Khám Phá Hình Tượng Con Người Trong Nghệ Thuật Gốm Việt Nam Thời Lê Sơ (1428-1527)

Luận án tiến sĩ khám phá hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ (1428-1527), làm rõ giá trị văn hóa và lịch sử.

Chuyên ngành

Mỹ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

208
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng nghệ thuật gốm không chỉ là sản phẩm của kỹ thuật mà còn là biểu hiện của văn hóa và xã hội. Hình tượng con người (HTCN) trong nghệ thuật gốm thời kỳ này phản ánh sự phát triển của nghệ thuật Việt Nam và các mối quan hệ xã hội. Nhiều tác giả đã nhấn mạnh rằng HTCN là một phần không thể thiếu trong nghệ thuật truyền thống và có vai trò quan trọng trong việc thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng HTCN trong nghệ thuật gốm không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc.

1.1. Các công trình nghiên cứu trước đây

Nhiều công trình đã đề cập đến nghệ thuật gốm và HTCN, nhưng chủ yếu tập trung vào từng lĩnh vực riêng biệt như lịch sử, khảo cổ học, và mỹ thuật học. Hầu hết các nghiên cứu này chưa có sự tổng hợp để đưa ra cái nhìn toàn diện về HTCN trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ. Một số tác giả đã chỉ ra rằng HTCN trong nghệ thuật gốm không chỉ phản ánh đời sống xã hội mà còn là biểu hiện của các giá trị văn hóa, tâm linh của người Việt. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một nghiên cứu tổng hợp hơn về vấn đề này.

II. Khái lược về thời Lê sơ và nghề gốm Việt Nam

Thời kỳ Lê sơ (1428-1527) là giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu sự phục hưng của nghệ thuật gốm. Trong bối cảnh lịch sử này, nghề gốm phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở khu vực Bắc bộ. HTCN trong nghệ thuật gốm thời kỳ này không chỉ thể hiện sự phát triển của kỹ thuật mà còn phản ánh các giá trị văn hóa, xã hội. Các sản phẩm gốm không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt mà còn mang tính nghệ thuật cao, thể hiện sự sáng tạo và tài năng của người nghệ nhân. Hình ảnh con người trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ thường gắn liền với các chủ đề tôn giáo, tín ngưỡng và đời sống hàng ngày, cho thấy sự kết nối giữa nghệ thuật và đời sống xã hội.

2.1. Bối cảnh lịch sử và xã hội

Bối cảnh lịch sử thời Lê sơ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nghệ thuật gốm. Sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghề gốm phát triển. HTCN trong nghệ thuật gốm thời kỳ này không chỉ phản ánh đời sống xã hội mà còn thể hiện các giá trị văn hóa, tâm linh của người Việt. Các hình tượng con người thường được khắc họa trong các sản phẩm gốm, từ đó tạo nên một bức tranh sinh động về đời sống và văn hóa của thời kỳ này.

III. Nội dung và ngôn ngữ thể hiện hình tượng con người

Nội dung thể hiện HTCN trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ rất phong phú và đa dạng. Các hình tượng con người không chỉ đơn thuần là những hình khối mà còn mang trong mình những ý nghĩa sâu sắc về văn hóa và xã hội. Ngôn ngữ nghệ thuật trong việc thể hiện HTCN rất đặc trưng, từ hình thức đến nội dung, phản ánh rõ nét các giá trị thẩm mỹ của thời kỳ. Các nghệ nhân đã sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để tạo ra những sản phẩm gốm độc đáo, thể hiện sự sáng tạo và tài năng của mình. HTCN trong nghệ thuật gốm không chỉ là biểu hiện của cái đẹp mà còn là sự phản ánh của đời sống tinh thần và văn hóa của người Việt.

3.1. Nội dung thể hiện hình tượng con người

Nội dung thể hiện HTCN trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ rất phong phú, từ các hình tượng thần thoại đến các nhân vật trong đời sống hàng ngày. Những hình tượng này không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, tâm linh. Các sản phẩm gốm thường được trang trí bằng các hình ảnh con người trong các hoạt động sinh hoạt, tôn giáo, và tín ngưỡng, cho thấy sự kết nối giữa nghệ thuật và đời sống xã hội. Điều này cho thấy rằng HTCN trong nghệ thuật gốm không chỉ đơn thuần là hình ảnh mà còn là biểu hiện của các giá trị văn hóa sâu sắc.

IV. Các giá trị và phát huy giá trị thẩm mỹ

Giá trị thẩm mỹ của HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ rất đa dạng và phong phú. Các hình tượng con người không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn. Việc phát huy giá trị thẩm mỹ của HTCN trong nghệ thuật gốm hiện đại là rất cần thiết. Các nghệ nhân và họa sĩ có thể lấy cảm hứng từ các hình tượng con người trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ để sáng tạo ra những sản phẩm mới, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Điều này không chỉ giúp bảo tồn giá trị văn hóa mà còn tạo ra những sản phẩm nghệ thuật độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc.

4.1. Phát huy giá trị thẩm mỹ trong nghệ thuật gốm đương đại

Việc phát huy giá trị thẩm mỹ của HTCN trong nghệ thuật gốm hiện đại là rất quan trọng. Các nghệ nhân có thể kết hợp giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại để tạo ra những sản phẩm gốm độc đáo. Điều này không chỉ giúp bảo tồn giá trị văn hóa mà còn tạo ra những sản phẩm nghệ thuật mới, mang đậm bản sắc dân tộc. Sự kết hợp này sẽ tạo ra một môi trường văn hóa thẩm mỹ phong phú, góp phần nâng cao nhận thức về văn hóa và nghệ thuật trong xã hội hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hình tượng con người trong nghệ thuật gốm việt nam thời lê sơ 1428 1527

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của luận án Chương 2: Khái lược về thời Lê sơ và nghề gốm Việt Nam thời Lê sơ. Chương 3: Nội dung và ngôn ngữ thể hiện hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ. Chương 4: Các giá trị và phát huy giá trị thẩm mỹ của hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ với nghệ thuật gốm Việt Nam đương đại. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Hình tượng con người là một đề tài hằng xuyên trong diễn trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam nói chung, trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ cũng không phải là ngoại lệ. Trong sự vận động của các QHTM giữa con người và hiện thực, bằng ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng của chất liệu gốm, HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ biểu hiện sự vận động của cái đẹp trong các hình thức tồn tại khác nhau nghệ thuật tạo hình. Mặt khác, thông qua HTCN trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ, đời sống thẩm mỹ của một giai đoạn lịch sử được tái hiện tương đối đầy đủ trong sự phức hợp của các QHTM với hiện thực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nó là biểu hiện của một lĩnh vực tinh tế và nhạy cảm của đời sống tinh thần con người, một bộ phận hữu cơ cấu thành văn hóa nhân loại, biểu hiện trình độ phát triển cao của các quan hệ văn hóa, xã hội.

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu (cả trong nước và nước ngoài) ở rất nhiều góc độ khác nhau (triết học, văn hóa học, nghệ thuật học.), với những mức độ khác nhau (liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp) bàn về chủ đề nghệ thuật gốm, HTCN trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ. Theo đó, NCS tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án “Hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ” với các chủ đề sau: - Nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật Việt Nam và nghề gốm Việt Nam thời Lê sơ; - Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa, xã hội với lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật gốm hoa lam Việt Nam thời Lê sơ; - Nghiên cứu về HTNT và HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ. Nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật Việt Nam và nghề gốm Việt Nam thời Lê sơ Trước hết, phải kể đến công trình Lược sử mỹ thuật và mỹ thuật học của nhóm tác giả Chu Quang Trứ, Phạm Thị Chính, Nguyễn Thái Lai. Trong cuốn sách này, phần hai “Lịch sử mỹ thuật Việt Nam”, chương VI: Mỹ thuật thời Lê sơ 10 [46,tr194] có đề cập đến sự phát triển của mỹ thuật thời Lê sơ là một tổng thể của ba loại hình nghệ thuật kiến trúc (kiến trúc cung đình và kiến trúc tôn giáo), điêu khắc và hội họa.

Tuy không đề cập đến chất liệu gốm cũng như nghệ thuật gốm nhưng cuốn sách này đã khái lược những nét cơ bản về mỹ thuật thời Lê sơ, cùng những khái niệm cơ bản về mỹ thuật nói chung có thể áp dụng cho các chất liệu được sử dụng trong sáng tác mỹ thuật. Cuốn sách Mỹ thuật của người Việt của Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng nghiên cứu tổng quan lịch sử phát triển của mỹ thuật Việt Nam truyền thống từ thời kỳ đồ đá đến đầu thế kỷ XX. Nghiên cứu về nghệ thuật gốm thời Lê sơ, các tác giả đã nêu được đặc trưng chất liệu là gốm men trắng ngà, vẽ màu lam bằng bút mềm tự do [32,tr138], phong cách nghệ thuật mang tính mô tả giản lược, cùng một số nhận xét tương đối rõ nét về diện mạo mỹ thuật thời Lê sơ như sự kết hợp không nhuần nhuyễn, sự tiếp thu chưa chọn lọc., nên còn thấy rõ dấu hiệu của sự gắn ghép các yếu tố nghệ thuật Trung Hoa với truyền thống trong nước. Đây là một đặc điểm quan trọng nói lên tính chất giao thời của nghệ thuật Lê sơ [32,tr138].

