Chương 1 là chương cơ sở lý luận của đề tài. Chương 2 bàn về thực trạng hòa nhập môi trường học tập của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV. Chương 3 tìm hiểu nhu cầu đối với hoạt động Công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV hòa nhập môi trường học tập. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm công cụ 1. Trẻ em Hiện nay, khái niệm “Trẻ em” không đồng nhất tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Australia và Anh, trẻ em được quy định là dưới 18 tuổi.
Tại Singapore, trẻ em là người dưới 14 tuổi. Trong khi đó tại HongKong, trẻ em là nhóm người dưới 16 tuổi. Sở dĩ có sự khác nhau là do có sự khác biệt về điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội. Một lập luận khác để giải thích sự khác biệt đó là khả năng của nền kinh tế của mỗi quốc gia, bởi vì việc quy định về độ tuổi trẻ em bao giờ cũng gắn liền với trách nhiệm đảm bảo các quyền của trẻ em, ngoài ra còn đảm bảo quyền công dân, quyền con người nói chung ở mỗi quốc gia [30].
Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hợp quốc như Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 15 tuổi. Theo các ngành nghiên cứu, khái niệm trẻ em cũng được hiểu là: Trong Tâm lý học, trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý, nhân cách con người. Trong Xã hội học, trẻ em được hiểu là một nhóm nhân khẩu biệt trong quá trình xã hội hóa. Trong Công ước Quốc tế, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ có quy định tuổi thành niên sớm.
Theo Điều 1, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi. Trong nghiên cứu này, khái niệm trẻ em được hiểu theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. HIV/AIDS Theo Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam – Bộ Y tế về chăm sóc HIV/AIDS tại cộng đồng thì HIV/AIDS được định nghĩa như sau: 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human immunodeficiency Virus” dịch ra tiếng Việt: Vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh. HIV thuộc nhóm Lentivirus, và giống như mọi virus thuộc tuýp này, nó sẽ tấn công hệ miễn dịch của con người.
Lentivirus lại thuộc vào 1 nhóm virus lớn hơn gọi là Retrovirus. Lentivirus có nghĩa là virus chậm cần có nhiều thời gian để gây ra tác dụng có hại cho cơ thể. HIV là 1 virus có tính thay đổi cao, đột biến dễ dàng. Điều này có nghĩa là ngay trong cơ thể của người bị nhiễm cũng có nhiều chủng HIV khác nhau.
Dựa trên những điểm tương tự về di truyền, ta có thể phân loại vô số các chủng virus khác nhau đó thành từng tuýp, nhóm và phân tuýp. Có 2 tuýp HIV là: HIV-1 và HIV-2. Cả hai đều gây bệnh cho người. Cả 2 tuýp này đều có thể lây truyền qua quan hệ tình dục, qua đường máu, và từ mẹ sang con.
Cả 2 tuýp này dường như đều gây bệnh cảnh lâm sàng AIDS khá giống nhau nên rất khó để mà phân biệt. Tuy nhiên, HIV-2 lại không dễ lây như HIV-1, và thời gian kể từ lúc mới bắt đầu nhiễm cho đến khi xuất hiện bệnh thường dài hơn. Nhưng trên toàn thế giới hiện nay, HIV- 1 chính là nhóm gây đại dịch AIDS, và khi nói nhiễm HIV mà không kèm theo tuýp, tức là đang nói tới HIV-1. Trên thực tế HIV-2 rất ít gặp, chủ yếu loại này thường khu trú tại Tây Phi, ít khi thấy ở nơi khác.
Người mang HIV trong máu thường đươ ̣c go ̣i là người nhiễm HIV. Các giai đoạn phát triển của HIV: Quá trình tiến triển qua 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: Giai đoạn sơ nhiễm HIV (nhiễm trùng cấp tính). Giai đoạn 2: Nhiễm HIV không triệu chứng (thời kỳ ủ bệnh). Giai đoạn 3: Giai đoạn nhiễm HIV có triệu chứng (giai đoạn cận AIDS).
Giai đoạn 4: Giai đoạn AIDS [17]. Trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV Nhóm đối tượng trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS gồm: trẻ nhiễm HIV, trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi HIV (trẻ em mồ côi do bố và mẹ hoặc bố hoặc mẹ chết vì lý do liên quan đến HIV/AIDS; trẻ em sống với bố, mẹ hoặc người nuôi dưỡng nhiễm HIV); trẻ em có nguy cơ cao nhiễm HIV (trẻ em sử dụng ma túy, trẻ em là con của người mua dâm, bán dâm, sử dụng ma túy; trẻ em sống trong các cơ sở trợ giúp trẻ em) [23]. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV là trẻ nhiễm HIV, trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp từ bố hoặc mẹ, sống với người nuôi dưỡng nhiễm HIV và trẻ em sử dụng ma túy. Nhìn chung tâm trạng của trẻ em sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trong đó tính tới nhóm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV) thường: Mất đi sự ham thích và sinh lực: Trẻ đau khổ, lo lắng, sợ sệt, có thể ngồi im một chỗ suốt ngày, không ham thích bất kỳ một hoạt động gì.
