CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN 1. Truyện thơ Nôm Tày Trong công trình của mình các nhà nghiên cứu đã dùng một số tên gọi như: truyện Nôm, truyện thơ Nôm, truyện thơ. và cũng đã đưa ra những quan niệm khác nhau. Theo Từ điển Văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX (Lại Nguyên Ân, NXB Giáo dục, 1999), truyện thơ Nôm là “một thể loại sáng tác tiếng Việt (chữ Nôm) thời trung đại, phát triển mạnh từ nửa sau thế kỉ XVIII và suốt thế kỉ XIX.
Số lượng tác phẩm nay còn tìm được khoảng trên 100 truyện, tạo thành một bộ phận khá lớn của sáng tác tự sự (cả chữ Hán và chữ Nôm) ở thời trung đại Việt Nam” [1, 664]. Khi xác định những đặc điểm của thể loại, nhà nghiên cứu Đặng Thanh Lê cho rằng: “Truyện Nôm nằm trong hệ thống tác phẩm phản ánh cuộc sống bằng phương thức tự sự. - có nghĩa là phản ánh cuộc sống xã hội thông qua sự trình bày, miêu tả có tính chất hoàn chỉnh vận mệnh một nhân vật và trên cơ sở ấy, sự phát triển có tính chất hoàn chỉnh của một tính cách nhân vật. sử dụng ngôn ngữ văn tự dân tộc: chữ Nôm” [16, 55 - 56].
Trong cuốn Truyện thơ Tày - Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại của tác giả Vũ Anh Tuấn có in bài viết “Truyện thơ” của nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật. Trong bài viết này Phan Đăng Nhật đưa ra quan niệm của mình về truyện thơ của dân tộc thiểu số (tương đương khái niệm truyện Nôm của người Kinh): “Văn học dân gian và các dân tộc nước ta (dân tộc đa số cũng như thiểu số) có nhu cầu sáng tạo và lưu truyền một loại hình thơ ca kể truyện dài hơi. Ở văn học Kinh, người ta gọi đó là truyện Nôm. Thực chất những tác phẩm được gọi là truyện Nôm (hoặc truyện Nôm bình dân) là những tác phẩm có tính chất tự sự diễn đạt bằng tiếng Việt, viết bằng chữ Nôm và đặc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c biệt là hình thức thơ ca dài hơi.
Do nhấn mạnh hình thức thơ ca nên có người đề nghị gọi là truyện thơ Nôm. Nếu ở người Kinh có truyện thơ Nôm thì ở các dân tộc thiểu số (DTTS) có một loại hình tương đương: truyện thơ. Đó là những tác phẩm tự sự dưới hình thức thơ ca. Ở các DTTS không cần phải phân biệt với tính bác học và hình thái ghi chép bằng chữ Hán.
Các dân tộc thiểu số nước ta có một kho tàng truyện thơ phong phú. Nhà nghiên cứu Vũ Anh Tuấn thì cho rằng truyện thơ là “một loại văn học dân gian đã thành văn và mới chỉ đặc biệt phát triển trong vài ba thế kỉ trở lại đây” [42, 12]. Bên cạnh đó có thể kể đến những quan niệm về truyện thơ như: “Truyện thơ là thể loại phát triển cuối cùng và cũng là đỉnh cao của dân ca Tày. Truyện thơ là thể thơ đã có sự chặt chẽ về vần điệu, và với nghệ thuật của thể này, đó là một thể thơ độc đáo của dân tộc Tày.
Về cách gieo vần chữ thứ bảy câu trên vần với chữ thứ năm câu dưới và cứ tiếp tục như thế với số chữ ổn định là bảy chữ, thích hợp với giọng kể chuyện, dễ nhớ cho người nghe, dễ đọc cho người kể” [42, 16]. Nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật thì cho rằng truyện thơ là một lời hát dài và “Truyện Nôm miền xuôi cũng như truyện thơ miền núi, đều là bước nối giữa văn học dân gian và văn học thành văn, đều mang tính chất của cả hai loại hình nói trên” [42, 20]. Nhà nghiên cứu Võ Quang Nhơn cũng coi truyện thơ là “một dấu nối giữa văn học truyền miệng và văn học thành văn” và khẳng định truyện thơ ở nhóm truyện thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức “đã thể hiện khá rõ tính chất thành văn, tiếp cận với đặc điểm thi pháp của văn học bác học và đánh dấu một bước phát triển mới của văn học dân gian” [42, 20]. Như vậy, có thể khái quát như sau: Truyện thơ Nôm Tày là một trong số những thể loại của văn học dân tộc Tày, là dạng sáng tác thành văn của dân tộc Tày, là những tác phẩm có tính chất tự sự diễn đạt bằng thơ tiếng Tày, viết bằng chữ Nôm Tày.
Các truyện thơ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Nôm Tày không rõ tác giả, phổ biến qua con đường truyền miệng, chủ yếu được các trí thức bản tộc lưu giữ lại bằng cách chép tay. Nội dung của các truyện thơ Nôm Tày phản ánh hiện thực cuộc sống, tâm tư tình cảm, ước mơ khát vọng của người dân Tày. Các văn bản truyện thơ Nôm Tày thường dùng thể thơ bảy chữ, vần lưng (chữ thứ bảy cuối câu trước vần với chữ thứ năm của câu sau). Hình tượng văn học Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa ra định nghĩa: “Hình tượng văn học là hình tượng nghệ thuật thể hiện bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật, hay còn gọi là nghệ thuật ngôn từ” [1; 149].
Chất liệu xây dựng nên những hình tượng này không phải là thực thể vật thể mà là một hệ thống kí hiệu, ngôn ngữ. Trong các công trình thuộc lĩnh vực Lí luận văn học như Lí luận văn học (Hà Minh Đức chủ biên, Nxb Giáo dục, 2011), Lí luận văn học (Phương Lựu chủ biên, Nxb Giáo dục, 2002), các nhà nghiên cứu cũng đã lí giải về hình tượng văn học. Hình tượng văn học trước hết là hình tượng nghệ thuật. Nó chính là một chiếc cầu, một dấu gạch nối giữa tác giả - tác phẩm và người đọc.
Người nghệ sĩ tạo ra tác phẩm văn học để thể hiện những nhận thức về đời sống, bộc lộ những suy nghĩ, đánh giá của mình về cuộc đời và cắt nghĩa các mối quan hệ xoay quanh chủ thể con người. Với bản chất là nghệ thuật ngôn từ, văn học không diễn đạt trực tiếp những ý nghĩ, tình cảm bằng định lí, công thức, bằng các khái niệm khô khan, trừu tượng mà đem đến cho độc giả thế giới quan sâu sắc qua hệ thống hình tượng nhân vật cụ thể. Hình tượng ấy có thể có thật, có thể được tạo dựng nên từ một nguyên mẫu nhưng cũng có thể là một hình tượng hư cấu. Song, hình tượng văn học luôn là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội – mang bản chất của con người mà qua đó, họ sẽ bộc lộ được những phẩm chất, tính cách, đặc điểm dựa trên nhu cầu và ý đồ phản ánh của người sáng tác.
Như vậy, hình tượng nghệ thuật là khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật. Hình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c tượng nghệ thuật dù là phương tiện để tái hiện cuộc sống nhưng không phải tô vẽ y nguyên như hội họa, ghi chép trung thực như lịch sử mà là kết quả của sự sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của người nghệ sĩ văn học. Qua những hình tượng đó, cụm từ “đồng sáng tạo” được phát huy tác dụng khi độc giả chính là đối tượng tiếp nhận và làm nên sức sống của tác phẩm văn học nói chung và hình tượng văn học nói riêng. Khai thác, phản ánh hình tượng tốt, tác phẩm sẽ khiến cho độc giả phải day dứt, trăn trở vì cuộc đời, số phận và những vấn đề xã hội đặt ra qua hình tượng văn học.
Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật bằng ngôn từ, tái hiện lại bức tranh hiện thực đời sống, thể hiện tư tưởng, quan niệm của nhà văn, nhà thơ qua việc xây dựng những hình tượng nghệ thuật cụ thể. Hình tượng văn học chính là hạt nhân quan trọng để hình thành nên các tác phẩm văn học. Hình tượng văn học là bức tranh đời sống vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượng. Đặc biệt, hình tượng này luôn mang giá trị thẩm mĩ và giá trị tư tưởng mà người sáng tác ghép lồng.
Hình tượng văn học đã đem đến cho các tác giả một phương tiện nghệ thuật để phản ánh. Khái quát về truyện thơ Nôm Tày Giai đoạn thế kỉ XVII - XIX là thời kì lên ngôi của truyện thơ Nôm Tày. Đây là một thể loại phổ biến và tiêu biểu, góp phần tạo nên diện mạo truyện thơ của nền văn học nước nhà. Truyện thơ Nôm Tày gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người Tày và là niềm tự hào của họ.
Truyện thơ Nôm Tày được ra đời và lưu truyền cho đến ngày nay cần phải kể đến sự xuất hiện của chữ Nôm Tày. Tuy nhiên, đây là một vấn đề đang được giới nghiên cứu quan tâm song thực không dễ dàng giải đáp. Hoàng Triều Ân trong Chữ Nôm Tày và thể loại truyện thơ có viết: “Nguồn gốc chữ Nôm Tày là do nhà túc nho Cao Bằng tên là Lê Thế Khanh chế tác đầu tiên; những nhà trí thức dân tộc đời sau tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh dần. Chữ Nôm Tày đã xuất hiện từ thế kỉ thứ V” [2;15].
Trong cuốn Truyện Nôm Tày - nguồn gốc, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c quá trình phát triển và thi pháp thể loại, tác giả Vũ Anh Tuấn kết luận: “Chữ Nôm Tày đến thế kỉ XVII đã trở nên hoàn hảo” [42;45]. Trong cuốn Lượn cọi tác giả Lục Văn Pảo có viết: “Như vậy, chữ Nôm Tày có từ cuối thời Lê là chắc chắn. Có điều là đẩy lên nữa đến thế kỉ nào thì còn phải tìm thêm căn cứ” [30; 13]. Với một vài giả thuyết và kết quả nghiên cứu, chúng ta có thể thấy, chữ Nôm Tày xuất hiện từ rất sớm và dần hoàn thiện vào khoảng thế kỉ XVI - XVII.
Đây là một cơ sở để thể loại truyện thơ Nôm Tày đạt được những thành tựu rực rỡ trên văn đàn văn học. Triều Ân cùng một số nhà nghiên cứu khác trong cuốn sách Chữ Nôm Tày và thể loại truyện thơ đã tìm cách truy nguyên nguồn gốc thể loại này: “Suy nghĩ tìm tòi truyện thơ Tày xuất hiện từ bao giờ, ta thấy có nét chung là xuất hiện từ sau khi có văn tự Nôm Tày (là thế kỉ thứ V); đi vào cụ thể từng pho truyện ta sẽ thấy sự xuất hiện khác nhau về thời điểm ta cần đọc xem xét nội dung truyện cũng như bối cảnh lịch sử, tương quan lịch sử của truyện đó” [2;32 - 33].