Chương 1. Những vấn đề chung về hòa giải tranh chấp đất đai và pháp luật hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại thành phố Lào Cai. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nhằm và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai trong thời gian tới.
6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 1. Một số vấn đề lý luận về hòa giải tranh chấp đất đai 1. Khái niệm, đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai * Khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai Từ xa xưa cho đến nay, đất đai luôn có vai trò và vị trí quan trọng đối với con người, góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… của mỗi quốc gia. Khi sự phát triển của sản xuất và đời sống xã hội ngày một thay đổi thì nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng phong phú và đa dạng hơn.
Xuất phát từ lợi ích của các giai tầng trong xã hội và dựa trên đòi hỏi của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Nhà nước sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ đất đai nhằm tạo lập một môi trường pháp lý lành mạnh cho hoạt động khai thác và sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả. Theo đó, quyền sử dụng đất (QSDĐ) của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức là một loại tài sản được pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Tuy nhiên, trong những năm qua ở nước ta, các tranh chấp về QSDĐ phát sinh trong đời sống ngày một nhiều hơn, đa dạng và rất phức tạp. Do vậy, việc đa dạng hóa các cơ chế pháp lý phù hợp nhằm giải quyết một cách mềm dẻo, có hiệu quả các tranh chấp, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam là hết sức cần thiết, một trong những cơ chế đó là giải quyết tranh chấp đất đai thông qua phương thức hòa giải.
Để có thể làm sáng rõ về hòa giải tranh chấp đất đai thì cũng cần phải nghiên cứu để nhận diện được bản chất và nội hàm của khái niệm này. Theo đó, các kết quả nghiên cứu lý luận cho thấy, tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội tồn tại phổ biến và xảy ra trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào. Theo nghĩa rộng thì tranh chấp đất đai là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai.
7 Về bản chất của hòa giải, theo từ điển tiếng Việt thì hòa giải là thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa. Khái niệm này đề cập đến hành động và mục đích của hòa giải nhưng chưa nêu được các yếu tố như bản chất, nội dung và chủ thể của hòa giải. Trong Từ điển luật học của Black, hòa giải (conciliation) là: Sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ. Việc giải quyết tranh chấp thông qua người trung gian hòa giải (bên trung lập); Từ điển Luật học của Pháp định nghĩa hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của người trung gian thứ ba (hòa giải viên để giúp đưa ra các đề nghị giải quyết một cách thân thiện; Về tranh chấp đất đai, theo giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2018 thì “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”.
Theo quy định tại Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai được hiểu là “tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Tranh chấp đất đai được hiểu là các tranh chấp liên quan đến QSDĐ, bao gồm: Tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ; Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ; thừa kế QSDĐ; thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị QSDĐ. Hiện nay theo pháp luật Việt Nam, hòa giải có hai hình thức: Hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng. Tuy nhiên từ việc nêu và phân tích những khái niệm trên về hòa giải, ta có thể khái quát được hòa giải về cơ bản có ba yếu tố: Thứ nhất, phải có tranh chấp giữa hai bên; Thứ hai, có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc nhượng bộ của mỗi bên; Thứ ba, trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập cho ý kiến tư vấn đồng thời công nhận thủ tục hòa giải thành giữa các bên trong tranh chấp.
Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba thì quá trình này không được gọi là hòa giải mà là thương lượng giữ các bên. 8 Từ phân tích trên và trong phạm vi của luận văn này, có thể định nghĩa: hòa giải tranh chấp đất đai là biện pháp pháp lý giải quyết các tranh chấp liên quan đến QSDĐ, theo đó bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian trong việc giúp các bên có tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp trong quan hệ đất đai hoặc tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến QSDĐ và thương lượng với nhau về việc giải quyết quyền lợi của mình. * Đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai Hòa giải luôn được coi là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp dân sự quan trọng và có hiệu quả. Ở Việt Nam, phương thức hòa giải đã được sử dụng, nhưng phạm vi và hiệu quả áp dụng còn ở mức khiêm tốn.
Đặc biệt hòa giải với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế dường như vẫn được coi là công việc riêng tư của các bên nên cho đến thời điểm hiện tại, hầu như chưa có văn bản nào quy định cụ thể, hướng dẫn chi tiết về quy trình, thủ tục, nội dung, hiệu lực của phương thức giải quyết tranh chấp này. Trong khi đó, ở nhiều quốc gia, về mặt lập pháp, hòa giải ngày càng được quan tâm thể chế hóa trên cả bình diện quốc gia, khu vực và quốc tế. Đây cũng là điều giải thích cho việc ra đời các trung tâm hòa giải, chẳng hạn như Trung tâm hòa giải Bắc Kinh để giải quyết các tranh chấp thương mại và hàng hải quốc tế… và các quy tắc hòa giải như Quy tắc hòa giải mẫu của UNCITRAL 2002, quy trình hòa giải không bắt buộc của Phòng Thương mại quốc tế tại London, Ủy ban quốc gia về thống nhất pháp luật Hoa Kỳ ban hành đạo luật Hòa giải thống nhất năm 2001. Gần đây nhất, Liên minh châu Âu đã ban hành Chỉ thị số 2008/52/EC về một số khía cạnh hòa giải các vụ việc dân sự, thương mại.
Ở nước ta, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định: “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”. Đây là chủ trương rất quan trọng làm cơ sở cho việc xây dựng các quy định pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế như hòa giải, trọng tài. Hầu hết với các nước phát triển thì hòa giải thì hòa giải được xem như là một giải pháp hiệu quả mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên trong bối cảnh ở 9 Việt Nam ta do chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan làm ảnh hưởng không ít đến đặc điểm hòa giải đó là: Hòa giải không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế, giảm thiểu gánh nặng của các cơ quan chức năng mà hòa giải còn mang tính chính trị sâu sắc.
Cụ thể hơn là thông qua việc hòa giải người tiến hành hòa giải và cơ quan tiến hành hòa giải có thể tuyên truyền và phổ biến các quy định pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước. Từ đó người dân nói chung và các bên tham gia tranh chấp nói riêng có thể nắm rõ các quy định pháp luật, đường lối, chủ trương của Đảng và nhà nước tiến tới chấp hành tốt các quy định của nhà nước góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Xác định tranh chấp đất đai là một dạng đặc biệt của tranh chấp dân sự, do đối tượng của tranh chấp đất đai là QSDĐ. Do vậy, bên cạnh những đặc điểm chung của hòa giải tranh chấp dân sự thì việc hòa giải tranh chấp đất đai còn những đặc trưng riêng như đối tượng của tranh chấp gắn liền với QSDĐ nên việc hòa giải thường phải do cơ sở hoặc tòa án nơi có tài sản tranh chấp tiến hành; Đối tượng của tranh chấp có thể trải qua nhiều biến động theo thời gian với chính sách pháp luật khác nhau, do vậy, nội dung của tranh chấp thường phức tạp đòi hỏi người tiến hành hòa giải phải nắm được thông tin, nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và chính sách pháp luật về đất đai trong từng thời kỳ lịch sử để từ đó đưa ra những quan điểm hòa giải phù hợp cho các bên.