Trẻ buồn, lo lắng và thường khó tập trung. Đôi khi căng thẳng quá trẻ trở nên quá hiếu động, bứt rứt, chạy nhảy khắp nơi, không thể ngồi yên, dễ bị kích động [20]. Hung hăng phá phách: Trẻ đâm ra hung hăng và phá phách khi có cảm xúc mạnh do không thể diễn tả tâm trạng bằng lời nói, trẻ có thể đánh đập người khác khi cảm thấy căng thẳng, tức giận hoặc sợ hãi. Trẻ bắt chước những hành vi hung hăng vì có thể trẻ đã từng là nạn nhân của hành vi bạo lực.
Trong nhiều trường hợp, trẻ không tin tưởng vào người lớn nếu trẻ đã từng bị người lớn đối xử thô bạo. Tuy nhiên có khi trẻ mồ côi lại bám chặt người lớn như sợ bị bỏ rơi, có khi trẻ lại không muốn đem lòng yêu mến ai [20]. Buồn bã, khó tính và rất dễ nổi cáu: Trẻ không phải lúc nào cũng có thể nói về tâm trạng của mình. Có thể trẻ vì quá bối rối hoặc sợ hãi nên không xác định được tâm trạng của mình hoặc không biết nói thế nào để diễn tả tâm trạng của mình [20].
Môi trường học tập Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật [4]. Khái niệm về môi trường trong nghiên cứu này được hiểu là những yếu tố xã hội, nhân văn, hay bối cảnh xã hội xung quanh trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV cụ thể là gia đình, cộng đồng, trường học. Môi trường học tập được hiểu là trường học, và rộng hơn là bối cảnh học tập của các em bao gồm trường học, gia đình và cộng đồng. Hòa nhập xã hội và hòa nhập môi trường học tập Hòa nhập là khái niệm tương đối mới ở Hoa Kỳ và dần được sử dụng nhiều hơn trong các tuyên ngôn của Liên hợp quốc để chỉ một khái niệm linh hoạt nhằm 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biểu đạt quan điểm “quây quần lại chúng ta sẽ tốt hơn lên”.
Động từ gốc tiếng Latinh là Includere, có nghĩa là đóng cửa lại sau khi một người nào đó vào nhà. Định nghĩa thông thường của động từ tiếng Anh là Includere, có nghĩa là xem xét và nhìn nhận một cái gì đó như một phần của tổng thể. Ngoài ra, hòa nhập còn được hiểu là tham gia hòa vào để không có sự tách biệt [37]. Cũng có ý kiến cho rằng Sống hòa nhập là sống gần gũi, chan hòa, không xa lánh mọi người; không gây mâu thuẫn, bất hòa với người khác; có ý thức tham gia các hoạt động chung của cộng đồng.
Theo Tony Booth và Mel Ainsow, khi bàn đến giáo dục hòa nhập thường đề cập đến trẻ khuyết tật hay "trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt". Tuy nhiên, giáo dục hòa nhập được hiểu là giáo dục cho tất cả mọi trẻ em, xây dựng môi trường giáo dục hòa nhập không chỉ là phương hướng hoàn thiện nhà trường theo các giá trị hòa nhập mà còn nhằm xây dựng các mối quan hệ hợp tác và cải thiện tốt hơn môi trường dạy và học hòa nhập. Hòa nhập có liên quan đến sự thay đổi. Đó là quá trình không có hồi kết của hoạt động học tập và tham gia hoạt động học tập ngày càng tích cực hơn của trẻ.
Nhà trường hòa nhập là nhà trường sẵn sàng cho sự thay đổi để phát triển [37]. Kế thừa quan niệm của các tác giả đi trước, khái niệm hòa nhập xã hội mà cụ thể ở đây là hòa nhập môi trường học tập của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV trong nghiên cứu này được được hiểu là việc tham gia học tập nói chung và học tập ở trường học nói riêng của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV. Với quan niệm như thế này, tác giả đặc biệt chú ý đến việc học tập của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV có được bình đẳng như các trẻ khác không bị ảnh hưởng bởi HIV không, nếu trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV gặp những khó khăn, rào cản trong quá trình hòa nhập môi trường học tập thì những rào cản đó cụ thể như thế nào? 1. Các lý thuyết vận dụng 1.
Thuyết nhu cầu của Maslow Abraham Maslow (1/4/1908-8/6/1970) là một nhà tâm lý học người Mỹ, ông được xem là một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humantic psychoanalysis) trường phái được xem là thế lực thứ 3 (the third 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính Phân tâm học (Psychoanalysis) và chủ nghĩa hành vi (Behaviorism) [19]. Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục. Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước.