Hoạt Động Công Tác Xã Hội Hỗ Trợ Trẻ Em Khuyết Tật Vận Động Tại Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động tại quận hai bà trưng thành phố, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Công Tác Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2020

96
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hỗ Trợ Trẻ Em Khuyết Tật Vận Động Tại Quận Hai Bà Trưng

Hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động là một vấn đề quan trọng trong công tác xã hội tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Với tỷ lệ trẻ em khuyết tật ngày càng gia tăng, việc xây dựng các chương trình hỗ trợ hiệu quả là cần thiết. Các chính sách của nhà nước đã được triển khai nhằm cải thiện đời sống cho trẻ em khuyết tật, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết.

1.1. Đặc Điểm Của Trẻ Em Khuyết Tật Vận Động

Trẻ em khuyết tật vận động thường gặp khó khăn trong việc tham gia các hoạt động xã hội. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của các em cần được hiểu rõ để có phương pháp hỗ trợ phù hợp.

1.2. Tình Hình Hỗ Trợ Trẻ Em Khuyết Tật Tại Quận

Tại quận Hai Bà Trưng, nhiều chương trình hỗ trợ đã được triển khai, nhưng hiệu quả chưa cao. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Hỗ Trợ Trẻ Em Khuyết Tật Vận Động

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức. Các rào cản xã hội, sự thiếu hiểu biết của cộng đồng và nguồn lực hạn chế là những yếu tố cản trở quá trình hỗ trợ.

2.1. Rào Cản Xã Hội Đối Với Trẻ Em Khuyết Tật

Sự kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn còn tồn tại, khiến trẻ em khuyết tật gặp khó khăn trong việc hòa nhập cộng đồng. Cần có các hoạt động tuyên truyền để nâng cao nhận thức.

2.2. Thiếu Hụt Nguồn Lực Hỗ Trợ

Nhiều gia đình không đủ khả năng tài chính để chăm sóc và hỗ trợ trẻ em khuyết tật. Việc thiếu hụt nguồn lực từ chính quyền và các tổ chức xã hội cũng là một thách thức lớn.

III. Phương Pháp Hỗ Trợ Trẻ Em Khuyết Tật Vận Động Hiệu Quả

Để nâng cao hiệu quả hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động, cần áp dụng các phương pháp can thiệp xã hội phù hợp. Các chương trình giáo dục, phục hồi chức năng và tư vấn tâm lý là những giải pháp quan trọng.

3.1. Chương Trình Giáo Dục Đặc Biệt

Giáo dục đặc biệt giúp trẻ em khuyết tật phát triển kỹ năng và tự tin hơn trong cuộc sống. Cần có các chương trình giáo dục hòa nhập để trẻ em có thể học tập cùng bạn bè.

3.2. Tư Vấn Tâm Lý Và Hỗ Trợ Gia Đình

Tư vấn tâm lý cho trẻ em và gia đình giúp cải thiện tình trạng tâm lý của trẻ. Gia đình cũng cần được hỗ trợ để có thể chăm sóc tốt hơn cho trẻ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Hoạt Động Hỗ Trợ

Các hoạt động hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, cần tiếp tục đánh giá và cải thiện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của trẻ em.

4.1. Kết Quả Từ Các Chương Trình Hỗ Trợ

Nhiều trẻ em đã có sự tiến bộ rõ rệt trong việc hòa nhập xã hội và phát triển kỹ năng. Các chương trình hỗ trợ cần được duy trì và mở rộng.

4.2. Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Hỗ Trợ

Cần có các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các chương trình hỗ trợ để điều chỉnh và cải thiện các hoạt động trong tương lai.

V. Kết Luận Về Hỗ Trợ Trẻ Em Khuyết Tật Vận Động Tại Quận Hai Bà Trưng

Hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần có sự chung tay của toàn xã hội để cải thiện đời sống cho trẻ em khuyết tật và giúp các em hòa nhập cộng đồng.

5.1. Tương Lai Của Hoạt Động Hỗ Trợ

Trong tương lai, cần tiếp tục phát triển các chương trình hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề này.

5.2. Khuyến Khích Sự Tham Gia Của Cộng Đồng

Cộng đồng cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động hỗ trợ trẻ em khuyết tật, từ đó tạo ra một môi trường thân thiện và hòa nhập hơn.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động tại quận hai bà trưng thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề Lý luận về hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động Chƣơng 2: Hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động và các yếu tố ảnh hƣởng tại quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động tại quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội. 12 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 1. Một số khái niệm có liên quan 1.

Khái niệm khuyết tật Định nghĩa về khuyết tật theo cuốn Từ điển Tiếng Việt: từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu một bộ phận, một phần. Từ “tật” có nghĩa là có “điều gì đó không đƣợc bình thƣờng, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc. Còn ở ngƣời là sự bất thƣờng, nói chung không thể chữa đƣợc, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra” Định nghĩa này chỉ ra rằng khuyết tật là khiếm khuyết thực thể ở một bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết về chức năng của một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể và khiếm khuyết đó có thể ảnh hƣởng nghiêm trọng đến cuộc sống. Hiện nay, trong các văn bản pháp quy cụm từ “khuyết tật” dần đƣợc sử dụng thay cho cụm từ “tàn tật” bởi sử dụng hai từ “khuyết tật” nghe nhẹ nhàng hơn, mang ý nghĩa nhân văn hơn hai từ “tàn tật”.Từ “khuyết” mang ý nghĩa chỉ suy giảm một chức năng nào đó, còn các chức năng khác vẫn hoạt động bình thƣờng.

Theo Điều 3 Luật NKT Việt Nam: Có 6 nhóm khuyết tật [14] Khuyết tật vận động: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. Khuyết tật nghe, nói: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. Khuyết tật nhìn: Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trƣờng bình thƣờng. Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với lời nói, hành động bất thƣờng.

13 Khuyết tật trí tuệ: Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tƣ duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tƣợng, giải quyết sự việc. Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trƣờng hợp đƣợc quy định ở trên. Cũng theo Điều 3 Luật NKT quy định mức độ khuyết tật nhƣ sau: Người khuyết tật đặc biệt nặng: là do khuyết tật không thể thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Người khuyết tật nặng: là ngƣời khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

Người khuyết tật nhẹ: là ngƣời khuyết tật không quy định ở hai nội dung trên và ngƣời khuyết tật nhẹ chỉ cần sự trợ giúp nhỏ. Khái niệm trẻ em Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hiệp quốc nhƣ Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là ngƣời dƣới 15 tuổi. Công ƣớc Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ƣớc này, trẻ em có nghĩa là dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi sớm hơn”. Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi vận dụng khái niệm trẻ em theo Luật Trẻ em vừa đƣợc kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 5/4/2016 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2017.

Tại điều 1 của Luật trẻ định nghĩa rằng “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” (Luật trẻ em, 2016). Khái niệm trẻ em khuyết tật và trẻ em khuyết tật vận động *Khái niệm trẻ em khuyết tật Trẻ em khuyết tật là những trẻ em bị tổn thƣơng về cơ thể hoặc rối loạn 14 các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động học tập, vui chơi và lao động. *Khái niệm trẻ em khuyết tật vận động Khuyết tật vận động là một trong những dạng khuyết tật rất phổ biến. Đó là tình trạng giảm hoặc mất chức năng đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.

Trẻ em khuyết tật vận động là những trẻ em do các nguyên nhân khác nhau gây ra sự tổn thất các chức năng vận động làm cản trở đến việc di chuyển, sinh hoạt và học tập… Trẻ em khuyết tật vận động gồm có hai dạng: Một là trẻ em khuyết tật vận động do chấn thƣơng nhẹ hay do bệnh bại liệt gây ra làm què, cụt, khèo, liệt chân, tay. Hai là trẻ em khuyết tật vận động do tổn thƣơng trung khu vận động não bộ. Đối với dạng thứ nhất thì những trẻ em này vẫn có một bộ máy sinh học bình thƣờng làm cơ sở vật chất thực hiện hoạt động nhận thức. Nói cách khác, khi trẻ có khiếm khuyết đơn thuần về vận động thì trẻ hoàn toàn có khả năng nhận thức nhƣ những trẻ bình thƣờng khác.

Tuy nhiên, sự phát triển hoạt động nhận thức của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tham gia các hoạt động trong môi trƣờng xung quanh. Trẻ khuyết tật vận động khó đạt đƣợc trình độ nhận thức cũng nhƣ những trải nghiệm nhƣ mọi trẻ bình thƣờng khác. Chẳng hạn, trẻ không thể có cảm giác mỏi chân nếu trẻ bại liệt đôi chân không thể đi đƣợc, không thể leo trèo đƣợc thì khó có cảm giác về độ cao và kĩ năng lấy thăng bằng của cơ thể, không có cảm giác về sức đẩy của nƣớc nếu không đƣợc ngâm mình trong nƣớc… Đối với dạng thứ hai thì sự tổn thƣơng về não bộ gây rất nhiều cản trở cho hoạt động nhận thức của trẻ, thậm chí là trình độ nhận thức ở mức độ nặng. Hoạt động nhận thức của loại trẻ này cũng có những hạn chế tƣơng tự 15 nhƣ trẻ chậm phát triển trí tuệ và còn bị ảnh hƣởng thêm của khuyết tật vận động.

Song cũng cần lƣu ý những trƣờng hợp khuyết tật vận động do bại não gây nên thì hoạt động nhận thức của trẻ hầu nhƣ không bị ảnh hƣởng song trẻ khó có thể biểu đạt đƣợc suy nghĩ, hành động, lời nói một cách bình thƣờng do sự cản trở của khuyết tật vận động. Đặc điểm tâm lý của trẻ em khuyết tật vận động Trẻ em khuyết tật vận động dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng. Ngoài ra TKTVĐ thƣờng có tâm lý mặc cảm tự ti. Luôn cho rằng số phận mình không đƣợc may mắn, là gánh nặng cho ngƣời thân, gia đình.

Do đó họ thƣờng sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi ngƣời. Trong quá trình tƣơng tác với ngƣời khác trong gia đình, cộng đồng họ thƣờng có cảm xúc buồn, thất vọng và hay tự ái. Nếu sống trong những gia đình khó khăn thƣờng NKT có cảm giác bị bỏ rơi. - Biểu hiện qua nhận thức: Trẻ em khuyết tật vận động cho rằng mình mình bị ngƣời khác coi thƣờng, thiếu tôn trọng, không thừa nhận họ, nhận thức bị bóp méo, xuyên tạc, không phản ánh hiện thực khách quan.

Trẻ em khuyết tật vận động thấy mình là nạn nhân của các dịch vụ không thể tiếp cận đƣợc, của sự phân biệt hơn là làm chủ bản thân và ít khi quyết định đƣợc vận mệnh của mình. Trẻ em khuyết tật vận động có mặc cảm không nhận thức đƣợc nhu cầu đích thực của mình là gì, không biết mình thực sự là ai, nhìn mình và ngƣời khác có chiều hƣớng tiêu cực. Mọi tình huống trong xã hội, họ bị cản trở về đi lại nên cảm thấy mình thua thiệt, bất hạnh và cô đơn. - Biểu hiện qua xúc cảm: Tình cảm luôn cảm thấy mình thua thiệt và bất hạnh, luôn cảm giác mình là gánh nặng của gia đình và xã hội, có những dự đoán bi quan và luôn sống 16 trong sợ hãi.

Khi có những khó khăn trong việc đi lại, tiếp cận giao thông hay công trình công cộng đều có tƣ tƣởng đổ lỗi hoặc đi từ cảm xúc oán trách này đến oán trách khác. - Biểu hiện qua hành vi Không phát huy khả năng của bản thân, có thể dẫn đến hủy hoại bản thân, ngại giao tiếp, chỉ thích ngồi, ngại đi lại, sợ đám đông, trong mối quan hệ xã hội thấy rõ sự thua kém. Khi ở trong hoàn cảnh khó khăn, các em thƣờng có những phản ứng nhƣ: Thƣờng ở trong tâm trạng lo lắng, sợ hãi; Thƣờng tự ti, mặc cảm, né tránh giao tiếp khiến trẻ khuyết tật khó tạo lập quan hệ xã hội; Hay nhớ lại những sự kiện bạo lực, những hình ảnh xấu; Dễ có giá trị, suy nghĩ, hay nhận định sai lệch; Dễ có những hành vi chống đối nhƣ ăn cắp, lừa dối. và cho đó là cách thức để tồn tại; Thƣờng hay cáu giận, bực tức; Khó khăn trong hoà nhập với môi trƣờng xung quanh; Dễ có xung đọt với bố mẹ, anh chị em, ông bà… trong gia đình hay có cảm giác cô đơn, bị mọi ngƣời xa lánh; Dễ có nghi ngờ những ngƣời xung quanh; Tinh thần bị suy sụp do mất mát, tổn thƣơng trẻ phải trải qua.

Nhu cầu của trẻ em khuyết tật vận động Mọi trẻ em sinh ra và lớn lên trong xã hội loài ngƣời đều có những nhu cầu cơ bản về cơ thể, sự an toàn (Bậc thang nhu cầu cơ bản của Maslow) và những khả năng nhất định (thuyết đa năng lực của Gardner). TEKT cũng có nhu cầu cơ bản và khả năng nhất định. Tuy ở những mức độ khác nhau so với trẻ em bình thƣờng, đầu tiên có thể kể đến những nhu cầu cơ bản: Nhu cầu cơ 17 thể ( ăn, uống, ngủ…), nhu cầu cảm giác an toàn, nhu cầu cảm giác tiếp xúc, nhu cầu về đồ vật… đƣợc thể hiện bằng tiếng khóc, tiếng bập bẹ, tiếng cƣời, ánh mắt, cử động của cơ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hỗ Trợ Trẻ Em Khuyết Tật Vận Động Tại Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chính sách và chương trình hỗ trợ dành cho trẻ em khuyết tật vận động tại khu vực này. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường hòa nhập và hỗ trợ cho trẻ em khuyết tật, giúp họ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin về các dịch vụ, hoạt động và nguồn lực có sẵn, từ đó nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chính sách xã hội liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thực hiện chính sách người có công trên địa bàn tỉnh đắk lắk, nơi đề cập đến các chính sách hỗ trợ cho những người có công. Ngoài ra, tài liệu Luận văn giải pháp giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận đa chiều trên địa tại xã lương phú huyện phú bình tỉnh thái nguyên cũng cung cấp những giải pháp thiết thực cho việc cải thiện đời sống của các nhóm yếu thế trong xã hội. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về trợ giúp xã hội cho người dân tộc thiểu số ở việt nam hiện nay, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách trợ giúp xã hội cho các nhóm dân tộc thiểu số, từ đó có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề xã hội hiện nay.