Thực trạng lây nhiễm HIV/AIDS & Yếu tố ảnh hưởng NCMT Bắc Giang | Lương Thị Vy, ĐH Y Dược

Phân tích thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS và các yếu tố ảnh hưởng ở người nghiện chích ma túy tại Bắc Giang. Nghiên cứu quan trọng cho phòng chống dịch.

Chuyên ngành

Y Học Dự Phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2014

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS

1.2. Nhiễm HIV ở nguời nghiện ma túy

1.3. Một số khái niệm

1.4. Đường lây nhiễm HIV/AIDS

2. Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.4. Đạo đức nghiên cứu

2.5. Phương pháp xử lý số liệu

3. Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại thành phố Bắc Giang năm 2013 - 2014

3.2. Hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người NCMT

3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người NCMT

4. Chương 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại thành phố Bắc Giang năm 2013-2014

4.2. Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người NCMT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. HIV AIDS Bắc Giang Tổng Quan Thực Trạng Ảnh Hưởng NCMT 55 ký tự

HIV/AIDS vẫn là một đại dịch nguy hiểm trên toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng và tương lai của các quốc gia. Tại Việt Nam, sự gia tăng của tệ nạn ma túy, đặc biệt là sự chuyển đổi sang hình thức tiêm chích, đã kéo theo sự bùng phát HIV/AIDS. Theo Bộ Y tế, tính đến 31/5/2013, Việt Nam có 213.413 trường hợp HIV còn sống, 63.373 bệnh nhân AIDS và hơn 65 nghìn trường hợp tử vong do AIDS. Tỉnh Bắc Giang, tính đến 31/12/2013, ghi nhận 2548 người nhiễm HIV, 1637 bệnh nhân AIDS và 1015 người tử vong do AIDS. Qua điều tra năm 2006, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT (người nghiện chích ma túy) tại TP Bắc Giang là 74,7%, cao hơn các tỉnh lân cận. Tỷ lệ sử dụng chung BKT là 41,67%, và tỷ lệ không sử dụng BCS khi quan hệ tình dục là 72%. Kiến thức phòng lây nhiễm HIV của nhóm này còn hạn chế. Nghiên cứu này tập trung vào mô tả thực trạng, phân tích yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại thành phố Bắc Giang năm 2013-2014, cung cấp cơ sở khoa học cho các biện pháp can thiệp hiệu quả hơn. Bài viết này sẽ trình bày chi tiết về thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng, và những khuyến nghị phòng chống dịch bệnh này.

1.1. Số liệu thống kê HIV AIDS đáng báo động tại Bắc Giang

Tính đến cuối năm 2013, Bắc Giang đã ghi nhận một số lượng đáng kể các trường hợp nhiễm HIV/AIDS, đặt ra một thách thức lớn đối với hệ thống y tế công cộng và cộng đồng. Đại dịch này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn gây ra những tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội và sự phát triển bền vững của tỉnh. Theo báo cáo, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT chiếm một phần đáng kể trong tổng số các ca nhiễm HIV/AIDS tại Bắc Giang, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc can thiệp và phòng ngừa lây nhiễm trong nhóm đối tượng này.

1.2. Tác động của NCMT đến thực trạng HIV AIDS ở Bắc Giang

Tệ nạn ma túy, đặc biệt là hình thức tiêm chích, đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền HIV/AIDS tại Bắc Giang. Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT cao hơn so với các nhóm nguy cơ khác, và việc sử dụng chung bơm kim tiêm là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng này. Các yếu tố như thiếu kiến thức về phòng ngừa, hành vi nguy cơ cao và khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế cũng góp phần làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV trong cộng đồng NCMT.

II. Nghiên Cứu Thực Trạng Lây Nhiễm HIV tại TP Bắc Giang 58 ký tự

Nghiên cứu về thực trạng hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở người NCMT tại TP Bắc Giang năm 2006 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này là 74,7%, cao hơn so với các tỉnh lân cận. Tỷ lệ sử dụng chung BKT trong vòng 1 tháng trước điều tra chiếm 41,67%, tỷ lệ không sử dụng BCS khi quan hệ tình dục chiếm 72%. Tỷ lệ người NCMT có kiến thức phòng lây nhiễm HIV không đạt yêu cầu chiếm 36,3%. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nguy lây nhiễm HIV là sử dụng chung BKT khi tiêm chích và không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD. Bên cạnh đó, người NCMT trẻ tuổi, tình trạng hôn nhân bất ổn, không có nghề nghiệp, không nhận được BKT, BCS miễn phí, chưa nhận được thông tin truyền thông phòng chống HIV/AIDS cũng làm tăng nguy cơ lây nhiễm. Nghiên cứu này được thực hiện để xác định rõ hơn các hành vi lây nhiễm, các yếu tố ảnh hưởng và từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp.

