Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ VĂN HỌC SO SÁNH, HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA HAI NHÀ VĂN NGUYỄN XUÂN KHÁNH VÀ NGHIÊM CA LINH 1. Khái niệm văn học so sánh và khái niệm hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học 1. Khái niệm văn học so sánh Trên thế giới hiện nay, văn học so sánh đã trở thành một bộ môn trong các trường đại học ở hầu hết các nước phương Tây. Đây là bộ môn đã tồn tại hơn một trăm năm.
Năm 1886, nhà nghiên cứu văn học người Anh - Macauly Ponestt đã cho ra mắt công trình tổng hợp đầu tiên về lịch sử văn học thế giới mang tên Văn học so sánh (Comparative Literature) đánh dấu sự hình thành chính thức của bộ môn văn học so sánh với tư cách là một bộ môn độc lập. Sau đó lan rộng và trở nên sôi động hơn ở các nước: Pháp, Đức, Anh, Mĩ, Thụy Sĩ, Italia. Cho đến nay, văn học so sánh đã có hàng trăm quan niệm, định nghĩa khác nhau. Dường như mỗi trường phái, mỗi nhà nghiên cứu liên quan đến ngành khoa học mới này đều định nghĩa về nó.
Bên cạnh những nét tương đồng, những định nghĩa về văn học so sánh cũng có nét khác biệt khi tìm hiểu cắt nghĩa khái niệm. Định nghĩa đầu tiên: Văn học so sánh - một cái nhãn hiệu ước lệ và không được minh xác cho lắm - thường được hiểu là một xu hướng hay một ngành nhất định nghiên cứu về văn học bao gồm sự nghiên cứu có hệ thống về những tập hợp (văn học) có tính chất siêu dân tộc [15, tr. Định nghĩa ban đầu về văn học so sánh chưa được phổ biến rộng rãi, mới chỉ là một ngành hay một xu hướng nghiên cứu trong văn học mang tính chất dân tộc. Khái niệm này đã bó hẹp phạm vi của văn học so sánh.
Tại Việt Nam, văn học so sánh bước đầu đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhưng vẫn chưa có chỗ đứng xứng đáng. Ở nước ta, bộ môn văn học so sánh vẫn chưa được thành lập tại các trường đại học. Cho đến nay, nhiều người vẫn còn nhầm lẫn chưa phân biệt rõ ràng văn học so sánh với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập với so sánh văn học với tư cách là một phương pháp. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1974, trường Đại học Sư phạm Vinh đã xuất bản cuốn Thuật ngữ nghiên cứu văn học, coi văn học so sánh là “một trường phái nghiên cứu văn học theo quan điểm tư sản chuyên nghiên cứu những mối liên hệ văn học quốc tế, xuất hiện vào nửa đầu thế kỉ XIX, phát triển vào nửa sau thế kỉ XIX và nửa đầu thế kỉ XX, ngày nay đang ngày càng đi vào con đường hình thức chủ nghĩa, duy tâm và phản động” [27, tr.
Trong khái niệm trên, văn học so sánh được coi là một trường phái văn học chuyên nghiên cứu mối liên hệ văn học quốc tế theo quan điểm tư sản. Đây là trường phái xuất hiện từ nửa đầu thế kỉ XIX nhưng chỉ phát triển trong thời gian ngắn. Đến nay khái niệm chưa thực sự thuyết phục giới nghiên cứu. Trong bài báo Văn học dịch và những vấn đề lý luận của văn học so sánh (Tạp chí văn học, năm 1979) tác giả Trương Đăng Dung đã khẳng định: “Văn học so sánh là một ngành khoa học của văn học, có nhiệm vụ nghiên cứu những mối quan hệ qua lại cũng như những điểm tương đồng và khác biệt giữa các nền văn học.
Cái đích lớn nhất của văn học so sánh là tiếp cận tiến trình của văn học thế giới” [28]. Trong cuốn Lý luận văn học so sánh (2011), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, Nguyễn Văn Dân căn cứ vào quá trình thực tiễn hình thành đối tượng của văn học so sánh đã đưa ra định nghĩa như sau: “Văn học so sánh là một bộ môn văn học sử nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc [hay các nền văn học quốc gia]” [6, tr. Mối quan hệ đó không chỉ là mối quan hệ tiếp xúc trực tiếp, mà còn để chỉ các mối quan hệ đồng đẳng giữa các hiện tượng tương đồng, còn để chỉ cả những mối tương quan độc lập giữa các hiện tượng khác biệt đặc thù của các nền văn học dân tộc khi chúng được đem ra so sánh để giải quyết một vấn đề của văn học hay của lịch sử - xã hội. Văn học so sánh được hiểu với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập chứ không phải là một phương pháp so sánh văn học.
Văn học so sánh không chỉ là các mối quan hệ trực tiếp, các điểm tương đồng ngoài quan hệ trực tiếp mà nó còn chỉ ra các điểm khác biệt độc lập để tìm ra giá trị thẩm mĩ. Như vậy, định nghĩa về văn học so sánh của các nhà lí luận có những chỗ không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, các nhà lí luận đều chỉ ra văn học so sánh là bộ môn nghiên cứu văn học, một ngành khoa học độc lập, có đối tượng, mục đích, phương pháp luận riêng. Từ những định nghĩa văn học so sánh trên, chúng tôi lựa chọn quan điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân: Văn học so sánh là tên gọi của một hệ phương 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp luận, không chỉ cho phép người nghiên cứu so sánh các hiện tượng văn học ở các quốc gia khác nhau theo quan hệ giao lưu ảnh hưởng hay so sánh văn học theo quan hệ tương đồng, mà còn cho phép người nghiên cứu so sánh giữa các điểm khác biệt để giải quyết một vấn đề chung của văn học hay lịch sử - xã hội.
Như vậy hướng nghiên cứu của chúng tôi không phải là so sánh ảnh hưởng mà là so sánh tương đồng. Những căn cứ trên là cơ sở lý thuyết để chúng tôi nghiên cứu, so sánh tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh ở phương diện hình tượng nhân vật phụ nữ. Trên thực tế, có thể có nhiều công trình nghiên cứu độc lập về hai tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm Ca Linh, nhưng chúng tôi đặt hai nhà văn này trong thế đối sánh để có thêm cách nhìn nhận mới mẻ hơn. Khái niệm hình tượng nhân vật Nhân vật văn học đóng vai trò rất quan trọng trong một tác phẩm văn học.
Nhân vật vừa là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong tác phẩm, vừa thể hiện sự sống động trong tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Qua đó đánh giá được cá tính sáng tạo của nhà văn. Nhân vật văn học truyền tải được quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống, cũng là cái sâu sắc nhất còn đọng lại trong cảm xúc, trong tâm hồn của người đọc. Nhân vật văn học quyết định sự thành công hay thất bại của tác phẩm văn học.
Trong Thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân viết: “Nhân vật văn học là một thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại của con người trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người” [3, tr. Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Trần Đình Sử: “Nhân vật văn học là những con người cụ thể được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thúc Sinh, Kim Trọng… đó là những nhân vật không có tên như: thằng bán tơ, một mụ nào ở trong Truyện Kiều… đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang đặc điểm và tính cách con người” [10, tr.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nhà nghiên cứu khi đưa ra định nghĩa về nhân vật văn học đều gặp nhau ở ý nghĩa nội hàm cơ bản: Đều coi nhân vật văn học là đối tượng văn học lựa chọn để miêu tả bằng phương tiện văn học. Nhân vật văn học có thể là người, là vật, sự vật, có tên, không có tên… mang đặc điểm, tính cách giống con người. Là những đối tượng ở hiện thực, nhưng được nhìn qua lăng kính của tác giả. Trong nghiên cứu văn học, nhân vật được xem là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng và qua nhân vật tác giả thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của mình về con người.
Thông qua thế giới nhân vật, nhà văn bộc lộ những quan niệm của mình về cuộc đời. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập trong tác phẩm. Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải là những bản sao có sẵn mà nó luôn được khắc họa, xây dựng phù hợp với ý đồ tư tưởng của nhà văn. Trong tác phẩm văn học, nhân vật văn học giữ vai trò vô cùng quan trọng.
Qua cái nhìn của nhà văn, tính cách của nhân vật được nhào nặn theo mức độ nào đó, nhân vật sẽ trở thành hình tượng. Hình tượng được hiểu là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật chính là những vấn đề của đời sống được nhà văn tưởng tượng sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật của mình. Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng nó không phải sao chép y nguyên, hay làm theo bản mẫu nào đó, mà ở đó nhà văn có sự chọn lọc và sáng tạo mang đậm dấu ấn tư tưởng nhà văn.
Nó vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nhà văn. Hình tượng nghệ thuật không phải phản ánh các khách thể thực tại tự nó, mà thể hiện toàn bộ quan niệm và cảm thụ sống động của nhà văn với thực tại. Người đọc không chỉ nhìn nhận thực tại qua bề nổi, mà qua hình tượng nghệ thuật hiểu được nội dung ẩn sau mà tác giả muốn nói đến. Không phải tác phẩm văn học nào cũng có hình tượng văn học, không phải nhân vật nào trong tác phẩm cũng trở thành hình tượng nhân vật văn học.
Để trở thành hình tượng nhân vật thì nhân vật ấy phải có tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình.