CHƯƠNG 1 KHÁI QUAT CHUNG VE TRONG TÀI THƯƠNG MẠI VA SỰ HỖ TRỢ CUA CÁC CƠ QUAN THUC HIỆN QUYEN TƯ PHÁP BOI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1. Khái quát chung về Trọng tài thương mại 1. Khái niệm trọng tài thương mại Với lịch sử phát triển lâu dài như vậy, trong khoa học pháp lý, trọng tài nói chung và trọng tài thương mại nói riêng cũng được cũng được nghiên cứu dưới những bình diện khác nhau mà cũng chính vì vậy mà có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm trong tai. Theo cuốn “Đại từ điển kinh tế thị trường”: “Trọng tài là một phương thức giải quyết một cách hòa bình các vụ tranh chấp.
Là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc, những van đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư cách công bằng chính trực xét xử, lời phán quyết do người này LẠ * XN A | 254 2 kệ ^ Di đưa ra có hiệu lực ràng buộc với cả hai bên Theo Hội đồng trọng tài My (AAA- American Arbitration Association): “Trọng tai là cách thức giải quyết tranh chấp bang cách đệ trình vụ tranh chấp cho một hoặc một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành ” Theo Từ điển ngoại thương: “Phương thức giải quyết tranh chấp băng cách đưa van đề tranh chấp ra trước một người thứ ba dé người này xét xử và quyết định trong trường hợp hai bên tranh chấp không thể giàn xếp với nhau : Nguyễn Hữu Quỳnh (chủ biên, 1998), Dai từ điển kinh tế thị trường, Viện Nghiên cứu và Phổ biến tri thức bách khoa, Hà Nội, tr. x ‘ : Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ, Hướng dẫn trọng tài thương mại, tr. bằng cách thương lượng mà không muốn đưa vụ tranh chấp ra xét xử trước 99 3 pháp luật” ”. Luật mẫu UNCITRAL quy định: “Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tô chức Trọng tài thường trực”” (Điều 2) Tại Việt Nam, trọng tài theo đúng nghĩa là một phương thức giải quyết tranh chấp chi ra đời từ năm 1993 trên cơ sở Quyết định số 204-TTg củ thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993 về việc thành lập trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC).
Khái niệm về Trọng tài có 1 số thay đổi nhất định qua từng thời kỳ .Theo Nghị định 116/CP ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế thì "Trọng tài kinh tế là tổ chức xã hội - nghề nghiệp có thâm quyền giải quyết các tranh chấp về họp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau, liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; các tranh chấp có liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu". Tuy nhiên, trong tài thương mại còn cụ thé và chi tiết hơn trọng tài kinh tế vì hoạt động thương mại chỉ là một phần của hoạt động kinh tế. Hiểu một cách ngắn gọn thì trọng tài thương mại trước hết phải là một trong những hình thức trọng tài, chức năng của trọng tài thương mại là giải quyết các tranh chấp thương mại. Cho đến khi Pháp lệnh trọng tài thương mại của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 08/2003 ra đời thì khái niệm tương đối đầy đủ về trọng tài thương mại như sau: "Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp lệnh này quy định” (điều 2 khoản 1 Pháp lệnh) Như vậy, khái niệm “thương mại” đã được hiểu theo nghĩa rộng theo đúng tinh thần của Luật mẫu về Trọng tài thương mại Quốc tế của Ủy ban Pháp luật Thương mại Quốc tế Liên h Trường Đại học Ngoại thương (1985), Từ điển ngoại thương, Hà Nội, tr.
8 oS 3 - 3Ã sd Q3 Luật mẫu vê trọng tài thương mại quôc tê của Uy ban Liên hợp quôc về Luật thương mại quôc tê UNCITRAL (1985) hợp quốc (Luật Mẫu UNCITRAL). Việc đưa ra định nghĩa khái niệm thương mại là bước đột phá lớn thể hiện tính tiên phong trong công tác lập pháp vào thời điểm đó. Kế thừa quan điểm tiến bộ của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, Khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 (Luật Trọng tài Thương mại) đã mở rộng thầm quyền của trọng tài tại Điều 2, 3 Luật Trọng tai Thương mai 2010 và đưa khái niệm trọng tài thương mại “là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này.” Như vậy, Trọng tài thương mại được hiểu dưới nhiều cách khác nhau nhưng chung quy lại có thé được nhìn nhận với tư cách 1a: (i) Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại; (ii) Trọng tài là một cơ quan giải quyết tranh chấp có thẩm quyền dé giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo yêu cầu của các bên tranh chấp. Đặc điểm của trọng tài thương mại Thứ nhất, trọng tài thương mại là một phương thức để giải quyết tranh chấp Với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại, trọng tài có những đặc trưng cơ bản sau: Một là, trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba - một Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất.
Trọng tài do chính các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Trọng tài là người hoàn toàn độc lập với các bên, đứng giữa để giải quyết tranh chấp, đưa ra các phán quyết bắt buộc để bảo vệ quyên và lợi ích của các bên. Hai là, Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp đảm bảo tối đa quyền tự do thỏa thuận của các bên. Mọi tranh chấp được đưa ra giải quyết bằng trọng tài đều dựa trên yếu tố thỏa thuận.
Các bên có thể tự do thỏa thuận về việc lựa chọn trung tâm trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài, 10 trọng tài viên, luật áp dụng, ngôn ngữ hay về thời gian cũng như địa điểm giải quyết tranh chấp và nhờ vậy có thể chủ động và tiết kiệm thời gian trong việc kinh doanh. Đây là điều mà các bên khó có thê thực hiện khi giải quyết tranh chấp bang Tòa án, vì họ phải tuân thủ những quy định tổ tụng do luật định. Ba là, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục tố tụng chặt chẽ. Đối với trọng tài thường trực trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tung mà pháp luật trọng tai, điều lệ và quy tắc tô tụng của tô chức trọng tài đó quy định.
Còn đối với trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận thủ tục tô tụng riêng, ngoài ra, các trọng tài viên và các bên cũng phải tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trọng tài mà mình đặt ra. Bon là, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có tính ràng buộc các bên đương sự về mặt pháp lý. Phán quyết trọng tài là chung thâm và có hiệu lực thi hành ngay (không có thủ tục kháng cáo, chỉ có thủ tục yêu cầu hủy do vi phạm thủ tục tố tụng). Nếu đương sự không tự nguyện thi hành, cơ quan thi hành án sẽ cưỡng chế thi hành như một bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án.
Điều đó làm cho việc giải quyết tranh chấp băng trọng tài hữu hiệu hơn phương pháp hoà giải hay thương lượng. Hoà giải hay thương lượng chỉ mang tính chất khuyến nghị chứ không có tính ràng buộc thực hiện về mặt pháp lý đối với các bên tranh chấp. Còn phán quyết trọng tài mang hiệu lực pháp luật, các bên có nghĩa vụ phải thi hành. Thứ hai, trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp Trọng tài được hiểu là một cơ quan tài phán, có thâm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại.
Trọng tài được luật pháp các nước có nền kinh tế thị trường thừa nhận là một cơ quan tài phán độc lập, tồn tại song song với Tòa án. Tuy nhiên, khi xét về bản chất, Trọng tài thương mại và tòa án hoàn toàn khác nhau, cụ thể: 11 Mot là, Trọng tài thương mai là một tô chức xã hội- nghề nghiệp, do các trong tài viên tự nguyện thành lập dé giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh,thương mại. Do là cơ quan hoạt động độc lập với các cơ quan do chính phủ thành lập nên các trung tâm trọng tài không hoạt động bằng nguồn ngân sách nhà nước. Có trụ sở làm việc, Điều lệ hoạt động và Quy tắc tố tụng riêng do chính các trung tâm đặt ra.
Các trọng tài viên không phải là các công chức, viên chức Nhà nước, không do Nhà nước bé nhiệm và không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Trọng tài hoạt động vì mục đích lợi nhuận Hai là, tham quyền của cơ quan trọng tài không tự nhiên mà có chỉ được hình thành khi có sự thỏa thuận của các bên tranh chấp đối với trọng tài. Pháp luật quy định, trong tài chỉ có thâm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa chọn trọng tài giải quyết. Nếu không có thỏa thuận trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp về việc lựa chọn trọng tài hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết.
Ba là, Trọng tài thương mại cần đến sự hỗ trợ của cơ quan Nhà nước trong quá trình giải quyết tranh chấp. Như đã phân tích ở trên, trọng tài thương mại là một tổ chức xã hội-Nghè nghiệp, chi có thâm quyền giải quyết tranh chấp theo sự lựa chọn của các bên nên phán quyết trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước, không đại diện cho ý chí của Nhà nước ma đại diện cho ý chí của các bên tranh chấp. Phán quyết trọng tài chỉ có giá trị bắt buộc với các bên tranh chấp mà không có giá trị bắt buộc với bên thứ ba .Trong trường hợp các bên không tự nguyện thi hành, cần phải có sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước có thâm quyên trong việc cưỡng chế thi hành. Qua những đặc điểm trên, trọng tài - là cơ quan giải quyết tranh chấp, tồn tại song song với Tòa án, tuy nhiên có những nét đặc thù và khác biệt so với tòa án .