Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Mỹ học của tác giả Phan Thanh Sơn nghiên cứu đề tài "Hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ (1428 - 1527)", thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Tạ Ngọc Tấn và PGS. TS. Vũ Thị Phương Hậu.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Nghệ thuật gốm Việt Nam từ sơ kỳ đá mới đến thời kỳ kim khí và các triều đại Lý, Trần luôn là bộ phận cấu thành quan trọng của nền mỹ thuật truyền thống. Đến thời Lê sơ, nghệ thuật gốm bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ với dòng gốm hoa lam, trong đó hình tượng con người xuất hiện phong phú ở cả sản phẩm ứng dụng lẫn tượng điêu khắc tròn. Tuy nhiên, các công trình trước đây về nghệ thuật gốm hoặc hình tượng con người chủ yếu tiếp cận theo từng chuyên ngành biệt lập như lịch sử, khảo cổ học, dân tộc học hay mỹ thuật học; đa phần tập trung khảo sát chất liệu gỗ, đá (như điêu khắc đình làng thế kỷ XVII - XVIII) mà chưa đi sâu vào chất liệu gốm thời Lê sơ. Khoảng trống lớn nhất là việc hình tượng con người trên gốm Lê sơ chưa từng được đặt vào hệ thống các quan hệ thẩm mỹ dưới lăng kính mỹ học Mác - Lênin để đánh giá một cách toàn diện, biện chứng và có hệ thống.
  • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ đặc trưng nghệ thuật, sự vận động và giá trị thẩm mỹ của hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ; từ đó bàn luận về giải pháp phát huy giá trị thẩm mỹ truyền thống vào nghệ thuật gốm đương đại, phục vụ xây dựng đời sống thẩm mỹ hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ):
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
    2. Đánh giá khái quát bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và tình hình phát triển nghề gốm thời Lê sơ.
    3. Làm sáng tỏ nội dung và hình thức thể hiện hình tượng con người trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ trong các quan hệ thẩm mỹ.
    4. Bàn luận về giá trị thẩm mỹ của hình tượng con người trên gốm Lê sơ và đề xuất các khuyến nghị phát huy giá trị trong nghệ thuật gốm đương đại.
  • Giả thuyết nghiên cứu (gồm 3 giả thuyết):
    1. Tồn tại một mạch nguồn mỹ học dân tộc xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại trong nghệ thuật gốm Việt Nam; trong đó dòng gốm hoa lam thời Lê sơ giữ vị trí quan trọng đối với sự đa dạng của nghệ thuật gốm đương đại.
    2. Hình tượng nghệ thuật là biểu hiện mang tính người cao nhất, và hình tượng con người trong nghệ thuật gốm truyền thống là biểu hiện tập trung nhất của mỹ học dân gian truyền thống.
    3. Đời sống thẩm mỹ giữa truyền thống và hiện đại luôn tồn tại mối quan hệ tương tác, tác động đến cả chủ thể và khách thể thẩm mỹ, tạo nên giá trị thẩm mỹ cho hình tượng con người trong nghệ thuật gốm.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ qua sự biểu hiện trên các hiện vật và qua các tài liệu nghiên cứu khảo cổ, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Thời gian: Tập trung vào giai đoạn nhà Lê sơ (1428 - 1527); mở rộng khảo sát nghệ thuật gốm Việt Nam đương đại từ những năm 2000 đến nay để đối sánh và bàn luận giải pháp kế thừa.
    • Không gian: Châu thổ Bắc Bộ – trung tâm văn hóa của tộc người chủ thể (người Việt).
    • Địa bàn điền dã: Hà Nội, Hải Dương, tập trung tại các trung tâm gốm truyền thống như Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu, Cậy (Hải Dương) và các bộ sưu tập hiện vật tại các bảo tàng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm hướng nghiên cứu chính:

