CHƯƠNG 1 Có thể thấy, hòa giải không chỉ có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội mà còn có ý nghĩa to lớn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Hòa giải trong vụ án dân sự mang lại nhiều ý nghĩa trong công tác xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật và giáo dục pháp luật. Mỗi quốc gia khi xây dựng hòa giải phải có sự kế thừa, chọn lọc linh hoạt kinh nghiệm xây dựng pháp luật của các nước khác và sáng tạo phù hợp với truyền thống và hoàn cảnh đất nước. Từ những vấn đề lý luận cơ bản về hòa giải trong vụ án dân sự trên, đây là cơ sở để nhìn nhận và đánh giá những quy định cụ thể của pháp luật tố tụng liên quan đến phương thức hòa giải trong việc giải quyết vụ án dân sự.
17 CHƯƠNG 2 NỘI DUNG THỦ TỤC HÒA GIẢI TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH 2. Những quy định chung về thủ tục hòa giải trong vụ án dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành Hòa giải pháp luật tố tụng Việt Nam ghi nhận từ rất sớm, ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã thông qua Sắc lệnh 13 và Sắc lệnh 51 năm 1946 về trách nhiệm hòa giải của Ban Tư pháp xã. Đến năm 1989, tinh thần khuyến khích hòa giải, hỗ trợ các đương sự thỏa thuận với nhau trong quá trình giải quyết vụ án dân sự đã được thể hiện rõ tại Điều 5 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989:“Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hòa giải để giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những trường hợp không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải”. Và cho đến nay, BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 đã khẳng định rằng: Hòa giải là thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự, trừ những trường hợp không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được.
Có thể thấy, hòa giải không phải là một vấn đề mới, đó là sự kế thừa từ các văn bản pháp luật tố tụng trước đó nhưng với sự ghi nhận hòa giải là một thủ tục quan trọng của pháp luật tố tụng thì đó là một vấn đề hoàn toàn mới cho thấy tầm quan trọng của hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Điều này được thể hiện ở ba nội dung chính sau: 2. Tòa án đóng vai trò quan trọng trong quá trình hòa giải khi tiến hành giải quyết vụ án dân sự Điều 10 BLTTDS năm 2004 quy định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Quy định này là một trong những nguyên tắc của tố tụng dân sự.
Nguyên tắc này nêu rõ trách nhiệm của tiến hành hòa giải của Tòa án. 18 Hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các đương sự mới là trung tâm của buổi hòa giải. Tuy vậy, sự có mặt của Thẩm phán hòa giải là vô cùng quan trọng và có tính bắt buộc. Điều này cũng tạo nên sự khác biệt giữa hòa giải trong tố tụng với hòa giải ngoài tố tụng.
Hòa giải ngoài tố tụng có thể là các bên tự hòa giải với nhau hoặc thông qua một chủ thể thứ ba. Còn hòa giải với ý nghĩa là một thủ tục trong tố tụng dân sự luôn có sự tham gia của chủ thể thứ ba tiến hành đó là Tòa án. Trước khi hòa giải, Thẩm phán giải quyết vụ án phải đọc hồ sơ, nghiên cứu những tình tiết, sự kiện của vụ việc tranh chấp giữa các đương sự. Để giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau và việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời mà không phải mở phiên tòa xét xử, Tòa án chủ động triệu tập các đương sự đến để tiến hành hòa giải, thông báo nội dung các vấn đề cần hòa giải.
