Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ VAY VỐN NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV 1. Khái quát về DNNVV 1. Khái niệm DNNVV Theo Nghị định số 90/2001 NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ thì doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam được hiểu là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã được đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. “DNNVV là các đơn vị sản xuất, kinh doanh độc lập có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Điểm khác biệt giữa định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt nam với phần lớn các nước thành viên APEC và các nền kinh tế khác trên thế giới là trong định nghĩa chưa có sự phân biệt ngành nghề lĩnh vực kinh doanh. Tại các nền kinh tế khác nhau, ở từng giai đoạn phát triển kinh tế thì định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) thay đổi. Tại Hồng Kông, các DNNVV được định nghĩa như sau: Ngành Số nhân viên Sản xuất Dưới 100 Phi sản xuất Dưới 50 6 Bên cạnh đó, từ góc độ là bên cung cấp CSTD, các ngân hàng tại Hongkong còn đưa ra định nghĩa DNNVV thông qua việc sử dụng các thông số sau: Doanh thu hàng năm Mức độ tập trung tư bản Số lượng nhân viên Năng lực tín dụng Mỗi quốc gia, tuỳ theo điều kiện và trình độ phát triển, quy định mức độ đánh giá từng tiêu chí theo các quy mô doanh nghiệp khác nhau. Tại Thái Lan, khái niệm các DNNVV được đưa ra dựa trên việc xác định các tiêu chí một cách chi tiết và cụ thể hơn với sự tách biệt rõ ràng giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hai thông số quan trọng được sử dụng là số lượng nhân công và tài sản cố định. Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thái Lan Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lượng Tài sản Số lượng Tài sản nhân công (không tính nhân công (không tính đất) (triệu đất) (triệu bạt) bạt) Sản xuất dưới 50 dưới 50 51-200 50-200 CSTD dưới 50 dưới 50 51-200 50-200 Bán buôn dưới 25 dưới 50 26-50 50-200 Bán lẻ dưới 15 dưới 50 16-30 30-60 Nguồn: Kỷ yếu hội thảo (2006), Tăng cường hỗ trợ và hợp tác vì sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ APEC, Hà Nội. 7 Tại Đài Loan, tùy thuộc vào bản chất của từng ngành kinh doanh các cơ quan chính phủ có thể đưa ra định nghĩa về DNNVV dựa trên số lượng nhân viên thường xuyên: - Trường hợp các doanh nghiệp được phân loại trong ngành sản xuất, ngành xây dựng hoặc ngành khai thác mỏ, số lượng nhân viên thường xuyên dưới 200 người - Trường hợp các doanh nghiệp được phân loại trong các ngành dưới đây với số lượng nhân viên dưới 50 người: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi, ngành điện, nước và gas, ngành bán lẻ, bệnh viện, ngành giao thông và liên lạc, ngành tài chính và bảo hiểm, bất động sản và cho thuê, ngành CSTD công nghệ và khoa học, ngành CSTD giáo dục, ngành y tế và phúc lợi xã hội, ngành văn hóa thể thao và giải trí hoặc các ngành CSTD khác. Bên cạnh đó, theo Bộ Kinh tế Đài Loan, DNNVV được định nghĩa là những doanh nghiệp đăng ký với Bộ Kinh tế và đáp ứng các yêu cầu sau đây: - Doanh nghiệp trong ngành sản xuất, ngành xây dựng, hoặc ngành khai thác mỏ có vốn góp không quá 80 triệu Nhân dân tệ.
- Doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp ngư nghiệp và chăn nuôi, ngành điện, nước và gas, ngành bán lẻ, bệnh viện, ngành giao thông liên lạc, tài chính và bảo hiểm, bất động sản và cho thuê, ngành CSTD công nghệ và khoa học, ngành y tế và phúc lợi xã hội, ngành văn hóa thể thao và giải trí hoặc các ngành CSTD khác có doanh thu của Nhà nước không quá 100 triệu Nhân dân tệ. Cho đến nay, vẫn chưa có một tiêu chuẩn chung của quốc tế để phân loại DNNVV. Nhìn chung, việc phân định quy mô của DNNVV thường được dựa trên tiêu chí cơ bản là số lượng lao động, vốn hoặc tài sản và doanh thu. 8 Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (WB) và Công ty tài chính quốc tế (IFC), các doanh nghiệp được phân chia theo quy mô như sau: - Doanh nghiệp siêu nhỏ (Micro enterprise): Có đến 10 lao động, tổng số tài sản trị giá không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100.