2.1. Hành vi nguy cơ cao Dùng chung bơm kim tiêm và QHTD không an toàn

Việc sử dụng chung bơm kim tiêm và quan hệ tình dục không an toàn là hai hành vi nguy cơ chính dẫn đến lây nhiễm HIV trong cộng đồng NCMT tại TP Bắc Giang. Nghiên cứu cho thấy một tỷ lệ đáng kể người NCMT vẫn tiếp tục thực hiện những hành vi này, đặc biệt là trong bối cảnh thiếu kiến thức, khó khăn về kinh tế và các yếu tố xã hội khác. Các biện pháp can thiệp cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức, cung cấp BKT sạch và BCS miễn phí, cũng như tạo điều kiện cho người NCMT tiếp cận các dịch vụ tư vấn và điều trị.

2.2. Yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV AIDS

Các yếu tố xã hội như tuổi trẻ, tình trạng hôn nhân không ổn định, thiếu việc làm và sự kỳ thị cũng đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV trong cộng đồng NCMT. Nghiên cứu chỉ ra rằng người NCMT trẻ tuổi, không có nghề nghiệp ổn định và sống trong môi trường xã hội tiêu cực thường có xu hướng thực hiện các hành vi nguy cơ cao hơn so với những người khác. Các biện pháp can thiệp cần tập trung vào việc giải quyết các vấn đề xã hội này, tạo cơ hội cho người NCMT tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội và được hỗ trợ về mặt tâm lý.

III. Phương Pháp Giảm Tác Hại Chìa Khóa Phòng Chống HIV 52 ký tự

Các biện pháp can thiệp giảm tác hại như phân phát BKT sạch, bao cao su, điều trị thay thế bằng Methadone có vai trò quan trọng trong phòng chống HIV/AIDS trong nhóm NCMT. Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone, tư vấn xét nghiệm tự nguyện là những hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, độ bao phủ vẫn còn nhiều khoảng trống. Đối tượng NCMT vẫn chưa thực sự tiếp cận được các chương trình này. Để giảm sự lây nhiễm HIV/AIDS, cần cải thiện và mở rộng các dịch vụ chăm sóc y tế cho người NCMT, tăng cường phối hợp giữa các nhà hoạch định, chính sách, cơ quan Chính phủ, phi Chính phủ, cán bộ y tế, và cộng đồng dân cư. Bài viết này sẽ đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp, và đề xuất các giải pháp tăng cường tiếp cận cho người NCMT.

3.1. Mở rộng chương trình Methadone Thách thức và giải pháp

Mặc dù chương trình điều trị Methadone đã được triển khai, nhưng mục tiêu đạt 80.000 người nghiện chích ma túy được điều trị vào năm 2015 là khó đạt được. Việc mở rộng các điểm điều trị còn chậm, các tỉnh chưa chủ động bố trí nhân lực cho triển khai chương trình. Cần có sự đầu tư mạnh mẽ hơn về nguồn lực và cơ sở hạ tầng để mở rộng chương trình Methadone và đảm bảo rằng người NCMT có thể tiếp cận được dịch vụ này một cách dễ dàng và thuận tiện. Chính sách hỗ trợ cần được xây dựng để tạo động lực cho người NCMT tham gia điều trị và duy trì sự tuân thủ.

3.2. Tăng cường tiếp cận BKT và BCS Đảm bảo nguồn cung ổn định

Việc cung cấp BKT sạch và BCS miễn phí là một biện pháp quan trọng để giảm nguy cơ lây nhiễm HIV trong cộng đồng NCMT. Tuy nhiên, các hoạt động phân phát BKT và bao cao su trong năm 2013 bắt đầu gặp nhiều khó khăn do kinh phí cắt giảm. Cần có sự đảm bảo về nguồn cung ổn định và bền vững của BKT và BCS, cũng như tăng cường các kênh phân phối để đảm bảo rằng người NCMT có thể tiếp cận được những vật phẩm này một cách dễ dàng và kín đáo. Các hoạt động truyền thông cần được tăng cường để khuyến khích sử dụng BKT sạch và BCS thường xuyên.

IV. Yếu Tố Ảnh Hưởng Hành Vi Lây Nhiễm HIV Nghiên Cứu 54 ký tự

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV của người NCMT rất phức tạp. Theo UNAIDS, người NCMT có quyền được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ sức khỏe phù hợp. Tuy nhiên, kiến thức, thái độ, thu nhập, tính sẵn có, khả năng tiếp cận và chi phí của các chương trình phòng chống HIV/AIDS đều ảnh hưởng đến hành vi của họ. Davies và Peters nghiên cứu trên 346 đối tượng tại Edinburgh cho rằng những người nghiện chích sớm, không có nghề nghiệp, có tiền sử bị giam giữ có nguy cơ mắc HIV cao hơn. Các can thiệp cần xem xét toàn diện các yếu tố này, bao gồm các yếu tố cá nhân, gia đình, xã hội, và hệ thống y tế.

4.1. Vai trò của kiến thức và thái độ về HIV AIDS

Kiến thức và thái độ đúng đắn về HIV/AIDS đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi an toàn và giảm nguy cơ lây nhiễm. Nghiên cứu chỉ ra rằng người NCMT có kiến thức đầy đủ về các con đường lây truyền HIV, các biện pháp phòng ngừa và các dịch vụ hỗ trợ thường có xu hướng thực hiện các hành vi an toàn hơn so với những người khác. Các hoạt động truyền thông cần được tăng cường để nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ của người NCMT về HIV/AIDS.

4.2. Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế và xã hội đến hành vi nguy cơ

Yếu tố kinh tế và xã hội cũng có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi nguy cơ của người NCMT. Nghiên cứu chỉ ra rằng người NCMT có thu nhập thấp, không có việc làm ổn định và sống trong môi trường xã hội tiêu cực thường có xu hướng thực hiện các hành vi nguy cơ cao hơn so với những người khác. Các biện pháp can thiệp cần tập trung vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội này, tạo cơ hội cho người NCMT tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội và được hỗ trợ về mặt tài chính.

V. Hành Vi Lây Nhiễm HIV Phân Tích Chi Tiết Tại Bắc Giang 58 ký tự

Kết quả phân tích của một số yếu tố liên quan đến hành vi lây nhiễm HIV của người nghiện chích ma túy, cho thấy có một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng chung BKT của người NCMT: Về nhóm tuổi, trong lần TCMT gần nhất, ở nhóm tuổi từ 30 tuổi trở xuống có tỷ lệ sử dụng chung BKT cao gấp 3,1 lần so với người NCMT trên 30 tuổi; Những người NCMT không nhận được BKT miễn phí có hành vi sử dụng chung BKT cao gấp 18 lần người NCMT nhận được BKT miễn phí. Về tình trạng hôn nhân, ở nhóm người không sống cùng vợ hoặc gia đình có hành vi sử dụng chung BKT cao gấp 3,08 lần so với nhóm người sống cùng vợ/gia đình. Cần có sự can thiệp đa chiều để thay đổi hành vi.

5.1. Tuổi tác và sử dụng chung BKT Mối liên hệ đáng lo ngại

Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ đáng lo ngại giữa tuổi tác và hành vi sử dụng chung BKT trong cộng đồng NCMT. Kết quả cho thấy nhóm tuổi trẻ hơn (dưới 30 tuổi) có tỷ lệ sử dụng chung BKT cao hơn đáng kể so với nhóm tuổi lớn hơn. Điều này có thể là do sự thiếu kinh nghiệm, kiến thức và nhận thức về nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm tuổi trẻ hơn. Các biện pháp can thiệp cần tập trung vào việc tiếp cận và giáo dục nhóm tuổi trẻ hơn về các hành vi an toàn và các dịch vụ hỗ trợ.