Hướng nghiên cứu Tác giả, công trình và năm công bố tiêu biểu Nội dung và giá trị tham khảo
Lịch sử mỹ thuật và nghề gốm Việt Nam thời Lê sơ - Chu Quang Trứ, Phạm Thị Chính, Nguyễn Thái Lai (1998), Lược sử mỹ thuật và mỹ thuật học
- Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng (1989), Mỹ thuật của người Việt
- Nguyễn Đức Nùng, Mỹ thuật thời Lê sơ
- Trần Khánh Chương (1995, 2001), Nghệ thuật gốm Việt Nam, Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ
- Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Khảo cổ học (2006), Hoàng thành Thăng Long
- John Stevenson & John Guy (1997), Vietnamese Ceramics: A Separate Tradition
- Bùi Minh Trí, Kerry Nguyễn Long (2001), Vietnamese Blue and White Ceramics
Cung cấp diện mạo tổng thể về mỹ thuật thời Lê sơ (kiến trúc, điêu khắc, đồ gốm); đặc trưng gốm hoa lam men trắng ngà vẽ lam bằng bút mềm tự do; sự xuất hiện của gốm ngự dụng xương mỏng thấu quang in chữ "quan" tại Thăng Long; bối cảnh giao thương quốc tế của gốm Việt Nam tại Đông Nam Á, Nhật Bản và Trung Đông.
Mối quan hệ giữa văn hóa, xã hội và gốm hoa lam - Margaret Medley, The Chinese Potter
- Hoàng Xuân Chinh, Cổ vật gốm sứ Trung Quốc
- Diệp Lang, Đại cương lịch sử mỹ học Trung Quốc
- Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam
- Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Đất nước Việt Nam qua các đời
- Vũ Anh Tú, Tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội dân gian người Việt ở châu thổ Bắc bộ
- Phạm Đức Dương, Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
- Trương Minh Hằng, Văn hóa gốm của người Việt vùng đồng bằng sông Hồng
Cung cấp cơ sở nhận diện cấu trúc làng xã, bối cảnh tam giáo đồng đường, cơ tầng văn hóa Đông Nam Á và tín ngưỡng phồn thực; mối liên hệ giữa các làng gốm với hệ thống sông ngòi; quá trình tiếp biến văn hóa và bản địa hóa trước ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa (Tống, Nguyên, Minh).
Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình - Trần Lâm Biền (2001, 2011), Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt, Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội (đồng tác giả với Trịnh Sinh)
- Chu Quang Trứ, Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc
- Nguyễn Đình Chiến, Phạm Quốc Quân (2008, 2013), Gốm sứ trong năm con tàu cổ ở vùng biển Việt Nam, bài báo Về đề tài “làm tình” trên gốm sứ cổ
- Trần Quang Đức (2017), Ngàn năm áo mũ
- Trần Đình Tuấn (2013), luận án Hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình làng vùng châu thổ sông Hồng
Khảo cứu sự tiến triển của hình tượng con người từ dạng "bán linh nhân" thời Lý - Trần sang thế kỷ XV - XVI; phân tích hiện vật gốm từ con tàu đắm Cù Lao Chàm (chủ đề sinh hoạt, quý tộc, tiên nhân, đề tài giao hoan nam nữ); khảo cứu trang phục cổ làm cơ sở đối sánh nhân dạng.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các tài liệu trên đã phác thảo những nét đại cương về mỹ thuật và gốm cổ, song hình tượng con người trên gốm thời Lê sơ hầu như mới chỉ dừng ở mức giới thiệu khảo cổ học, mô tả hiện vật đơn lẻ hoặc lồng ghép sơ lược trong các công trình điêu khắc gỗ đá. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về hình tượng con người trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ dưới góc độ khoa học mỹ học Mác - Lênin, gắn liền với các quan hệ thẩm mỹ (chủ thể - đối tượng - nghệ thuật) và chưa có sự liên hệ mang tính định hướng đối với nghệ thuật gốm đương đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của mỹ học Mác - Lênin, kết hợp các lý thuyết chuyên ngành và phương pháp nghiên cứu liên ngành:

1. Cơ sở lý luận và khung lý thuyết

  • Lý thuyết giá trị thẩm mỹ: Giá trị thẩm mỹ được cấu thành từ mối quan hệ giữa Chân - Thiện - Mỹ, được đánh giá qua 3 tiêu chuẩn/tiêu chí:
    • Tiêu chí tính nhân văn: Xác định bản chất con người là trung tâm trong hiện thực lịch sử thời Lê sơ, làm rõ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và lịch sử.
    • Tiêu chí sự hài hòa và hoàn thiện thẩm mỹ: Xem xét tính toàn vẹn, thống nhất giữa nội dung xã hội và kết cấu hình thức nghệ thuật của hình tượng con người trên gốm, thể hiện sự hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng.
    • Tiêu chí tính sáng tạo thẩm mỹ: Tiêu chí tổng hợp cao nhất, phản ánh năng lực sáng tạo của nghệ nhân gốm trong việc chuyển tải các giá trị tinh thần thành sản phẩm vật chất mang tính thẩm mỹ cao.
  • Lý thuyết phản ánh của chủ nghĩa Mác - Lênin: Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người và được cải biến trong đó; nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Quá trình này được triển khai qua 3 giai đoạn:
    1. Trao đổi thông tin: Giữa chủ thể sáng tạo (thợ gốm) và đối tượng phản ánh (hiện thực chính trị, kinh tế, đời sống văn hóa xã hội).
    2. Mô hình hóa đối tượng: Xử lý, nhào nặn thông tin trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần.
    3. Hiện thực hóa tư tưởng: Chuyển mô hình tư duy thành hiện thực khách quan thông qua ngôn ngữ tạo hình gốm (đường nét, mảng màu lam, khối điêu khắc).
  • Hệ thống khái niệm công cụ: Luận án định nghĩa và chuẩn hóa các khái niệm: Nghệ thuật, Hình tượng nghệ thuật, Con người (thực thể sinh học - xã hội), Mỹ thuật (hội họa, đồ họa, điêu khắc, trang trí), Nghệ thuật gốm (sự tổng hòa của điêu khắc, trang trí và hội họa trên nền đất sét nung), và Giá trị thẩm mỹ.

2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa tại các làng nghề gốm cổ có từ thời Lê sơ như Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội), Chu Đậu, Cậy (Nam Sách, Hải Dương) và các bảo tàng lưu giữ hiện vật gốm.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp nghệ nhân Bát Tràng (Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Văn Hoạt, Vũ Thị Hải Lý), nghệ nhân Chu Đậu (NNƯT Hạ Bá Định, Hạ Quang Long), các họa sĩ và chuyên gia gốm (Đặng Toàn Hưng, Hoàng Tiến Thanh, kỹ sư silicat Nguyễn Phương Loan, nhà điêu khắc Nguyễn Xuân Thủy, nhà nghiên cứu Vũ Đình Nhâm, họa sĩ Nguyễn Hải Ninh).
  • Phương pháp tổng hợp, hệ thống: Khai thác và xử lý nguồn sử liệu thành văn chính thống (Đại Việt sử ký toàn thư), truyền thuyết dân gian, tài liệu khảo cổ và các ấn phẩm khoa học đã công bố.
  • Phương pháp phân tích tài liệu: Bóc tách dữ liệu từ các báo cáo khảo cổ học, lịch sử mỹ thuật để rút ra các luận điểm khoa học phục vụ đề tài.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp mỹ học với văn hóa học, mỹ thuật học, dân tộc học, xã hội học và sử học.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh hình tượng con người trên gốm qua các thời kỳ lịch sử (Lý, Trần, Lê sơ); đối chiếu gốm với điêu khắc gỗ, đá dân gian; so sánh gốm hoa lam Lê sơ với gốm sứ Trung Quốc các thời Tống, Nguyên, Minh nhằm chỉ ra tính bản địa và sự tiếp biến văn hóa.
  • Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Tiếp cận hình tượng con người từ chỉnh thể đến các yếu tố cấu thành (nhân dạng, biểu tượng, trang phục, bố cục).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của luận án

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành ba nhóm chủ đề: lịch sử mỹ thuật - nghề gốm Lê sơ; văn hóa - xã hội gắn với gốm hoa lam; hình tượng con người trong mỹ thuật truyền thống. Luận án phân tích các hạn chế của tài liệu đi trước, chỉ rõ việc thiếu vắng các công trình mỹ học chuyên sâu về hình tượng con người trên gốm Lê sơ. Trên cơ sở đó, chương này thiết lập khung lý luận dựa trên mỹ học Mác - Lênin với hai trụ cột là lý thuyết phản ánh và lý thuyết giá trị thẩm mỹ (ba tiêu chí: nhân văn, hài hòa - hoàn thiện, sáng tạo). Đồng thời, tác giả chuẩn hóa hệ thống khái niệm công cụ, xác định cấu trúc phân tích hình tượng con người trong quan hệ thẩm mỹ gồm ba thành tố: chủ thể thẩm mỹ (thợ gốm), đối tượng thẩm mỹ (con người và hiện thực thời Lê sơ), và nghệ thuật trong quan hệ thẩm mỹ.

Chương 2: Khái lược về thời Lê sơ và nghề gốm Việt Nam thời Lê sơ

Chương 2 phân tích bối cảnh lịch sử và diện mạo nghề gốm Đại Việt giai đoạn 1428 - 1527:

  • Bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội: Sau khi giải phóng đất nước năm 1427, nhà Lê thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông" năm 1428 (cho 25 vạn quân về quê làm ruộng), khôi phục nông nghiệp và thủ công nghiệp. Về hành chính, năm 1466 chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên; năm 1471 lập thêm đạo thứ 13 là Quảng Nam. Nhà nước Lê sơ xác lập mô hình quân chủ quan liêu chuyên chế tập quyền cao độ, lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống qua thi cử. Về xã hội, triều đình xóa bỏ chế độ thái ấp của quý tộc, cơ cấu xã hội phân thành hai giai cấp chính là địa chủ và nông dân; Điều 168 Bộ luật Hồng Đức (Lê triều hình luật) nghiêm cấm việc lập gia nô, từng bước hạn chế và xóa bỏ tầng lớp nô tỳ. Về văn hóa, tuy độc tôn Nho giáo nhưng thực tế đời sống xã hội vẫn duy trì cấu trúc "tam giáo đồng đường" kết hợp tín ngưỡng bản địa tại các làng xã.
  • Nghề gốm và mạng lưới thương mại: Gốm hoa lam đạt đến đỉnh cao kỹ thuật và nghệ thuật. Luận án chỉ ra sự phân vùng sản xuất tại đồng bằng sông Hồng với các trung tâm tiêu biểu: Thăng Long (sản xuất đồ ngự dụng xương mỏng thấu quang in chữ "quan"), Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu và Cậy (Hải Dương). Đồ gốm phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu qua các thương cảng lớn như Vân Đồn, Vạn Ninh, Hội Thống. Thị trường xuất khẩu vươn tới Đông Nam Á (minh chứng qua con tàu cổ Cù Lao Chàm đắm tại Quảng Nam khai quật giai đoạn 1997 - 2000), Nhật Bản (thương cảng Sakai, Osaka, đảo Ryukyu), và vùng Trung Đông (tiêu biểu là bình gốm hoa lam năm 1450 tại Bảo tàng Topkapi Saray, Thổ Nhĩ Kỳ mang dòng chữ Hán: "Thái Hòa bát niên, tượng nhân Nam Sách châu Bùi thị hý bút").

Chương 3: Nội dung và ngôn ngữ thể hiện hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ

Chương 3 là phần trọng tâm khảo sát trực tiếp hiện vật gốm:

  • Nội dung thể hiện: Hình tượng con người trên gốm Lê sơ phản ánh bức tranh hiện thực đa tầng:
    • Phản ánh tầng lớp quý tộc, quan lại, nho sĩ và đời sống bình dân (lao động, sinh hoạt, đánh cá, chăn trâu).
    • Phản ánh thế giới tôn giáo, tín ngưỡng và thần thoại: Tiên ông, tiên bà, các nhân vật truyền thuyết, biểu tượng Đạo giáo và Phật giáo hòa quyện.
    • Phản ánh đề tài tính dục và tín ngưỡng phồn thực: Điển hình là hiện vật mảnh đĩa gốm hoa lam đường kính 12,5 cm từ tàu cổ Cù Lao Chàm, thể hiện cảnh người phụ nữ giơ chân lên trời dưới lực đỡ của người đàn ông đang ngồi xổm giao hoan, bên cạnh có nhân vật thứ ba đứng chứng kiến.
  • Ngôn ngữ thể hiện:
    • Tạo hình không gian: Tồn tại ở hai dạng chính gồm điêu khắc hình khối 3 chiều (tượng tròn, ấm kendi tạo hình bầu ngực phụ nữ tiếp biến văn hóa Chăm) và hội họa/trang trí 2 chiều trên mặt cong đồ gia dụng (bát, đĩa, bình, lọ, hộp phấn).
    • Đường nét và màu sắc: Sử dụng men trắng ngà làm nền, họa tiết vẽ bằng màu lam oxit coban dưới men. Nghệ nhân sử dụng bút lông mềm vẽ phóng khoáng, tự do, nét vẽ giàu tính biểu cảm và nhịp điệu.
    • Phong cách biểu hiện: Mang tính ước lệ cao nhưng sống động, không nệ thực, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật tiếp thu từ bên ngoài (Trung Quốc, Chăm pa) với tâm hồn và tư duy thẩm mỹ mộc mạc, thanh thoát của người Việt.