Các tác giả cho rằng về sự áp dụng Khổng giáo, thời Lê sơ đã tỏ ra bất lực trước nhiệm vụ, vai trò mà vương quyền giao cho, để rồi “nghệ thuật tạo hình thời Lê sơ là một thử nghiệm không thành công của nghệ thuật cung đình - tập quyền và Khổng giáo khủng hoảng” [32,tr118]. Trong bối cảnh đó, “bia đá và đồ gốm chính là thành tựu lớn đã tạo ra trường phái và phong cách duy nhất của thế kỷ này với một nhân tố mới là “sự thanh thoát và mộc mạc có học, vừa hiện thực vừa tinh thần hóa cao” Cuốn Mỹ thuật thời Lê sơ, Nguyễn Đức Nùng cũng đề cập đến 4 thể loại mỹ thuật: kiến trúc, điêu khắc, hội họa trang trí và đồ gốm như hai công trình nghiên cứu trình bày ở trên [29,tr66-71]. Cuốn sách Một con đường tiếp cận lịch sử của tác giả Trần Lâm Biền là một tập hợp các nghiên cứu về mỹ thuật và kiến trúc dưới góc độ tâm linh của người Việt cổ [5]. Dựa vào đặc trưng kết cấu xã hội của người Việt, tác giả từng bước nghiên cứu bản chất của xã hội đó đến sự hình thành nhận thức thẩm mỹ cũng như quan niệm về cái đẹp của người Việt, đặc biệt là sự giải mã các hình tượng, biểu tượng, cũng như giá trị nhân văn của nó trong đời sống xã hội, có liên quan đến giá trị thẩm mỹ của HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ.

Cuốn Nghệ thuật gốm Việt Nam của Trần Khánh Chương [9], với 158 trang nội dung là kết cấu của những bài viết giới thiệu khái lược tổng quan nghệ thuật 11 gốm Việt Nam trên hai phương diện, chất liệu kỹ thuật và nghệ thuật ở một số dòng gốm truyền thống chủ đạo như gốm hoa nâu, gốm men ngọc, gốm hoa lam. Năm 2001, trong cuốn Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ, tác giả Trần Khánh Chương đã tập hợp 30 bài viết về gốm Việt Nam của mình. Trong các bài: Nghệ thuật gốm hoa lam Việt Nam, tr. 130, Tượng gốm Việt Nam, tr.

229, và Gốm - từ truyền thống đến hiện đại, tr. 274, với khái niệm “Gốm hoa lam là thuật ngữ để chỉ các loại sản phẩm gốm được trang trí bằng hoa văn màu lam, mà chất liệu phát màu chủ yếu là ô xít”[10,tr131]. Theo ông, thời Lê sơ, gốm hoa lam là những sản phẩm có phẩm chất kỹ thuật cao, nghệ thuật độc đáo, thu hút được người dùng, khiến nó thay thế dần gốm hoa nâu nổi tiếng của thời Lý - Trần. Về cơ bản luận án có thể kế thừa và phát triển sâu hơn trong luận giải về hình thức biểu hiện của HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ.

Trong cuốn Hoàng thành Thăng Long, Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Khảo cổ học - 2006, NCS quan tâm đến chương IV giới thiệu về đồ gốm sứ trong hoàng cung Thăng Long, trong đó có gốm thời Lê sơ đã được phân loại và xác định chủ yếu là loại gốm xương mỏng thấu quang có minh văn là chữ “quan” được sản xuất ở lò quan Thăng Long với chất lượng tốt nhất và đây chính là những đồ ngự dụng dành cho vua nhà Lê sơ[21,tr74 ] bên cạnh những trung tâm gốm hoa lam như Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (Nam Sách - Hải Dương). Trong cuốn Vietnamese Ceramics: A Separate Tradition (Gốm Việt Nam: một truyền thống riêng biệt) của John Stevenson & John Guy (eds), NCS tập trung vào một số bài sau: John Guy trong bài Vietnamese Ceramics and Cultural Identity (Gốm Việt Nam và bản sắc văn hóa) đã nghiên cứu nghệ thuật gốm Việt Nam trong mối quan hệ văn hóa khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc [56,tr10-21]. NCS lấy đó làm cơ sở so sánh, đối chiếu, tìm ra những đặc điểm chung trong sự tiếp biến văn hóa với các yếu tố bên ngoài, nhằm khẳng định những giá trị riêng có của nghệ thuật gốm Việt Nam thông qua HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ. John Stevenson có bài The evolution of Vietnamese Ceramics (Cuộc cách tân của gốm Việt Nam), nghiên cứu tiến trình phát triển của gốm Việt Nam trên các phương diện kỹ thuật, nghệ thuật, thẩm mỹ, mối quan hệ của nghệ thuật gốm trong môi trường chính trị xã hội [58,tr22-45].

Tác giả đã tìm ra cái đặc trưng riêng biệt của năng lực cảm thụ cái đẹp của thợ gốm Việt Nam: “Thợ gốm Trung Quốc cảm 12 nhận cái đẹp bằng mắt, thợ gốm Việt Nam cảm nhận cái đẹp bằng con tim” (Chinese pottery is good for the eye, Vietnamese pottery is good for the heart)[58,tr43]. John Guy, Vietnamese Ceramics in International Trade (Gốm Việt Nam trong thương mại quốc tế), nghiên cứu đồ gốm Việt Nam trong mối quan hệ kinh tế ngoại thương[57,tr47-60]. Trong nghiên cứu này, tác giả cho thấy, con đường thương mại cũng chính là môi trường cho sự vận động tiếp biến của văn hóa. Philippe Truong trong bài viết From Prehistory to Han (Từ thời tiền sử đến Hán) [59,tr95-108] cho thấy, tác động của Trung Quốc là trực tiếp rõ ràng, nhưng thợ gốm Việt đón nhận thụ động trên cơ sở áp đặt hay đơn thuần chỉ là sao chép, họ đã sáng tạo nên các sản phẩm mới với các yếu tố mới trên nền tảng được học hỏi, tạo nên tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam qua sự biểu hiện của nghệ thuật gốm Việt Nam.

Regina Krahl trong công trình Vietnamese Blue and White and related wares (Gốm hoa lam Việt Nam trong mối quan hệ đồ gốm), chủ yếu là trình bày các vấn đề về mối quan hệ giữa gốm hoa lam Việt Nam với nghệ thuật gốm Trung Quốc các đời Nguyên, Minh. Trong nghiên cứu này, tác giả có đề cập đến một loại đồ gốm được gọi là kendi vốn có nguồn gốc từ đồ kim khí phổ biến dưới triều Minh[60,tr 154], được thể hiện bằng ngôn ngữ đặc trưng của gốm hoa lam ở cả hai loại hình điêu khắc và hội họa. Bùi Minh Trí, Kerry Nguyễn Long 2001, Vietnamese Blue and White Ceramics (Gốm hoa lam Việt Nam ). Trên nền tảng khảo cổ học, nghiên cứu này khái lược tiến trình lịch sử của dòng gốm hoa lam Việt Nam từ khái niệm, nguồn gốc, các trung tâm sản xuất, đặc trưng nghệ thuật đến bối cảnh xuất khẩu[44,tr8], liên quan đến các QHTM trong nghiên cứu HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ dưới góc nhìn của khoa học mỹ học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Hình Tượng Con Người Trong Nghệ Thuật Gốm Việt Nam Thời Lê Sơ (1428-1527)" là một nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật gốm Việt Nam, tập trung vào việc phân tích hình tượng con người được thể hiện qua các tác phẩm gốm thời kỳ Lê Sơ. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn chi tiết về lịch sử nghệ thuật mà còn làm nổi bật giá trị văn hóa, tinh thần và thẩm mỹ của gốm Việt Nam trong giai đoạn này. Độc giả sẽ được khám phá cách nghệ thuật gốm phản ánh đời sống, tư tưởng và xã hội thời Lê Sơ, đồng thời hiểu rõ hơn về sự phát triển của nghệ thuật truyền thống Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến lịch sử và văn hóa, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ sạp thái ở tây bắc xưa và nay nghiên cứu địa bàn huyện điện biên tỉnh điện biên 02, một tài liệu khám phá văn hóa và lịch sử địa phương. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005 cung cấp góc nhìn về chính sách và quản lý văn hóa. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên các trường cao đẳng ở tỉnh nam định hiện nay là một nghiên cứu thú vị về giáo dục và tư tưởng, giúp bạn hiểu sâu hơn về sự kết nối giữa văn hóa và giáo dục.