5.2. Tình trạng hôn nhân và hành vi sử dụng chung BKT

Tình trạng hôn nhân cũng có ảnh hưởng đến hành vi sử dụng chung BKT trong cộng đồng NCMT. Nghiên cứu cho thấy người NCMT không sống cùng vợ/gia đình có xu hướng sử dụng chung BKT cao hơn so với những người sống cùng vợ/gia đình. Điều này có thể là do sự thiếu sự hỗ trợ, giám sát và kết nối xã hội trong nhóm người không sống cùng gia đình. Các biện pháp can thiệp cần tập trung vào việc tăng cường sự hỗ trợ gia đình và kết nối xã hội cho người NCMT.

VI. Kiến Nghị Giải Pháp Phòng Chống HIV AIDS Hiệu Quả 55 ký tự

Để phòng chống HIV/AIDS hiệu quả tại Bắc Giang, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành, tổ chức xã hội và cộng đồng. Các giải pháp cần tập trung vào việc tăng cường truyền thông giáo dục, cung cấp dịch vụ y tế toàn diện, giảm kỳ thị phân biệt đối xử, hỗ trợ kinh tế xã hội cho người NCMT, và tăng cường hợp tác quốc tế. Đặc biệt, cần có sự tham gia tích cực của người NCMT trong quá trình xây dựng và triển khai các chương trình phòng chống HIV/AIDS.

6.1. Tăng cường truyền thông và giáo dục về HIV AIDS

Các hoạt động truyền thông và giáo dục về HIV/AIDS cần được tăng cường để nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và thúc đẩy hành vi an toàn trong cộng đồng. Các thông điệp cần được truyền tải một cách rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là người NCMT. Các kênh truyền thông cần được đa dạng hóa để tiếp cận được nhiều người hơn, bao gồm truyền thông trực tiếp, truyền thông qua mạng xã hội và truyền thông qua các phương tiện đại chúng.

6.2. Xây dựng chính sách hỗ trợ toàn diện cho người NCMT

Các chính sách hỗ trợ toàn diện cho người NCMT cần được xây dựng để giúp họ giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội và sức khỏe. Các chính sách này cần bao gồm cung cấp việc làm, hỗ trợ tài chính, tư vấn tâm lý, điều trị nghiện và các dịch vụ y tế khác. Điều quan trọng là các chính sách này phải được thiết kế và triển khai một cách công bằng, không kỳ thị và tôn trọng quyền của người NCMT.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức khoẻ con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. HIV/AIDS hiện nay đã trở thành đại dịch trên phạm vi toàn thế giới. Số người nhiễm HIV và chết do căn bệnh này gây nên ngày càng gia tăng. Hàng năm, trên thế giới có hàng triệu người mắc và chết do căn bệnh thế kỷ này.

Trong những năm gần đây do sự gia tăng của tệ nạn ma tuý, đặc biệt là sự chuyển đổi hình thức sử dụng ma tuý từ hút, hít sang tiêm chích ngày càng tăng đã kéo theo sự bùng phát HIV/AIDS ở nhiều châu lục, đặc biệt là châu Á. Số người nghiện chích ma tuý nhiễm HIV chiếm 76% tổng số người nhiễm HIV ở Malaysia; 64% ở Việt Nam; 55% ở Myama và 50% Ở Trung Quốc. Ở Việt Nam từ 1 trường hợp bị nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12/1990 tại thành phố Hồ Chí Minh, chỉ sau đó 8 năm, tháng 12/1998 toàn bộ 61/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương đều phát hiện có người nhiễm HIV. Theo Bộ Y tế, tính đến hết ngày 31/5/2013, số trường hợp HIV hiện còn sống là 213.413 trường hợp.

Số bệnh nhân AIDS còn sống là 63.373 trường hợp và hơn 65 nghìn trường hợp tử vong do AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo báo cáo là 243 người trên 100. Tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (1015,8), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (677), thứ 3 là Thái Nguyên (610,6). Tác hại của dịch chủ yếu tập trung vào các nhóm hành vi nguy cơ cao, nhóm nghiện chích ma túy (NCMT), phụ nữ bán dâm (PNBD) [24].

Tại tỉnh Bắc Giang tính đến 31/12/2013 số người nhiễm HIV tích lũy 2548 người, bệnh nhân AIDS là 1637 người và 1015 người tử vong do AIDS. Đến nay cả 10 huyện, thành phố với 191/230 xã, phường, thị trấn (83%) có người nhiễm, kể cả các xã vùng sâu, vùng xa [4]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com 2 Qua điều tra nghiên cứu thực trạng hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở người nghiện ma tuý tại thành phố (TP) Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, năm 2006 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT chiếm 74,7%, cao hơn so với các tỉnh lân cận. Tỷ lệ sử dụng chung BKT trong vòng 1 tháng trước điều tra chiếm 41,67%, tỷ lệ không sử dụng BCS khi quan hệ tình dục chiếm 72%.

Tỷ lệ người NCMT có kiến thức phòng lây nhiễm HIV không đạt yêu cầu chiếm 36,3% [22]. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nguy lây nhiễm HIV là sử dụng chung BKT khi tiêm chích và không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD; Người NCMT trẻ tuổi, tình trạng hôn nhân bất ổn, người NCMT không có nghề nghiệp, người NCMT không nhận được BKT, BCS miễn phí, chưa nhận được các thông tin truyền thông phòng chống HIV/AIDS, ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi trình độ hiểu biết, hoàn cảnh sống, sự ích kỷ của gia đình, cha/mẹ, sự kỳ thị của người thân, bạn bè, làng xóm, sự cấm đoán, bắt bớ của chính quyền địa phương, công an các cấp làm cho người NCMT phải sống lén lút, khó tiếp cận với các chương trình can thiệp hỗ trợ, phòng chống HIV/AIDS. Đây chính là những nguyên nhân làm cho tỷ lệ người NCMT tại TP Bắc Giang ngày càng tăng, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người NCMT khó kiểm soát [22]. Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người nghiện chích ma túy ở thành phố Bắc Giang có những hành vi lây nhiễm nào? Yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người nghiện chích ma túy? Xuất phát từ lý do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài “Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS và yếu tố ảnh hƣởng đến hành vi lây nhiễm ở ngƣời nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang ” nhằm mục tiêu sau: 1.

Mô tả thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang năm 2013 - 2014. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS 1.

Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV /AIDS trên thế giới Đại dịch HIV/AIDS tuy mới xuất hiện từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ 20 nhưng đã nhanh chóng lan ra khắp toàn cầu. Lúc đầu dịch xảy ra chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển như Bắc Mỹ, Tây Âu, tại những thành phố lớn, ở những người đồng tính luyến ái và tiêm chích ma tuý. Đến nay, HIV/AIDS không loại trừ bất cứ nhóm xã hội nào, một quốc gia nào, dù là nước có tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thật tiên tiến như Mỹ, Pháp, Đức. hay những quốc gia chậm phát triển như Zimbabwe, Nigeria.

và hiện tại đại dịch HIV/AIDS đã bắt đầu chuyển trọng điểm từ Châu Phi sang Nam Á và Đông Nam Châu Á. Cho đến nay, đại dịch HIV/AIDS đã, đang phát triển và lây lan rộng khắp trên thế giới [10]. Trải qua hơn 30 năm đấu tranh phòng, chống HIV/AIDS, các quốc gia trên thế giới đã và đang phải đương đầu với một đại dịch có tính chất hết sức nguy hiểm. Tính đến cuối năm 2009, UNAIDS và WHO đã công bố có khoảng 46 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống, 5,8 triệu người mới nhiễm trong năm và 0,5 triệu người tử vong do AIDS trong năm.

Tại nhiều nước đang phát triển, phần lớn các trường hợp nhiễm mới là thanh niên. Khoảng 1/3 trong tổng số những người hiện đang bị nhiễm HIV/AIDS ở độ tuổi 15-24, phần lớn trong số họ không biết mình đang mang vi rút HIV. Hàng triệu người hầu như không biết hoặc biết rất ít về HIV/AIDS để tự bảo vệ mình chống lại căn bệnh này. Theo báo cáo của UNAIDS và WHO, khu vực cận Sahara có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao nhất, tiếp đến là Châu Á- Thái Bình Dương [45].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com 4 Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên thế giới ở người lớn, cao nhất là vùng cận Sahara với 8,4% người lớn bị nhiễm HIV/AIDS, tiếp theo là khu vực Caribe, Đông Nam châu Á, khu vực Bắc Mỹ. Hình thái lây truyền chủ yếu ở các khu vực là QHTD khác giới, TCMT và có một vài khu vực hình thức lây truyền chính là QHTD đồng tính nam giới. Theo báo cáo của UNAIDS, ở hầu hết các khu vực nam giới mắc nhiều hơn nữ giới, riêng ở khu vực cận Sahara nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn và hình thái lây nhiễm chủ yếu qua QHTD khác giới [46]. Dora Mbanya và cộng sự khi nghiên cứu về thực trạng HIV ở Cameroon cho biết tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở Cameroon đã dần dần tăng lên từ 0,4% năm 1987 lên 1,2% vào năm 1990 và từ 4% năm 1992 lên đến 7% năm 1997, lên 11% vào năm 2000 và 11,8% năm 2002 và năm 2004, tỷ lệ hiện mắc HIV/AIDS trên toàn quốc ở mức 5,5%.

Phương thức lan truyền chủ yếu là tình dục khác giới 90% với các đường máu là 5%. Phụ nữ Cameroon bị nhiễm HIV cao hơn nam giới, chiếm khoảng 55% các trường hợp. Theo báo cáo của DHS năm 2004 nhiễm trùng HIV được phát hiện ở 6,8% nữ giới, so với 4,1% ở nam giới [44]. HIV/AIDS lan ra Châu Á khá muộn, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên tại khu vực này được phát hiện tại Thái Lan vào năm 1985, đến cuối những năm 90, Campuchia, Myanmar và Thái Lan công bố bệnh dịch đáng lo ngại trên toàn đất nước.

Năm 2001 có tới 1,07 triệu người lớn và trẻ em bị nhiễm HIV tại Châu Á- Thái Bình Dương, đưa tổng số người bị nhiễm HIV tại khu vực lên tới 7,1 triệu người. Dịch tễ học lây nhiễm HIV ở khu vực này có nhiều hình thái đặc biệt, tại Thái Lan và Campuchia hình thái lây nhiễm HIV chủ yếu qua QHTD khác giới, nhưng một số nước khác như Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia có hình thái lây nhiễm chủ yếu qua TCMT và lây truyền qua quan hệ tình dục khác giới ngày càng tăng [45]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com 5 Tại Trung Quốc, UNAIDS và WHO ước tính có khoảng 1, 5 triệu người bị nhiễm HIV/AIDS, trong đó có 850.000 người lớn, 220.000 là phụ nữ. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tuổi từ 15 - 24 theo ước tính vào khoảng 0,20%.

Trong 6 tháng đầu năm 2001 số lượng người bị nhiễm HIV tăng 67,4% so với năm 2000. Đường lây truyền của dịch HIV tại Trung Quốc chủ yếu là do TCMT. Vào năm 2000, 7 tỉnh của Trung Quốc đã phải đối mặt với nguy cơ lan tràn dịch HIV, hơn 70% số người TCMT bị HIV dương tính ở một số khu vực như quận Yili ở Xingjiang và quận Ruili ở Vân Nam [40]. * Thực trạng lây nhiễm HIV ở người nghiện ma túy Mặc dù trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện trong nhóm người đồng tính luyến ái, không phải trong nhóm NCMT, nhưng đến năm 1993 đã có 52 nước trên thế giới công bố có người NCMT nhiễm HIV và đến năm 2010, sự liên quan giữa lây nhiễm HIV với tiêm chích đã được ghi nhận ở 182 nước [35].

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng một khi có HIV dương tính trong cộng đồng người nghiện chích ma tuý, tỷ lệ nhiễm (xét nghiệm huyết thanh dương tính) rất nhanh trừ khi có biện pháp phòng ngừa thích hợp được áp dụng ngay lập tức như chương trình tiếp cận cộng đồng, cung cấp BKT sạch, phân phát BCS. Thêm vào đó, người NCMT nhiễm HIV lại có những quan hệ tình dục với nhiều người khác làm cho nguy cơ lây lan trong cộng đồng tăng cao. Tỉ lệ phụ nữ bị nhiễm HIV tăng cao hầu hết là do quan hệ tình dục với đàn ông NCMT nhiễm HIV. Các tụ điểm tiêm chích giữ vai trò rất quan trọng trong tiến trình lây nhiễm [33].

Tỷ lệ hành vi nguy cơ liên quan đến HIV trong 12 tháng trước đó thường giảm theo tuổi. Tỷ lệ người NCMT có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông dùng chung bơm tiêm cao hơn (38%) so với những người NCMT Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