Đề án mở ngành đào tạo Kinh tế trình độ đại học - Đại học Kinh tế Nghệ An

Bài viết tổng hợp thông tin về chương trình mã ngành kinh tế, giải thích ý nghĩa từng mã số, các nhóm ngành đào tạo và gợi ý lựa chọn ngành học phù hợp với sở

Trường đại học

Đại Học Kinh Tế Nghệ An

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề án

2014

287
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chương trình mã ngành kinh tế 52310101

Chương trình đào tạo mã ngành kinh tế 52310101 thuộc hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Mã số này được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thống nhất cho ngành Kinh tế trình độ cử nhân. Chương trình đào tạo kéo dài bốn năm với tổng số tín chỉ dao động từ 130 đến 150 tín chỉ. Sinh viên được trang bị kiến thức nền tảng về kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, thống kê kinh tế và phân tích chính sách. Các môn học cốt lõi bao gồm nguyên lý kinh tế, toán cao cấp cho kinh tế, kế toán đại cương và tài chính tiền tệ. Chương trình được thiết kế theo hướng ứng dụng thực tiễn, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu kinh tế. Tốt nghiệp ngành này, sinh viên có khả năng phân tích, đánh giá và hoạch định các vấn đề kinh tế ở nhiều cấp độ khác nhau.

1.1. Mã ngành 52310101 và vị trí trong hệ thống đào tạo

Mã ngành 52310101 là định danh chính thức của ngành Kinh tế trong hệ thống mã ngành đào tạo quốc gia. Mã số này được quy định tại Danh mục giáo dục, đào tạo cấp độ ngành áp dụng cho hệ thống giáo dục đại học. Số 52 đầu mã chỉ nhóm ngành Kinh tế và Quản lý. Phần mã còn lại phân loại chi tiết từng chuyên ngành cụ thể. Việc mã hóa giúp quản lý thống nhất chương trình đào tạo trên toàn quốc, đảm bảo chất lượng và chuẩn đầu ra đồng bộ giữa các cơ sở giáo dục. Mã ngành này cũng là cơ sở để tuyển sinh, cấp bằng và công nhận văn bản.

1.2. Cơ sở đào tạo và yêu cầu mở ngành

Để mở ngành đào tạo mã 52310101, cơ sở giáo dục phải đáp ứng nhiều điều kiện nghiêm ngặt. Đội ngũ giảng viên cần có trình độ thạc sĩ trở lên, đạt tỷ lệ quy định theo từng bậc học. Cơ sở vật chất phải đảm bảo phòng học, thư viện, phòng máy tính và hệ thống học liệu đáp ứng chuẩn. Chương trình đào tạo phải được xây dựng theo khung chương trình khung do Bộ Giáo dục ban hành, có chỉnh sửa phù hợp đặc thù địa phương. Hồ sơ đề án mở ngành cần thuyết minh về nhu cầu nhân lực, năng lực đào tạo và kế hoạch phát triển dài hạn.

II. Phân tích nhu cầu nhân lực ngành kinh tế tại Việt Nam

Nhu cầu nguồn nhân lực ngành kinh tế tại Việt Nam đang gia tăng mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Vùng Bắc Trung Bộ gồm sáu tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế tập trung nhiều khu kinh tế lớn như Nghi Sơn, Vũng Áng và Đông Nam Nghệ An. Các khu công nghiệp này tạo ra nhu cầu lớn về nhân lực kinh tế có trình độ. Số liệu cho thấy tại Nghệ An, từ năm 2000 đến 2005 có tới 2788 doanh nghiệp thành lập mới, nâng tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh lên trên 3000 đơn vị. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực vẫn là điểm nghẽn lớn. Nhiều doanh nghiệp phải thuê chuyên gia nước ngoài do thiếu hụt nhân lực trong nước có trình độ cao. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và khả năng thu hút đầu tư của các địa phương.

2.1. Thực trạng thiếu hụt nhân lực kinh tế chất lượng cao

Thiếu hụt nhân lực kinh tế chất lượng cao là vấn đề nhức nhối tại nhiều địa phương. Tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp nhanh nhưng nguồn cung nhân sự không theo kịp. Theo đánh giá từ các hội nghị đầu tư quốc tế, nguồn nhân lực Việt Nam thiếu hụt cả về số lượng lẫn chất lượng để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp nước ngoài. Nguyên nhân chính bao gồm chương trình đào tạo chưa sát thực tế, thiếu cơ sở đào tạo uy tín và sự phân bố không đều giữa các vùng miền.

