phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục thì luận văn gồm có 3 chƣơng dƣới đây: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm việc đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ Chƣơng 2: Thực trạng công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp tổ chức các hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội trong những năm tới 13 n Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀCÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về công tác xã hội Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội. Sau đây là một số khái niệm về CTXH và nghề CTXH đƣợc rất nhiều các nhà nghiên cứu và những ngƣời thực hành CTXH trên thế giới sử dụng và tham khảo: Đối với Hiệp hội các quốc gia các nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW) đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ các cá nhân, các nhóm, hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy.” [14 ,40] Tại hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên công tác xã hội (IFSW) diễn ra vào tháng 7/2000, các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa về CTXH nhƣ sau: “Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu.
Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp và những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng là các nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp công tác xã hội”[14,43]. Ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH. CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cƣờng chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trƣờng xã hội về chính 14 n sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020: “CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ. Qua đó, CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội”. Theo TS Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề về xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Nhƣ vậy, có rất nhiều cách định nghĩa về CTXH, ta có thể tổng kết “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [13, 19] 1.
Khái niệm về nghèo Nghèo là một hiện tƣợng kinh tế mang tính chất xã hội toàn cầu. Nó không những tồn tại ở các nƣớc có nền kinh tế kém phát triển mà nó còn tồn tại ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định múc độ nghèo đồng thời đƣa ra các 15 n tiêu chí xác định nghèo khổ. Giới hạn nghèo đói của các nƣớc đƣợc xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để ngƣời dân có thể tồn tại đƣợc, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm đƣợc những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá cả hiện hành.
Theo Ngân hàng thế gới(WB): “ Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất ( được đo lường theo một khái niệm về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự thiếu thốn trong việc giáo dục và y tế ( Theo báo cáo phát triển Việt Nam 2000: Tấn công nghèo đói). Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc- Thái Lan 9/1993, đã đƣa ra khái niệm về nghèo đói nhƣ sau: “ Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Theo định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nƣớc khác nhau là khác nhau. Xác định giàu nghèo đói là một việc khó khăn vì nó gắn với từng thời điểm, từng quốc gia và đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Ở Việt Nam, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, gồm 2 tiêu chí là thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Khái niệm về phụ nữ đơn thân Về “phụ nữ đơn thân” đã có nhiều cách hiểu khác nhau: Theo tác giả Lê Thi: “Phụ nữ đơn thân là những phụ nữ chƣa kết hôn, đã từng kết hôn nhƣng vợ, chồng họ sống xa cách với rất nhiều lý do 16 n cụ thể khác nhau” [tr. Với cách tiếp cận nhƣ vậy, tác giả đã chia phụ nữ đơn thân thành hai nhóm chính: Phụ nữ đã kết hôn: là những ngƣời phụ nữ đã rơi vào tình trạng góa bụa, ly thân ,ly hôn hay thiếu vắng chồng trong một thời gian dài. Phụ nữ chƣa kết hôn: Là những ngƣời phụ nữ không lấy chồng hoặc không bao giờ lấy chồng.
Họ đƣợc chia thành hai nhóm : đó là và những ngƣời sống độc thân, không xây dựng gia đình, những ngƣời phụ nữ không lấy chồng nhƣng có con ngƣời giá thú hoặc nhận con nuôi Phụ nữ đơn thân đƣợc tác giả đề cập trong đề tài nghiên cứu này đƣợc hiểu là những ngƣời phụ nữ chƣa lấy chồng hay không muốn lấy chồng, những ngƣời phụ nữ góa bụa, ly thân hoặc bị chồng ruồng bỏ ly hôn. Họ có thể có con (hay con nuôi) hoặc không có con. Họ có thể sống một mình hay chung sống cùng con, gia đình, họ hàng [12]. Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu về nhóm phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ đang đƣợc hƣởng chế độ trợ cấp Bảo trợ xã hội.
Khái niệm công tác xã hội với phụ nữ nghèo đơn thân CTXH với PNNĐT là hoạt động giúp đỡ chuyên nghiệp của nhân viên CTXH nhằm hỗ trợ và tƣ vấn việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động ngồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ nhóm PNNĐT, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động tƣ vấn, hỗ trợ giúp họ một cách hiệu quả để họ vƣợt qua những rào cản và đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng của sự công bằng nhƣ mọi ngƣời trong xã hội. Mục đích của CTXH với PNNĐT là: Đánh giá, tìm hiểu mong muốn và nhu cầu về việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân, Tƣ vấn và giới 17 n thiệu việc làm , Kết nối các nguồn lực, Hỗ trợ tiếp cận các chính sách xã hội, Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ. Trợ giúp, khuyến khích, thúc đẩy và tăng cƣờng việc thực hiện các chức năng xã hội của cá nhân, nhóm, các tổ chức và các cộng đồng của nhóm PNNĐT; Tham gia vào việc hoạch định, xây dựng và thực thi các chính sách xã hội, các dịch vụ xã hội, các nguồn tài nguyên và các chƣơng trình để đáp ứng những nhu cầu của nhóm PNNĐT và hỗ trợ cho sự phát triển của họ; Theo đuổi những chính sách, dịch vụ, tài nguyên và chƣơng trìnhthông qua công tác biện hộ trong phạm vi cơ sở hay trong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành động chính trị để tăng quyền lực cho họ nhằm đảm bảo sự công bằng và sự tham gia đầy đủ của họ vào các hoạt động xã hội. Do vậy NVCTXH có vai trò trực tiếp là ngƣời thu thập thông tin, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, giám sát, đánh giá, lƣợng giá,…và vai trò gián tiếp là ngƣời tham vấn, tƣ vấn, ngƣời hoạch định chính sách, ngƣời nghiên cứu, quản lý, điều phối các hoạt động…thì NVCTXH cần hỗ trợ, phối hợp vận động các nguồn lực tài nguyên hỗ trợ họ, xây dựng các chƣơng trình, kế hoạch hành động giúp đỡ họ và cung cấp cho PNNĐT và ngƣời nhà họ các loại dịch vụ hỗ trợ để phát triển.
Khái niệm việc làm Việc làm là một nhu cầu cơ bản của con ngƣời để đảm bảo đáp ứng đầy đủ cuộc sống và sự phát triển toàn diện. Quyền lao động, đảm bảo việc làm cho ngƣời lao động đã và đang đƣợc khẳng định trong Hiến pháp nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã đƣợc cụ thể hoá trong Bộ luật Lao động đầu tiên ở nƣớc ta. Việc làm và giải quyết việc làm cho 18 n ngƣời lao động là một trong những mục tiêu ƣu tiên trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của nƣớc ta. Điều 13, Bộ Luật Lao Động Việt Nam định nghĩa khái niệm việc làm: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm.