Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÃN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1. THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 1. Định nghĩa thi hành án hình sự Sau khi người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm pháp luật bị trừng trị bởi pháp luật bằng những chế tài của luật hình sự. Cơ sở và nền tảng của việc áp dụng chế tài đối với người phạm tội đó là bản án có hiệu lực của Tòa án (một người chỉ bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi có bản án có hiệu lực của Tòa án).
Để buộc người bị kết án phải thực thi bản án đó thì cần có một thủ tục tiếp sau đó là thi hành án hình sự. “Thi hành án hình sự là một khâu có vai trò quan trọng nhằm đảm bảo đạt được mục đích của hình phạt là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm giáo dục cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng và chống tội phạm” [19, tr. Cũng có quan điểm cho rằng “thi hành án là giai đoạn của tố tụng hình sự nhằm thực hiện bản án và quyết định có hiệu lực của Tòa án” [56, tr. Ngoài ra Thi hành án còn được hiểu một cách đơn giản đó là "việc thực hiện trên thực tế các quyền, nghĩa vụ đã được bản án, quyết định ghi nhận" [54, tr.
Tuy đây không được coi là những định nghĩa về thi hành án hình sự nhưng đã phần nào nêu lên được ý nghĩa của hoạt động thi hành án. Hiện nay trong pháp luật hình sự chưa có một khái niệm cụ thể về thi hành án hình sự. Tại Điều 1 Luật thi hành án hình sự quy định về phạm vi điều chỉnh của luật thi hành án hình sự bao gồm "nguyên tắc, trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong thi hành bản án, quyết định về hình phạt tù, tử hình, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, trục xuất, tước một số 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, biện pháp tư pháp; quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án hình sự, biện pháp tư pháp; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án hình sự, biện pháp tư pháp". Qua đây ta có thể đưa ra một định nghĩa về thi hành án hình sự dưới góc độ khoa học luật hình sự như sau: Thi hành án hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các trình tự thủ tục để thực thi các quyết định về hình sự của bản án hình sự như thi hành hình phạt tù, tử hình, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, trục xuất, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, biện pháp tư pháp.
Đối tƣợng của hoạt động thi hành án Đầu tiên cần phải khẳng định là thi hành án hình sự là việc đưa ra thi hành phần hình phạt trong bản án hình sự. Thế nhưng không phải đối với mọi hình phạt được tuyên trong bản án việc thi hành án hình sự đều diễn ra. Sau khi bản án có hiệu lực, tùy theo phán quyết của tòa án sẽ quyết định giai đoạn thi hành án sẽ được diễn ra như thế nào. Trong Bộ luật hình sự tại Điều 28 đã quy định về hình phạt đối với những người bị kết án hình phạt có thể là những hình phạt đơn giản như cảnh cáo hoặc phạt tiền và cũng có thể là những hình phạt có thể ảnh hưởng đến quyền cao nhất của con người đó là quyền được sống như hình phạt tử hình.
Chính vì đặc thù của từng hình phạt dẫn đến có một số hình phạt hoạt động thi hành án chỉ đơn giản diễn ra ngay tại phiên tòa do Tòa tuyên như hình phạt cảnh cáo. Và cũng có những hình phạt do đặc thù của hình phạt đó mà luật đã chuyển giao hình hình phạt đó cho cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo thủ tục như thi hành án dân sự (hình phạt tiền). Và như vậy trong trường hợp này việc thi hành án hình sự cũng không diễn ra. Như vậy tùy vào loại hình phạt mà tòa án áp dụng để xác định việc còn hay không còn hoạt động thi hành án hình sự.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chủ thể thi hành án hình sự Chủ thể thi hành án hình sự bao gồm chủ thể phải thi hành án hình sự và chủ thể chịu trách nhiệm thi hành án hình sự. - Chủ thể phải thi hành án hình sự là chủ thể đã bị Tòa án áp dụng một hay nhiều hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự để trừng trị vì đã có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Vậy đó là những chủ thể nào? Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân do đó chủ thể của hoạt động thi hành án hình sự cũng chỉ có thể là cá nhân mà không thể là pháp nhân hay tổ chức.
Và cá nhân này cũng cần có đủ những điều kiện sau. Thứ nhất: Chủ thể này phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Có nghĩa là cá nhân này phải có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không bị hạn chế về năng lực nhận thức hành vi. Thứ hai: Chủ thể này bị kết án bởi một hay nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án đã có hiệu lực pháp luật là bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị sau một thời gian luật định (thông thường là 30 ngày kể từ ngày tuyên án), hoặc bản án phúc thẩm không bị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm. Thứ ba: Hình phạt mà chủ thể đó phải thi hành cần phải có những trình tự và thủ tục cụ thể để thi hành. - Chủ thể chịu trách nhiệm thi hành án hình sự: Đó là những cá nhân tổ chức được luật giao nhiệm vụ thực thi các hoạt động thi hành án. Theo quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam và luật thi hành án thì Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự, các trại giam, ủy ban nhân dân các cấp cũng có thể là chủ thể trong hoạt động thi hành án tùy vào từng loại hình phạt cụ thể.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các hoạt động có thể diễn ra trong quá trình thi hành án hình sự Giai đoạn thi hành án hình sự bắt đầu từ khi có quyết định thi hành án và kết thúc khi người bị kết án chấp hành xong phần hình phạt chính trong bản án đã tuyên. Và việc thi hành án hình sự có nghĩa là việc bắt người phạm tội phải chấp hành hình phạt của bản án đã có hiệu lực đã áp dụng đối với họ. Bản chất của hoạt động này là việc cơ quan nhà nước tước bỏ của người phạm tội một số quyền nhất định quyền đó có thể là quyền được sống, quyền tự do đi lại hay quyền được làm một công việc nhất định.
Chính vì vậy ở giai đoạn này có thể sẽ có một số trường hợp xảy như theo quyết định của bản án thi người phải thi hành án chỉ bị tước bỏ một số quyền nhất định nhưng khi thi hành quyết định đó vào thời điểm nhất định thì lại ảnh hưởng đến một số quyền khác của người bị kết án dẫn đến cần phải giải pháp để vẫn đảm bảo được tính pháp chế và tính hiệu lực của bản án nhưng cũng không ảnh hưởng đến những quyền khác của người bị kết án. Do đó trong quá trình thi hành án có thể xuất hiện một số hoạt động như hoãn thi hành án hình sự, tạm đình chỉ thi hành án hình sự, đình chỉ thi hành án hình sự hoặc miễn chấp hành hình phạt. Những hoạt động này là những hoạt động đặc biệt của thi hành án hình sự. Bởi những giai đoạn này có thể xảy ra hoặc không xay ra tùy từng trường hợp cụ thể.
HOÃN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ TRONG LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM. Khái niệm hoãn thi hành án hình sự Cũng như thi hành án hình sự Hoãn thi hành án hình sự là một khái niệm bao hàm hoãn thi hành án của tất cả các hình phạt. Hiện nay trong pháp luật hình sự và pháp luật thi hành án hình sự cũng chưa có một khái niệm cụ thể về hoãn thi hành án hình sự. Nhưng dưới góc độ khoa học thì đã có một số khái niệm về hoãn chấp hành hình phạt tù và hoãn thi hành hình phạt tử hình như "Hoãn thi hành hình phạt tù là việc Chánh án Tòa án xét xử sơ thẩm 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết định cho người bị kết án tù đang tại ngoại chưa phải chấp hành hình phạt tù khi có những điều kiện do luật tố tụng hình sự quy định" [20, tr.
Định nghĩa này được khái quát theo tinh thần của Bộ luật tố tụng hình sự khi mà quy định hoãn thi hành án hình sự được quy định tại điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự. Cũng có quan điểm cho rằng: "Hoãn chấp hành án hình phạt tù là chuyển việc thi hành hình phạt tù sang thời điểm muộn hơn" [59, tr. Đây là một cách nêu khái quát về bản chất của việc hoãn chấp hành hình phạt tù nó không nêu được một số những đặc điểm cơ bản của việc hoãn thi hành án hình sự. Ngoài ra còn có định nghĩa khác về hoãn thi hành án như sau: "Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc tạm dừng lại trong một thời hạn nhất định việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án nếu người này chưa chấp hành hình phạt tù đó" [6, tr.
Đây có thể được coi là khái niệm tương đối hoàn chỉnh về hoãn thi hành án hình phạt tù bởi nó đã nêu bật được những đặc điểm cơ bản của hoãn thi hành án phạt tù để từ đó có căn cứ phân biệt hoãn thi hành án phạt tù với những biện pháp tha miễn khác. Nhìn chung những khái niệm trên đã phần nào nêu được những đặc điểm của hoạt động hoãn thi hành hình phạt tù.