Tại buổi hòa giải, Thẩm phán chủ động giải thích để các đương sự hiểu pháp luật về vấn đề họ đang tranh chấp, giải thích cho họ các quyền và nghĩa vụ, giải quyết vướng mắc giữa các đương sự để họ thỏa thuận với nhau giải quyết vấn đề của vụ án. Sau khi các đương sự thỏa thuận được với nhau, Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất. Và cuối cùng là tuyên bố hòa giải thành hay không thành. Nếu hòa giải thành công, đó là thành công lớn của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Nếu các đương sự không thể đi đến một thỏa thuận chung thì Tòa án cũng đã góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật cho các đương sự, là cầu nối để các đương sự hiểu nhau hơn, củng cố tình đoàn kết nhân dân. Không chỉ dừng lại ở thủ tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm mà trách nhiệm hòa giải của Tòa án phải được đảm bảo xuyên suốt trong quá trình tố tụng dân sự, thể hiện ở việc trong các giai đoạn sau, tuy không bắt buộc hòa giải nhưng Tòa án vẫn khuyến khích và hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trường hợp các đương sự tự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án công nhận thì Tòa án công nhận về sự thỏa thuận đó. Theo đó, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Chủ tọa phiên tòa tiếp tục hỏi các đương sự về việc có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không? Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết 19 vụ án và thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, tinh thần của nguyên tắc hòa giải vẫn được đảm bảo. Theo đó, nếu đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận đó là tự nguyện, không xâm phạm đến quyền lợi của Nhà nước, của cộng đồng, không trái pháp luật, đạo đức thì Hội đồng xét xử ra bản án phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Như vậy, tầm quan trọng của Tòa án trong hòa giải là không thể phủ nhận, thể hiện xuyên suốt trong quá trình tố tụng. Tầm quan trọng ấy không chỉ thể hiện ở việc đảm bảo pháp luật tố tụng dân sự luôn được thực thi, thủ tục hòa giải trong vụ án dân sự được đi vào cuộc sống mà còn thể hiện ở việc tháo gỡ vướng mắc, xung đột trong nhân dân, góp phần rất lớn tới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tới gần với cuộc sống của người dân hơn.
Mặt khác, thông qua công tác hòa giải, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có điều kiện nghiên cứu kĩ hơn hồ sơ vụ án, hiểu rõ hơn về tranh chấp giữa các đương sự để thực hiện tốt hơn trách nhiệm và nhiệm vụ của mình. Việc thực hiện thủ tục hòa giải trong vụ án dân sự phải đảm bảo sự tự do, tự nguyện thỏa thuận, trên cơ sở quyền tự định đoạt của đương sự Sự tự nguyện của các đương sự là nguyên tắc cơ bản trong hòa giải các vụ án dân sự. Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận (được quy định tại Điều 4 Bộ luật dân sự năm 2005). Theo đó, quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong các quan hệ dân sự được pháp luật bảo vệ, nếu các cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Nguyên tắc này cũng xác định, trong các quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Mọi hành vi tác động làm ảnh hưởng tới sự tự nguyện của chủ thể có thể làm cho giao dịch dân sự mà các chủ thể xác lập vô hiệu. Do vậy, các cam kết, thỏa thuận tự nguyện, hợp pháp này luôn được pháp luật bảo vệ. Ở đây, sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự thể hiện ở hai nội dung là tự nguyện tham gia hòa giải và tự nguyện thỏa thuận nội dung hòa giải.
20 Tự nguyện tham gia hòa giải: Khi giữa các đương sự xảy ra tranh chấp dân sự, họ được tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp. Và khi họ lựa chọn Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp, họ lại được tự lựa chọn có tham gia phiên hòa giải hay không, trừ trường hợp pháp luật quy định không được tiến hành hòa giải. Tự nguyện thỏa thuận nội dung hòa giải: Trong phiên hòa giải vụ án dân sự, các bên đương sự ngồi lại với nhau, cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để giải quyết các vấn đề trong vụ án. Tại đây, Tòa án chỉ tham gia với tư cách bên trung gian, giúp các đương sự hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ pháp luật liên quan, không được phép can thiệp vào nội dung các thỏa thuận của các đương sự, nếu các thỏa thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Nếu các đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết vụ án vì bị dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc phải thỏa thuận thì thỏa thuận này không phải là tự nguyện và không có ý nghĩa. Như vậy, nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự là rất quan trọng, không chỉ trong hòa giải vụ án dân sự mà còn trong hầu hết các quan hệ dân sự trong xã hội. Việc đảm bảo nguyên tắc hòa giải cũng chính là đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết vụ việc. Mọi thỏa thuận do có sự gian dối, ép buộc của đôi bên hoặc gây áp lực từ phía Tòa án đều sẽ khiến thỏa thuận hòa giải không được công nhận.3 Tòa án công nhận thỏa thuận của các đương sự khi thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện.