ bên ngoài chiếm 10% hay nhiều hơn tổng doanh thu của công ty thì công ty sẽ phải trình bày vấn đề này cùng với giá trị doanh thu từ mỗi khách hàng loại này. Các bảng dưới đây trình bày tóm tắt các thông tin bộ phận trình bày theo IFRS 8 có đối chiếu với chuẩn mực quốc tế trước đó là IAS 14 (sửa đổi) và các thông tin ở mức độ tổng thể.