MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đối với từng cộng đồng dân cƣ ở bất cứ quốc gia nào, NKT là một bộ phận không nhỏ, luôn là mối quan tâm của cộng đồng. NKT là nhóm ngƣời phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so với những nhóm ngƣời bình thƣờng khác trong xã hội, khiếm khuyết trên cơ thể tạo ra những suy giảm đáng kể và ảnh hƣởng lâu dài, trực tiếp đến khả năng tƣ duy, hoạt động, sinh hoạt hằng ngày của họ, gây nên những khó khăn nhất định trong cuộc sống. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ƣớc tính có khoảng 15% dân số thế giới, tƣơng đƣơng với hơn 1 tỷ ngƣời đang sống với ít nhất một dạng khuyết tật nhất định (WHO, 2017).
Vấn đề khuyết tật, vì vậy, đã trở thành vấn đề toàn cầu, cần có các nghiên cứu và giải pháp hỗ trợ đồng bộ. Có nhiều dạng khuyết tật (khuyết tật vận động, khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật trí tuệ;.) với các mức độ khuyết tật khác nhau ( khuyết tật đặc biệt nặng; khuyết tật nặng; khuyết tật nhẹ;.), ở bất kỳ lứa tuổi nào. Ở Việt Nam, theo kết quả Điều tra Quốc gia về NKT do Tổng cục Thống kê và UNICEF công bố ngày 11 tháng 1 năm 2019, Việt Nam là một trong những nƣớc có tỷ lệ NKT cao, cả nƣớc có 6.519 NKT, trong đó dạng tật chiếm số lƣợng cao nhất là khuyết tật vận động với 5. NKT nói chung và NKT vận động nói riêng đã và đang còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình học tập, lao động, sinh hoạt,…, nhất là trong điều kiện nền an sinh xã hội còn chƣa phát triển mạnh nhƣ ở Việt Nam.
Mặc dù trong những năm qua, Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân luôn quan tâm đến công tác NKT, đã ban hành, triển khai nhiều chủ trƣơng, chính sách, pháp luật chăm lo, bảo đảm quyền và phát huy vai trò của NKT, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, nhận thấy CTXH là một hoạt động chuyên môn có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội cũng nhƣ hỗ trợ 1 những đối tƣợng yếu thế đặc biệt là NKT; hệ thống các hoạt động CTXH hƣớng đến trợ giúp NKT nói chung và NKT vận động nói riêng đã đƣợc triển khai rộng với nhiều hoạt động thiết thực, có kết quả nhƣ mở các trung tâm tổ chức các hoạt động, dịch vụ CTXH hỗ trợ đa dạng về tâm lý, sức khỏe, phục hồi chức năng; hỗ trợ đào tạo nghề, việc làm;.giúp NKT có thêm niềm tin, nâng cao năng lực và hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, hệ thống chính sách cũng nhƣ các hoạt động CTXH dù tƣơng đối đầy đủ nhƣng tính khả thi chƣa cao, hạ tầng cơ sở xã hội thiếu thốn, khả năng tiếp cận các hoạt động, dịch vụ xã hội cơ bản, nguồn tài chính, năng lực chuyên môn đặc biệt là năng lực cán bộ, nhân viên CTXH còn có nhiều hạn chế dẫn đến một số hoạt động CTXH chƣa có những tác động tích cực đến NKT nói chung và NKT vận động nói riêng. Với thực tế Thị trấn Cẩm Khê thuộc khu vực miền núi của huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, là địa phƣơng có số lƣợng NKT cao nhất huyện (408 ngƣời) trong đó, số lƣợng NKT vận động chiếm phần lớn tổng số NKT trên địa bàn thị trấn (49,50%) thì việc triển khai, thực hiện các chính sách, mô hình, hoạt động, dịch vụ trợ giúp xã hội cho NKT nói chung cũng nhƣ NKT vận động nói riêng là điều rất cần thiết, luôn đƣợc quan tâm chú trọng.
Tuy nhiên, các hoạt động chỉ đƣợc thực hiện theo quy định của các chính sách xã hội do Nhà nƣớc ban hành đối với NKT mà chƣa mang đậm đƣợc màu sắc của CTXH nên khi đƣợc triển khai thực hiện thì chƣa có sự chuyên nghiệp trong từng hoạt động. Việc thực hiện các hoạt động CTXH trong hỗ trợ NKT nói chung và NKT vận động nói riêng ở Thị trấn Cẩm Khê vẫn còn khá mới mẻ, chƣa thực sự chuyên nghiệp, đạt hiệu quả chƣa cao và đôi khi trong thực hiện còn mang tính hình thức. Chính điều này đã khiến hiệu quả tác động của hệ thống chính sách cũng nhƣ vai trò của CTXH đối với NKT nói chung cũng nhƣ NKT vận động nói riêng chƣa đƣợc nhƣ kỳ vọng, vẫn còn nhiều NKT không có việc làm, điều kiện sinh sống còn có nhiều khó khăn, nhiều NKT 2 vận động còn gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các mô hình, hoạt động CTXH, chƣa tự giải quyết đƣợc vấn đề khó khăn và phát huy những điểm mạnh của bản thân. Để NKT đặc biệt là NKT vận động thực sự hòa nhập cộng đồng, cần phải có những hoạt động, cung cấp những dịch vụ mang tính chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu và dựa trên quyền của NKT.
Từ thực tế trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ người khuyết tật vận động tại Thị trấn Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ" để có thể có cái nhìn toàn diện cả về lý luận và thực tiễn về hoạt động CTXH trong hỗ trợ NKT vận động tại Thị trấn Cẩm Khê. Từ đó đƣa ra những giải pháp phù hợp với thực tế địa phƣơng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH trong việc hỗ trợ NKT nói chung cũng nhƣ NKT vận động nói riêng. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài NKT luôn có cảm giác tự ti với cuộc sống, điều này khiến họ bị hạn chế và khó có cơ hội đƣợc tiếp cận và phát triển nhƣng họ cũng nhƣ một tế bào trong hàng triệu tế bào khác trong xã hội, cũng cần sự giúp đỡ, quan tâm, sẻ chia và hòa nhập với cuộc sống cho dù tế bào đó khỏe mạnh hay yếu ớt. Bản thân những NKT cũng mong muốn đƣợc tham gia đóng góp cho sự phát triển xã hội trong khả năng vốn có của mình.
Chính vì vậy, những vấn đề liên quan đến NKT luôn là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Việc nghiên cứu về các vấn đề của NKT nói chung và NKT vận động nói riêng luôn là đề tài đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách quan tâm và đã đƣợc đề cập trong các nghiên cứu khoa học xã hội, những chủ đề xoay quanh NKT cũng đƣợc báo chí đặc biệt quan tâm. Bởi những vấn đề về NKT mang tính xã hội, nó ảnh hƣởng trực tiếp tới sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội của mỗi Quốc gia. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, 3 tài liệu, bài viết đƣợc công bố dƣới nhiều góc độ tiếp cận, khía cạnh và mức độ khác nhau về các vấn đề NKT cũng nhƣ của NKT vận động và hoạt động CTXH đối với NKT.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, NKT cũng là một trong những nhóm ngƣời yếu thế chiếm số lƣợng lớn, chính vì vậy, các vấn đề về NKT luôn là đề tài đƣợc đặc biệt quan tâm đối với các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách trên nhiều lĩnh vực và hoạt động CTXH đối với NKT nói chung cũng nhƣ khuyết tật vận động nói riêng cũng đã đƣợc thực hiện một cách rất chuyên nghiệp bởi CTXH trên thế giới đã đƣợc coi là một nghề chính thống với lịch sử lâu đời.
Synnove Karvinen và Niinikoski, tác phẩm "Nhân quyền, quyền xã hội công dân và phương pháp cá nhân cùng tham gia trong công tác xă hội với NKT", đã viết các cách thức của CTXH đối với NKT có trong các tuyên bố nhân quyền hoặc đƣợc đƣa vào các chƣơng trình chính sách khuyết tật của Phần Lan. Tuy nhiên, trên thực tế NKT không thể thực hiện các quyền và tự do của họ hoặc thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Nhân viên CTXH ở tuyến đầu và nhân viên chăm sóc xã hội hoặc các nhà hoạt động phi chính phủ tiếp cận và gần gũi với NKT, gia đình trong cuộc sống hàng ngày của họ. Sự hỗ trợ đó cũng góp phần nâng cao vị thế của NKT để họ đạt đƣợc các mục tiêu cuộc sống mà họ đề ra, tăng cƣờng quyền tự quyết của NKT bằng cách xây dựng năng lực và quyền ra quyết định thông qua gây dựng sự tự tin, lòng tự trọng, tính chủ động và kiểm soát cuộc sống.
Cũng đề cập đến CTXH đối với NKT, Peggy Quinn, Khoa CTXH, Đại học Texas có nghiên cứu "Social Work and Disability Management Policy: Yesterday, Today, and Tomorrow" (Chính sách Quản lý CTXH và NKT: Hôm qua, hôm nay và ngày mai) [21] nhấn mạnh mặc dù CTXH với NKT đã xuất hiện từ lâu, nhƣng vị trí của nó trong lĩnh vực chính sách về NKT chƣa đƣợc 4 thể hiện rõ. Nghiên cứu này đánh giá ngắn gọn về lịch sử của chính sách đối với NKT cùng với bản tóm tắt một số quan điểm triết học làm nền tảng cho những chính sách đó. Ngƣời quản lý hệ thống hồ sơ NKT đƣợc đề xuất nhƣ một giải pháp cho mớ hỗn độn của các quy tắc và quy định xung đột, hiện đƣợc nhiều cơ quan chính phủ, cơ quan dạy nghề và phúc lợi xã hội áp dụng. Ngƣời quản lý sẽ sử dụng mô hình cấu trúc đề xuất kiểm tra thực tế hoàn cảnh của thân chủ để biết những trở ngại đối với hoạt động CTXH trƣớc khi tập trung vào các những tổn thƣơng hoặc vấn đề của thân chủ.
Nghiên cứu về NKT ở một Quốc gia cụ thể, Brenda Gannon và Brian Nolan (2011) với nghiên cứu "Disability and social inclusion in Ireland" (Khuyết tật và hòa nhập xã hội ở Ireland) [19] nêu lên sự khác biệt giữa NKT và không khuyết tật trong việc tham gia hòa nhập cộng đồng ở Ireland. Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập đƣợc để đánh giá mức độ đói nghèo, tỉ lệ có việc làm, sự tham gia giáo dục. Đồng thời tìm hiểu thêm mức độ ảnh hƣởng của NKT đến cuộc sống hàng ngày và tới những ngƣời khác. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh đến yếu tố khuyết tật có ảnh hƣởng lớn đến đời sống của NKT, thiết kế nơi làm việc không phù hợp với các dạng tật sự kì thị của cộng đồng và việc tiếp cận giao thông đi lại còn khó khăn.
Một bài viết nghiên cứu của nhóm tác giả ShakiraHanif, HaliePeters, CarolynMcDougall, SallyLindsay (2017) "A Systematic Review of Vocational Interventions for Youth with Physical Disabilities", Factors in Studying Employment for Persons with Disability (Research in Social Science and Disability, Vol. 10), Emerald Publishing Limited, Bingley, pp.