CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm công cụ liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm trẻ em Khái niệm trẻ em đã được đề cập đến trong nhiều tài liệu khác nhau, tuy nhiên luận văn sử dụng khái niệm: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” theo ban hành của Luật nhà nước Việt Nam làm cơ sở nghiên cứu. Khái niệm Rối loạn phổ tự kỷ Hội chứng Rối loạn Phổ Tự Kỷ (Autism Spectrum Disorder (ASD)) là một tên gọi để mô tả một nhóm các hội chứng rối loạn thâm nhập toàn bộ sự phát triển (pervasive developmentaldisorders) với khiếm khuyết chủ yếu trong các lãnh vực Quan hệ Giao tiếp, truyền đạt, Trí tưởng tượng / Tính linh hoạt của Khả năng Suy nghĩ, Khả năng sinh hoạt và niềm vui thích hạn hẹp .Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, học viên lựa chọn khái niệm:” Hội chứng rối loạn phổ tự kỷ là một khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, thường xuất hiện trong 3 năm đầu đời.
Tự kỷ là do rối loạn thần kinh, gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ. Tự kỷ có thể xảy ra ở bất cứ cá nhân nào không phân biết giới tính, chủng tốc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội. Đặc điểm của Tự kỷ là những khiếm khuyết về tương tác xã hội, giao tiếp, ngôn gữ và phi ngôn ngữ, có hành vi, sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại”. của Liên hiệp quốc đưa ra năm 2008.
Đây được coi là khái niệm mang tính đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất. Các khái niệm có liên quan đến đề tài, được trình bày trong phần phụ lục. Khái niệm trẻ tự kỷ Đúc rút từ các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt nam, có thể hiểu: Trẻ tự kỷ là những trẻ có rối loạn phát triển lan toả phức tạp ở những lĩnh vực sau: Tương tác xã hội, ngôn ngữ, hành vi định hình lặp đi lặp lại, rối loạn cảm giác. Những rối loạn này thường xuất hiện ở trước 36 tháng tuổi và có thể kéo dài suốt cuộc đời.
Có 5 phân nhóm của chẩn đoán trong phổ tự kỷ: Tự kỷ điển hình, hội chứng Asperger, Rối loạn rett, rối loạn phân rã ở trẻ nhỏ, rối loạn phát triển lan toả - không điển hình. Luận văn cũng lựa chọn khái niệm này làm cơ sở nghiên cứu của đề tài. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm về Công tác xã hội Theo A.Skidmore “CTXH là một dạng trợ giúp giống như việc đưa ra bàn tay giúp đỡ cho những người nghèo khó, cá nhân , gia đình có khó khăn về kinh tế, về tình cảm, về quan hệ xã hội trong các cơ sở xã hội, y tế hay giáo dục, CTXH giúp cộng đồng tiếp cận các dịch vụ về đảm bảo an sinh xã hội” Theo Hiệp hội cán bộ xã hội quốc tế và Hiệp hội các trường đào tạo CTXH quốc tế định nghĩa: “ Nghề CTXH thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ, tạo khả năng và giải phóng con người nhằm thúc đẩy phúc lợi.
Sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, CTXH can thiệp vào những thời điểm khi con người tương tác với các môi trường của mình. Nhân quyền và công lý trong xã hội là những nguyên tắc nền tảng của CTXH”. Theo Từ điển CTXH của Baker R.L (1995) thì “ CTXH là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho ngời dân trong xã hội”. Theo luật CTXH của Philipine “ CTXH là một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan hệ xã hội và sự điều chỉnh hoà hơp giữa cá nhân và môi trường xã hội để có xã hội tốt đẹp” pháp luật của Philipine cũng đã quy định về điều này.
Theo Nguyễn Thị Oanh: “CTXH là một hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề”. Qua nghiên cứu các tài liệu liên quan cho thấy có khá nhiều khái niệm về công tác xã hội được đưa ra ở nhiều góc độ khác nhau. Luận văn lựa chọn khái niệm CTXH của Bùi Xuân Mai làm cơ sở nghiên cứu đề tài: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm trợ giúp các nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hộị”. Khái niệm dịch vụ công tác xã hội Từ khái niệm dịch vụ và công tác xã hội thì DVCTXH có thể được hiểu là một dạng của dịch vụ xã hội, hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực công tác xã hội mà ở đó 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NVCTXH sử dụng những kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực thực hiện chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho con người.
Khái niệm dịch vụ Công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ Trên cơ sở phân tích về những khái niệm từ TTK, khái niệm công tác xã hội, khái niệm DVCTXH, tôi đưa ra khái niệm về Dịch vụ Công tác xã hội với Trẻ tự kỷ như sau: Dịch vụ Công tác xã hội đối với TTK là một hoạt động chuyên nghiệp trong CTXH mà ở đó, Nhân viên CTXH sử dụng những kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp TTK, gia đình và xã hội nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường thực hiện chức năng xã hội, đồng thời, thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ liên quan tới việc đam bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ tự kỷ.1 Các loại dịch vụ Công tác xã hội cơ bản với trẻ tự kỷ. DVCTXH đối với TTK bao gồm những dịch vụ chủ yếu sau: 1/Chẩn đoán, đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch trợ giúp; 2/ Tham vấn/ tư vấn cho gia đình TTK; 3/ trị liệu; 4/ Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức; 5/ Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực trợ giúp; 6/ Biện hộ, bảo vệ chính sách. (1) Chẩn đoán, đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch trợ giúp: Dịch vụ này được coi là dịch vụ quan trọng trong can thiệp trợ gíúp TTK và gia đình trẻ giải quyết vấn đề ở trẻ. Vì thông qua chẩn đoán, đánh giá sẽ xác định được mức độ phát triển của trẻ theo từng lứa tuổi và các rối loạn cũng như các vấn đề liên quan đến nhu cầu toàn diện liên quan để đánh giá nhu cầu toàn diện và khả năng của TTK cũng như gia đình trẻ, từ đó, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch can thiệp trợ giúp sát thực và đạt hiệu quả.
Dịch vụ này được cung cấp theo tiến trình sau : 1/ Tiếp nhận ca, đánh giá sơ bộ ban đầu; 2/ Thu thập thồn tin, chẩn đoán bằng các thang đánh giá, đánh giá nhu cầu toàn diện; 3/ Xây dựng kế hoạch can thiệp trợ giúp. Trong dịch vụ này, Nhân viên CTXH có vai trò là người đánh giá, điều phối kết nối, vì vậy cần phải có kiến thức và kỹ năng tốt, có trình độ chuyên môn sâu, đánh giá đúng các nhu cầu mong muốn đích thực của cha mẹ TTK, xác định được những nguồn lực phù hợp với nhu cầu của cha mẹ có con bị tự kỷ từ đó cung cấp, kết nối một cách có hiệu quả những nhu cầu và nguồn lực đó. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (2) Tham vấn/ tư vấn cho gia đình TTK: Trong các dịch vụ CTXH trợ giúp TTK thì tham vấn, tư vấn luôn là dịch vụ chủ đạo vì nó hướng tới nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề cho cha mẹ có con bị tự kỷ. Các hoạt động tham vấn, tư vấn được thực hiện theo quy trình: 1/ Thiết lập mối quan hệ; 2/ Thu thập thông tin, xác định vấn đề, phân tích điểm mạnh, điểm yếu; 3/ Hệ thống hoá các thông tin; 4/ Tìm kiếm các giải pháp hỗ trợ; 5/ Khái quát và truyền tải nội dung cho cha mẹ TTK; 6/ Kết thúc.
Trong hoạt động tham vấn, nhân viên CTXH đóng vai trò là nhà tham vấn, cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng, tạo sự thay đổi. Để hoạt động tham vấn/tư vấn đạt hiệu quả, Nhân viên CTXH cần có kiến thức toàn diện, kỹ năng tốt và sẵn sàng giúp cha mẹ TTK xủ lý mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống của trẻ và gia đình. (3) Trị liệu: Trên cơ sở kế hoạch can thiệp tổng thể của trẻ, Nhân viên CTXH xây dựng kế hoạch trị liệu theo khung thời gian 3 tháng, từng tháng, từng tuần cho từng trẻ dựa trên kết quả đánh giá nhu cầu toàn diện của từng trẻ, xác định mục tiêu, hoạt động, phương pháp, thời gian và người thực hiện. Căn cứ kế hoạch tuần, Nhân viên CTXH xây dựng giáo án can thiệp hàng ngày cho trẻ.
Các phương pháp trị liệu TTK bao gồm: Trị liệu cảm giác; Luyện tập hành vi tích cực; Phương pháp chỉnh âm và trị liệu ngôn ngữ; Hoạt động thể chất ( vận động tinh và vận động thô); Trị liệu thông qua các môn nghệ thuật, máy tính,… (4) Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức: Nhân viên CTXH tổ chức các động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng cho cha mẹ TTK và cộng đồng. Truyền thông trực tiếp: Tư vấn nhóm, tư vấn lưu động; Hội nghị truyền thông tại cộng đồng, trường học; Nói chuyện chuyên đề; Tập huấn. Truyền thông đại chúng: Báo, đài, panô, tờ rơi, áp phích, sách, tổng đài. Các hoạt động này giúp cha mẹ TTK hiểu và tự nhìn nhận vấn đề, phân tích, đánh giá và tìm kiếm nguồn lực giải quyết vấn đề; tiếp cận các chính sách dành cho TTK.
(5) Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực trợ giúp.