2.2. Vai trò của vùng Bắc Trung Bộ trong phát triển kinh tế

Vùng Bắc Trung Bộ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia. Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế văn hóa của vùng, được quy hoạch đồng bộ và đang trên đà phát triển mạnh. Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy là trung điểm hợp tác kinh tế với Lào và Thái Lan, mở ra cơ hội giao thương lớn. Các khu công nghiệp Hoàng Mai, Đông Hồi tạo việc làm cho hàng nghìn lao động. Sự phát triển này đòi hỏi nguồn nhân lực kinh tế dồi dào và chuyên nghiệp để vận hành hiệu quả hệ thống sản xuất kinh doanh.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ngành kinh tế

Nâng cao chất lượng đào tạo ngành kinh tế đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ từ phía cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý. Chương trình đào tạo cần được cập nhật thường xuyên theo yêu cầu thực tiễn thị trường lao động. Phương pháp giảng dạy nên chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực tư duy phân tích và giải quyết vấn đề cho sinh viên. Việc tăng cường hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp giúp sinh viên tiếp cận môi trường làm việc thực tế sớm hơn. Đội ngũ giảng viên cần được đào tạo nâng cao, tham gia nghiên cứu khoa học và cập nhật xu hướng kinh tế quốc tế. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo phải đạt chuẩn, bao gồm phòng thí nghiệm mô phỏng, thư viện số và hệ thống phần mềm phân tích kinh tế hiện đại.

3.1. Thiết kế chương trình đào tạo theo chuẩn năng lực

Thiết kế chương trình theo chuẩn năng lực là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng đào tạo ngành kinh tế. Chương trình cần xác định rõ chuẩn đầu ra cho từng học phần và toàn bộ khóa học. Kiến thức chung chiếm khoảng hai mươi phần trăm tổng chương trình, phần còn lại dành cho kiến thức chuyên ngành và thực hành. Phần kiến thức bổ trợ cho phép sinh viên lựa chọn tự do các môn liên quan đến nhiều ngành đào tạo khác nhau. Cách tiếp cận này giúp mở rộng năng lực hoạt động của sinh viên sau khi tốt nghiệp, tăng khả năng thích ứng với thị trường lao động biến động.

3.2. Đào tạo giảng viên và hợp tác doanh nghiệp

Đào tạo giảng viên là yếu tố quyết định chất lượng chương trình đào tạo ngành kinh tế. Giảng viên cần đạt trình độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ, có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực kinh tế. Nhà trường nên tổ chức các khóa bồi dưỡng phương pháp giảng dạy tiên tiến, khuyến khích giảng viên tham gia dự án nghiên cứu với doanh nghiệp. Hợp tác doanh nghiệp giúp xây dựng chương trình thực tập, kiến tập hiệu quả cho sinh viên. Doanh nghiệp cũng tham gia đánh giá chuẩn đầu ra, đảm bảo sinh viên tốt nghiệp đáp ứng yêu cầu công việc thực tế ngay từ ngày đầu đi làm.

IV. Kết luận và triển vọng ứng dụng mã ngành kinh tế 52310101

Chương trình đào tạo mã ngành kinh tế 52310101 đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho nền kinh tế. Sinh viên tốt nghiệp ngành này có thể làm việc tại nhiều vị trí khác nhau trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, tổ chức quốc tế và viện nghiên cứu. Các vị trí phổ biến bao gồm chuyên viên phân tích kinh tế, nhân viên tài chính ngân hàng, chuyên gia hoạch định chính sách và giảng viên kinh tế. Triển vọng việc làm rộng mở khi nền kinh tế Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu vào thị trường khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động, chương trình đào tạo cần liên tục đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và tăng cường kết nối với doanh nghiệp. Đầu tư vào chất lượng đào tạo ngành kinh tế là đầu tư vào tương lai phát triển bền vững của đất nước.

4.1. Cơ hội nghề nghiệp cho cử nhân kinh tế

Cử nhân tốt nghiệp ngành kinh tế mã 52310101 có cơ hội nghề nghiệp đa dạng và phong phú. Các vị trí việc làm phổ biến bao gồm chuyên viên phân tích thị trường, nhân viên tín dụng ngân hàng, chuyên viên kế toán tài chính và quản trị kinh doanh. Nhiều cử nhân kinh tế làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Kế hoạch Đầu tư, Cục Thống kê và Bộ Tài chính. Mức lương khởi điểm hấp dẫn, đặc biệt tại các thành phố lớn và khu kinh tế trọng điểm. Nhu cầu tuyển dụng nhân lực kinh tế luôn duy trì ở mức cao trong mọi giai đoạn phát triển kinh tế.

4.2. Định hướng phát triển chương trình đào tạo tương lai

Chương trình đào tạo ngành kinh tế cần định hướng phát triển theo hướng hiện đại hóa và quốc tế hóa. Nội dung đào tạo nên tích hợp thêm các môn học về kinh tế số, thương mại điện tử và phân tích dữ liệu kinh tế. Phương pháp giảng dạy cần ứng dụng công nghệ thông tin, mô phỏng tình huống kinh doanh thực tế. Hợp tác quốc tế giúp trao đổi giảng viên, sinh viên và cập nhật chương trình đào tạo tiên tiến từ các nước phát triển. Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất và chính sách hỗ trợ để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kinh tế toàn diện.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐỀ ÁN ĐĂNG KÝ MỞ NGÀNH ĐÀO TẠO - Tên ngành: Kinh tế - Mã số: 52310101 - Tên cơ sở đào tạo: Đại học Kinh tế Nghệ An - Trình độ đào tạo: Đại học PHẦN 1 SỰ CẦN THIẾT MỞ NGÀNH ĐÀO TẠO Trường Đại học Kinh tế Nghệ An có trụ sở chính tại phường Hà Huy Tập, cơ sở 2 tại xã Nghi Kim thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, là Trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ, là thành phố đã được quy hoạch đồng bộ và đang trên đà phát triển. Vùng Bắc Trung bộ gồm 6 tỉnh: Thanh hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Nơi đây tập trung nhiều khu kinh tế lớn như: Khu kinh tế Nghi Sơn, Vũng Áng, khu kinh tế Đông Nam Nghệ An, Khu công nghiệp Hoàng Mai, Khu công nghiệp Đông Hồi, Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy làm trung điểm hợp tác kinh tế với Lào và Thái Lan. Hơn nữa, trong những năm qua các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Nghệ An có tốc độ tăng bình quân hàng năm từ 1,5 đến 2 lần so với trước khi chưa có Luật doanh nghiệp. Trong 8 năm (1991 - 1999) chỉ có 328 doanh nghiệp đăng kí thành lập. Đầu năm 2000 Luật Doanh nghiệp bắt đầu có hiệu lực thì trong 5 năm (2000 - 2005) có tới 2788 doanh nghiệp thành lập mới. Đến nay, trong toàn tỉnh có trên 3.000 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đó trên 96% các doanh nghiệp đang hoạt động. Tiềm năng kinh tế của vùng Bắc Trung Bộ và Nghệ An là như vậy, nhưng đây là vùng đất còn nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là chất lượng nguồn nhân lực. Ngay từ đầu năm 2007, những tín hiệu khả quan về tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ đầu tư trong và ngoài nước, hàng loạt doanh nghiệp mới ra đời và mở rộng quy mô sản xuất đã tạo ra “cơn sốt” thiếu hụt nguồn lao động. Trong tình hình hội nhập, có nhiều biến động và chuyển động mạnh mẽ, công tác quản lý, đánh giá, hoạch định chính sách kinh tế ở các bộ, ngành, các tổ chức, tập đoàn kinh tế hiện nay luôn đòi hỏi phải đánh giá một cách đúng đắn, chính xác; điều này đồng nghĩa với việc các bộ, ngành… rất cần những chuyên gia kinh tế có trình độ, nắm vững những kiến thức cơ bản, hiện đại về kinh tế, có năng lực phân tích, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề chuyên môn về kinh tế trên giác 1 độ lý luận cũng như thực tiễn. Nhìn trên diện rộng, mọi xã hội đều có nhu cầu rất cao đối với cán bộ ngành kinh tế. Trong hội nghị APEC vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có dịp gặp gỡ với các nhà đầu tư nước ngoài, theo đó nguồn nhân lực của Việt Nam được đánh giá là thiếu hụt trầm trọng cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài. Vì thế, nếu không giải quyết tốt, sự thiếu hụt đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế nói chung và tiến độ đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất của các doanh nghiệp nói riêng. Để khắc phục sự hụt hẫng nguồn nhân lực, đã có không ít doanh nghiệp buộc phải thuê chuyên gia kinh tế nước ngoài có trình độ cao và thích nghi môi trường cạnh tranh cao. Ở các nước có nền kinh tế thị trường, một số ngành lớn trong lĩnh vực kinh tế đào tạo cán bộ cho xã hội là ngành kinh tế; quản trị kinh doanh; Tài chính- ngân hàng; kế toán kiểm toán. Các cử nhân của ngành kinh tế đều được cho là có nhu cầu lớn bởi các cơ quan hoạch định chính sách và phân tích kinh tế. Họ thường được tuyển dụng vào các cơ quan của Chính phủ, các Bộ, các địa phương và các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế như: tài chính, ngân hàng… và tương đương. Chương trình đào tạo ngành kinh tế bao gồm rất nhiều lĩnh vực như kinh tế quốc tế, kinh tế mội trường, tài chính, kế toán, kinh tế nguồn nhân lực, kinh tế công cộng, kinh tế phát triển, kinh tế đầu tư, kinh tế các ngành,… Các học viên tốt nghiệp ngành kinh tế sẽ rất quan tâm đến việc ứng dụng nó trong một lĩnh vực cụ thể nào đó. Những học viên đó có thể sử dụng những kiến thức về mối quan hệ kinh tế để tư vấn cho các DN cũng như các tổ chức khác, bao gồm các công ty bảo hiểm, ngân hàng, các công ty chứng khoán, các công ty tư vấn quản lý, các công ty nghiên cứu, các hiệp hội thương mại và công nghiệp hay các các cơ quan của chính phủ,… Với mục tiêu, đề án nâng Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An thành trường Đại học Kinh tế Nghệ An đã được phê duyệt theo Quyết định số 205/QĐ-TTg ngày 27/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, căn cứ vào dự kiến qui mô, cơ cấu ngành nghề đào tạo trong giai đoạn 2014-2018, nhà trường sẽ tổ chức đào tạo trình độ đại học ở 04 chuyên ngành kinh tế: Kế toán - Kiểm toán, Quản trị kinh doanh, Kinh tế, Tài chính – Ngân hàng. Đây là những chuyên ngành nhà trường đang đào tạo ở bậc Cao đẳng hệ chính quy và đã nhiều năm liên kết với trường Đại học Tài chính Hà Nội (nay là Học viện Tài chính), trường Đại học Thương mại và Đại học Huế đào tạo ở trình độ đại học đã đáp ứng đội ngũ nguồn nhân lực cho Nghệ An và các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ như: Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế,.và nước bạn Lào. Trường không ngừng phát triển cả về cơ cấu ngành nghề, quy mô và chất lượng đào tạo, trở thành địa chỉ tin cậy về đào tạo cán bộ quản lý kinh tế - 2 tài chính cho Nghệ An và các tỉnh Bắc Miền trung. Như vậy, với 4 chuyên ngành này nhà trường đã và sẽ có đủ chương trình, giáo trình và kinh nghiệm giảng dạy ở bậc đại học. Theo số liệu thống kê, cả nước có gần 400 trường đại học và cao đẳng trong đó có rất nhiều trường có đào tạo chuyên ngành liên quan đến kinh tế. Đại học kinh tế Nghệ An là một trường đại học mới nhưng đã có bề dày gần 60 năm đào tạo hàng ngàn cán bộ kinh tế ở hệ trung học và cao đẳng, vì thế khi được nâng cấp lên đại học, tận dụng và phát huy thế mạnh của mình với mục tiêu là đào tạo các cử nhân kinh tế phục vụ cho công tác hoạch định chiến lược kinh tế phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc mở ngành đào tạo này là hết sức cần thiết. 3 PHẦN 2 NĂNG LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO 1. Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý Tính đến 01/03/2014 tổng số cán bộ, giảng viên, công nhân viên là 208 người, trong đó số cán bộ giảng dạy là 161 người, cán bộ quản lý và phục vụ là 47 người. Trình độ Đại học 46,0%, Thạc sỹ 49,7%, Tiến sỹ 4,3%. Đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường đủ khả năng đảm nhận 100% khối lượng của chương trunh đào tạo. Đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn học/học phần của ngành kinh tế Đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn học/học phần của ngành kinh tế bao gồm 48 giảng viên và 1 giảng viên chính, trong đó trình độ Đại học 11 người (chiếm 22%); Thạc sỹ 37 người (chiếm 76%) và tiến sỹ 1 người (chiếm 2%). Đội ngũ giảng viên đủ điều kiện để mở ngành đào tạo Kinh tế theo quy định tại Thông tư 08/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Chi tiết tại bảng 1) Bảng 1: Danh sách giảng viên cơ hữu tham gia giảng dạy các môn học/học phần ngành Kinh tế Họ và tên, năm sinh, Chức Học vị, nước, Ngành, Học phần/môn học, TT danh năm tốt nghiệp chuyên số tín chỉ/ĐVHT dự chức vụ hiện tại KH ngành kiến đảm nhiệm năm 1 Hoàng Nam Hưng_1981 Thạc sỹ, 2013, Lịch sử Đường lối cách mạng Việt Nam của ĐCSVN 2 Trần Thị Bình_1977 Thạc sỹ, 2011, Triết học Lịch sử học thuyết Việt Nam kinh tế 3 Nguyễn Quốc Sơn_1978 Thạc sỹ, 2010, Chính trị Tư tưởng Hồ Chí Việt Nam học Minh 4 Nguyễn Thị Kim Dung_1979 Thạc sỹ, 2013, LL và Những nguyên lý cơ Việt Nam PPDH GD bản của CNMLN II chính trị 5 Nguyễn Thị Lam_1985 Thạc sỹ, 2013, Triết học Những nguyên lý cơ Việt Nam bản của CNMLN I 6 Nguyễn Thị Bích Thủy_1965 Thạc sỹ, 2014, Tiếng Anh Tiếng anh 1 Trưởng khoa cơ sở cơ bản Việt Nam 7 Ngụy Vân Thùy_1976 Thạc sỹ, 2010, Tiếng Anh Tiếng anh 2 Phó bộ môn Tiếng Anh Việt Nam 4 8 Nguyễn Thị Hoài Ly_1983 Thạc sỹ, 2010, Tiếng Anh Tiếng Anh 3 Việt Nam 9 Nguyễn Thị Hà_1980 Thạc sỹ, 2005 Toán Toán cao cấp Trưởng bộ môn toán Việt Nam 10 Bùi Thị Thanh_1980 Thạc sỹ, 2005 Xác suất Lý thuyết xác suất và Việt Nam TK-toán thống kê 11 Châu Thị Loan_1980 Thạc sỹ, 2006 Toán Toán kinh tế Việt Nam 12 Trần Thị vân Diên_1980 Thạc sỹ, 2013 Hành chính Văn bản trong quản lý Việt Nam công 13 Đào Nha Trang_1982 Thạc sỹ, 2011 Công nghệ Tin học đại cương Phó bộ môn Tin học Việt Nam Thông tin 14 Trần Thị Thu Hà_1977 Thạc sỹ, 2011 Luật kinh Pháp luật đại cương Phó bộ môn Luật Việt Nam tế - Quốc tế 15 Phan Thanh Bình_1979 Thạc sỹ, 2008 Luật kinh Luật kinh tế Trưởng bộ môn Luật Việt Nam tế 16 Nguyễn Thị Hải Hậu_1979 Thạc sỹ, 2006 Giáo dục Giáo dục thể chất Phó bộ môn Thể dục Việt Nam thể chất 17 Hồ chí Quý_1987 Cử nhân, 2010 Thể chất – Giáo dục quốc phòng Việt Nam GDQP 18 Nguyễn Thanh Mai, 1960 Tiến sỹ, 2001 Kinh tế Phương pháp Việt Nam nghiên cứu kinh tế 19 Nguyễn Thị Ngọc Dung_1959 Thạc sỹ, 2005 Kinh tế Kinh tế vi mô 1 Trưởng khoa Quản trị KD Việt Nam 20 Đặng Thị Thảo_1980 Thạc sỹ, 2012 Quản trị Quản trị học đại Phó khoa Quản trị KD Việt Nam (NCS) K.Doanh cương 21 Lê Thị Xuân_1977 Thạc sỹ, 2006 Kinh tế Phân tích chính sách Trưởng bộ môn Kinh tế Việt Nam kinh tế xã hội 22 Nguyễn Lan Anh_1983 Thạc sỹ, 2009 Quản trị Văn hoá kinh doanh Phó bộ môn Quản trị KD Việt Nam (NCS) K.Doanh 23 Hồ Thị Hiền_1981 Thạc sỹ, 2012 Kinh tế Kinh tế đầu tư Phó bộ môn Kinh tế Việt Nam 24 Hồ Hoàng Lương_1983 Thạc sỹ, 2011 Quản trị Kinh tế quốc tế Việt Nam K.Doanh 5 25 Lê Thị Hồng Ngọc_1981 Thạc sỹ, 2009 Quản trị Marketing căn bản Việt Nam K.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