CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN LƯỢC CẤP ĐƠN VỊ KINH DOANH 1. CHIẾN LƯỢC VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC 1. Khái niệm chiến lược - Chandler là một trong những người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược, theo ông: "Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này" [3, tr. - Đến những năm 1980, Quinn đưa ra định nghĩa chiến lược có tính khái quát hơn, theo ông “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chủ yếu, các chính sách và chuỗi hành động vào một tổng thể được gắn kết một cách chặt chẽ” [3, tr.
- Xem xét trong điều kiện môi trường kinh doanh liên tục thay đổi, Johnson và Scholes cho rằng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” [3, tr.Porter, 1996: “Thứ nhất, chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt; Thứ hai, chiến lược là sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh; Thứ ba, chiến lược là việc tạo sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty”. - Mintzberg khái quát các khía cạnh của quản trị chiến lược qua định nghĩa chiến lược với 5 chữ P [3, tr.10-11], đó là: 10 + Kế hoạch (Plan): chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán. + Mô thức (Partern): sự kiên định về hành vi theo thời gian, có thể là dự định hay không dự định. + Ví thế (Position): phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó.
+ Quan niệm (Perspective): cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới. + Thủ thuật (Ploy): cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ. - Việc định nghĩa chính xác chiến lược theo cấp độ về bản chất tùy thuộc quan điểm. Tối thiểu có ba mức chiến lược cần được nhận diện trong tổ chức, đó là: + Chiến lược cấp công ty: hướng đến mục đích và phạm vi tổng thể của tổ chức.
+ Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh: thể hiện cách thức cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thể. + Chiến lược chức năng (hay chiến lược hoạt động): là chiến lược giúp cho chiến lược cấp công ty và cấp kinh doanh thực hiện một cách hữu hiệu. Quản trị chiến lược Chiến lược thường được xem như là sản phẩm của một quá trình hoạch định hợp lý được dẫn dắt bởi quản trị cấp cao, có xem xét đến các yếu tố phát sinh bên trong tổ chức mà mang lại các chiến lược có giá trị. Với cách tiếp cận này “Quản trị chiến lược được xem là một bộ các quyết định quản trị và các hành động xác định hiệu suất dài hạn của một công ty” [3, tr.
Các nội dung cơ bản của quản trị chiến lược gồm các hành động liên tục , đó là: soát xét môi trường (cả bên trong lẫn bên ngoài), xây dựng chiến lược, thực thi chiến lược và đánh giá kiểm soát chiến lược. Do đó, nghiên cứu chiến lược cần nhấn mạnh vào việc theo dõi và đánh giá các cơ hội và đe dọa bên ngoài trong bối cảnh của các sức mạnh và điểm 11 yếu bên trong, cần chú trọng giải quyết kịp thời, có hiệu quả mối quan hệ giữa chiến lược đã hoạch định và môi trường kinh doanh. Các giai đoạn phát triển của quản trị chiến lược Lý thuyết về quản trị chiến lược phát triển qua ba giai đoạn với các trường phái khác nhau nhưng có thể bổ sung cho nhau và có sự điều chỉnh thích hợp theo điều kiện và môi trường kinh doanh. Giai đoạn đầu Bắt đầu từ đầu thập niên 60 của thế kỷ 21 với tác phẩm “Chiến lược và cấu trúc” của Chandler năm 1962.
Ông nhấn mạnh đến vai trò của cấu trúc tổ chức và sự phù hợp của cấu trúc tổ chức với chiến lược để đi đến thành công; ông cho rằng “chiến lược công ty cần phải thay đổi như là sự đáp ứng với các thay đổi của môi trường và chiến lược mới cần các cấu trúc mới để thực hiện”. Các lý thuyết ban đầu nghiên cứu các quá trình bên trong tổ chức và nhấn mạnh vai trò của nhà quản trị. Trong giai đoạn đầu này còn có nhà nghiên cứu Ansoff, ông cho rằng “chiến lược như mạch kết nối chung giữa các hoạt động của doanh nghiệp và thị trường sản phẩm, nó bao gồm bốn bộ phận: phạm vi thị trường-sản phẩm, vec tơ tăng trưởng, lợi thế cạnh tranh và sự cộng hưởng” [3, tr. Theo tác giả Andrews và các cộng sự thuộc trường kinh doanh Harvard trong cuốn “Chính sách kinh doanh” thì chiến lược được định nghĩa như là “hệ thống các mục tiêu, mục đích các chính sách căn bản và các kế hoạch để đạt được các mục tiêu này, được tuyên bố dưới dạng xác định hoạt động kinh doanh mà công ty tham gia, hay thể loại công ty muốn trở thành” [3, tr.
Trường phái thiết kế trong giai đoạn này nhấn mạnh đến “năng lực gây khác biệt” của doanh nghiệp với việc kết hợp phân tích, xem xét các yếu tố bên trong và bên ngoài, cũng như mối quan hệ giữa chiến lược và cấu trúc của tổ chức. Bên cạnh đó, trường phái hoạch định đưa ra mô hình của việc hoạch 12 định chiến lược gồm: thiết lập mục tiêu – đánh giá bên ngoài – đánh giá bên trong – đánh giá chiến lược – cụ thể hóa chiến lược – lập kế hoạch cho toàn bộ quá trình. Các công cụ phổ biến được sử dụng trong thời kỳ này gồm: ma trận SWOT, ma trận thị phần – tăng trưởng BCG; ma trận hấp dẫn ngành và sức mạnh của đơn vị kinh doanh. Giai đoạn giữa Giai đoạn giữa của quá trình phát triển lý thuyết quản trị chiến lược hướng về tổ chức ngành, nó bắt đầu vào những năm 70 với nghiên cứu nổi bật của Michael Porter, ông đã trình bày một cách thức rõ ràng để mô tả cấu trúc ngành với mô hình năm lực lượng cạnh tranh.
Năm lực lượng là các quy tắc của cạnh tranh, chúng xác định tính hấp dẫn của ngành và giúp xác định chiến lược cạnh tranh. Ông cũng cho rằng, có thể phát triển ba loại chiến lược chung, đó là: dẫn đạo chi phí, gây khác biệt và tập trung. Ông là người khởi xướng chiến lược định vị, ở đó, cần làm phù hợp giữa chiến lược chung hợp lý với điều kiện môi trường. Trong thời kỳ này, sử dụng các công cụ gồm: mô hình năm lực lượng cạnh tranh, các chiến lược chung và chuỗi giá trị.
Các phát triển hiện nay Các lý thuyết về quản trị chiến lược giai đoạn hiện nay hướng vào các nguồn lực của doanh nghiệp với việc nhấn mạnh vào chiến lược cấp công ty với quan điểm dựa trên nguồn lực của tổ chức, nó được chứng minh khi các công ty cùng nhóm chiến lược nhưng có công ty vượt trội, thành công trong khi có công ty thất bại. CHIẾN LƯỢC CẤP ĐƠN VỊ KINH DOANH 1. Đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) Thông thường, đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) được phân biệt dựa trên ba đặc tính sau (Kotler & Keller, 2009): - Một đơn vị kinh doanh riêng rẽ hoặc tập hợp các đơn vị kinh doanh có 13 liên quan mà có thể hoạch định tách biệt với phần còn lại của công ty. - Có thị trường xác định riêng của nó (khách hàng, đối thủ cạnh tranh,… cụ thể).
- Có nhà quản trị chịu trách nhiệm về hoạch định chiến lược và hiệu suất lợi nhuận. Khi một công ty đã xác định các SBU của nó, các nhà quản trị phải quyết định ngân sách cần phải được phân bổ. Mỗi SBU, do đó phải được đánh giá theo giá trị của nó, mà phải được dựa trên các cơ hội phát triển tiềm năng của chúng. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là tổng thể các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thể [3, tr.
Để lựa chọn chiến lược kinh doanh phù hợp và đạt được những thành công trong dài hạn, doanh nghiệp cần xác định cụ thể là họ sẽ cung cấp cho khách hàng sản phẩm hay dịch vụ nào, cách thức tạo ra các sản phẩm và dịch vụ ấy, và làm cách nào để đưa các sản phẩm và dịch vụ đến cho khách hàng. Do vậy, chiến lược cấp đơn vị kinh doanh phản ánh niềm tin của doanh nghiệp về địa điểm và cách thức mà nó có thể giành được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh của mình. Điều quan trọng nhất của chiến lược này là doanh nghiệp cần lựa chọn thực hiện các hành động tạo sự khác biệt hay lựa chọn thực hiện các hoạt động khác hơn so với đối thủ [3, tr. Theo luận điểm của Derek F.
Abell’s về quá trình ra quyết định, để xây dựng chiến lược cấp đơn vị kinh doanh phải bao gồm ba yếu tố, đó là: (1) nhu cầu khách hàng, hay điều gì được thoả mãn (What), (2) các nhóm khách hàng hay ai được thoả mãn (Who), và (3) các khả năng khác biệt hóa hay cách thức mà nhu cầu khách hàng được thoả mãn (How). Ba yếu tố quyết định này xác 14 định cách thức mà một công ty sẽ cạnh tranh trong một hoạt động kinh doanh hay một ngành [3, tr. Có ba loại chiến lược chung (chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh) đó là: (1) chiến lược dẫn đạo chi phí là tổng thể các hành động nhằm cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ có các đặc tính được khách hàng chấp nhận với chi phí thấp nhất trong mối quan hệ với tất cả các đối thủ cạnh tranh. (2) chiến lược tạo sự khác biệt là chiến lược tạo ra sản phẩm, dịch vụ được khách hàng chấp nhận là độc đáo về một vài đặc tính quan trọng, tạo sự khác biệt nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh của công ty.
(3) các chiến lược tập trung là chiến lược hướng trực tiếp vào phục vụ nhu cầu của nhóm hay phân đoạn khách hàng cụ thể; nó hướng vào khe hở thị trường cụ thể mà đó có thể là về địa lý, loại khách hàng hay loại sản phẩm.