- Doanh nghiệp nhỏ (Small enterprise): Có không quá 50 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 3 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3 triệu USD. - Doanh nghiệp vừa (Medium enterprise): Có không quá 300 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15 triệu USD. Tóm lại, tại các nền kinh tế trên thế giới việc định nghĩa doanh nghiệp ở qui mô nào được coi là DNNVV được xem xét trên góc độ của từng ngành và lĩnh vực khác nhau, với mục đích chung là tạo ra sự đồng đều tương đối. Qua đó tránh tình trạng các doanh nghiệp có cùng chỉ số (ví dụ như lao động) nhưng trên thực tế lại khác nhau quá lớn về phương thức quản lý và điều hành doanh nghiệp.
Việc sử dụng các chỉ số chung về vốn và lao động để định nghĩa các DNNVV tại Việt nam hiện nay có thể tạo ra trường hợp hai doanh nghiệp đều được phân loại là DNNVV, có số lao động trung bình hành năm như nhau (đều dưới 300 người) nhưng có số vốn đăng ký chênh lệch nhiều lần và cách thức quản trị doanh nghiệp khác xa nhau. Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển DNNVV thì khái niệm DNNVV lại được xem xét với mức độ cụ thể hơn: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định 9 trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể như sau: Bảng 1. Tiêu chí xác định DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển DNNVV. Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động động nguồn động nguồn vốn vốn I.
Nông, lâm nghiệp 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 và thủy sản trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 xây dựng trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 CSTD trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến 50 người tỷ đồng 100 người 1. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Các DNNVV đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và có vai trò quan trọng trong mạng sản xuất toàn cầu và chuỗi cung ứng hàng hóa và CSTD.
Các DNNVV có khả năng tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp; cung cấp cho xã hội khối lượng đáng kể hàng hóa và CSTD và làm tăng GDP cho nền kinh tế; tăng cường kỹ năng quản lý và đổi mới công nghệ; góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập trong xã hội, xóa đói nghèo; tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư của dân cư địa phương làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn; cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau. Mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế quốc gia 10 của DNNVV được thể hiện ở mức độ thu hút lao động, vốn đầu tư, tạo ra giá trị gia tăng trong nền kinh tế. Theo số liệu thống kê của các nước, tỉ trọng thu hút lao động tạo ra giá trị gia tăng của các DNNVV rất đáng kể. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay vai trò của các DNNVV được thể hiện ở các khía cạnh khác nhau.
Về khía cạnh kinh tế * Đóng góp vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần làm tăng GDP Cũng như DNNVV ở tất cả các nước, DNNVV ở Việt Nam cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hóa khác nhau đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước như trang thiết bị và linh kiện cần thiết cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp cũng như các hàng hóa tiêu dùng khác. Theo số liệu thống kê, trong những năm vừa qua DNNVV đã đóng góp từ 25%-28% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của cả nước. Ngoài ra, DNNVV Việt Nam còn cung cấp hầu hết sản phẩm trong nhiều ngành công nghiệp truyền thống thu hút nhiều lao động như giầy dép, chiếu cói,. Việc mở rộng và phát triển các DNNVV sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm tăng GDP.
* Thu hút vốn và khai thác các nguồn lực sẵn có trong dân cư Vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Vốn là yếu tố cơ bản để khai thác và phối hợp các yếu tố sản xuất khác như lao động, đất đai, công nghệ và quản lý để tạo ra lợi nhuận cho các chủ DNNVV. Vốn có vai trò to lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân cũng như trình độ quản lý của chủ DNNVV. Tuy nhiên, một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều DNNVV đang thiếu vốn trầm trọng thì vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhiều nhưng không huy động được.
Khi chính sách tài chính tín dụng của Chính 11 phủ và các ngân hàng chưa thực sự gây được niềm tin đối với những người có vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư thì nhiều DNNVV đã tiếp xúc trực tiếp với người dân và huy động được vốn để kinh doanh, hoặc bản thân chính người có tiền đứng ra đầu tư kinh doanh, thành lập DNNVV. Dưới khía cạnh đó, DNNVV có vai trò to lớn trong việc huy động vốn để phát triển kinh tế.