Chương 4: Các giá trị và phát huy giá trị thẩm mỹ của hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ với nghệ thuật gốm Việt Nam đương đại

Chương 4 đúc kết các giá trị thẩm mỹ và đề xuất phương hướng ứng dụng:

  • Các giá trị thẩm mỹ cốt lõi:
    • Giá trị phản ánh hiện thực: Hình tượng con người trên gốm đóng vai trò như một "hiện thực thứ hai", tái hiện chân thực đời sống sinh hoạt, tâm tư, tín ngưỡng và cấu trúc xã hội thời Lê sơ.
    • Giá trị nhân văn và sáng tạo: Thể hiện tinh thần lạc quan, tình yêu cuộc sống, sự giải phóng cảm xúc dân gian mộc mạc vượt ra ngoài sự gò bó của khuôn mẫu Nho giáo cung đình.
    • Giá trị bản sắc dân tộc: Khẳng định bản lĩnh sáng tạo độc lập của thợ gốm Đại Việt, thể hiện tinh thần "giải Hoa" qua ngôn ngữ tạo hình thuần Việt.
  • Phát huy giá trị trong nghệ thuật gốm đương đại (từ năm 2000 đến nay):
    • Luận án phân tích thực trạng gốm đương đại và chỉ ra bài học kế thừa từ gốm Lê sơ về bút pháp vẽ lam tự do, thủ pháp tạo hình cách điệu và việc đưa hình tượng con người đời thường vào tác phẩm.
    • Đề xuất các giải pháp mang tính lý luận và thực tiễn nhằm giúp các nghệ nhân làng nghề, họa sĩ, nhà điêu khắc dung hòa giữa tính dân tộc và tính thời đại, xây dựng cấu trúc tạo hình mở, tiếp thu cái mới nhưng vẫn bảo tồn bản sắc văn hóa bản địa.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận:
    • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận toàn diện hình tượng con người trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ dưới góc độ khoa học mỹ học Mác - Lênin.
    • Xây dựng thành công mô hình cấu trúc phân tích quan hệ thẩm mỹ đối với sản phẩm mỹ thuật cổ, làm rõ mối liên hệ biện chứng giữa chủ thể sáng tạo (thợ gốm), đối tượng thẩm mỹ (hiện thực đời sống xã hội Lê sơ) và tác phẩm nghệ thuật.
    • Làm sáng tỏ quy luật vận động của ý thức thẩm mỹ dân tộc trong bối cảnh lịch sử có sự giao thoa phức tạp giữa Nho giáo độc tôn và mạch ngầm văn hóa dân gian bản địa.
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Hệ thống hóa, phân loại và phân tích chi tiết diện mạo, nội dung cùng ngôn ngữ tạo hình của hình tượng con người trên gốm hoa lam Lê sơ qua nguồn tư liệu hiện vật xác thực (gốm Hoàng thành Thăng Long, gốm Chu Đậu, gốm Bát Tràng, hiện vật tàu đắm Cù Lao Chàm, hiện vật tại Bảo tàng Topkapi Saray).
    • Đưa ra những đề xuất khoa học cụ thể định hướng cho các nhà nghiên cứu, họa sĩ và nghệ nhân gốm đương đại trong việc khai thác vốn cổ, chuyển hóa các yếu tố thẩm mỹ truyền thống vào sáng tác gốm nghệ thuật và gốm ứng dụng hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn tư liệu hiện vật gốm thời Lê sơ có hình tượng con người chịu sự phân tán lớn, phần nhiều nằm sâu trong các tầng khảo cổ hoặc các bộ sưu tập tư nhân trong và ngoài nước nên việc tiếp cận toàn diện gặp rào cản nhất định. Phạm vi khảo sát không gian chủ yếu tập trung tại châu thổ Bắc Bộ, chưa mở rộng đối sánh sâu với các trung tâm sản xuất gốm ở các vùng lãnh thổ phía Nam mới sáp nhập thời kỳ đó.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát hình tượng con người trên các chất liệu gốm thuộc các giai đoạn lịch sử kế tiếp (nhà Mạc, Lê Trung Hưng, triều Nguyễn) nhằm thiết lập một hệ thống tiến trình hoàn chỉnh về mỹ học gốm Việt Nam; nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giao lưu thẩm mỹ giữa gốm Việt Nam với gốm sứ các quốc gia trong khu vực châu Á trên con đường tơ lụa trên biển.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo khoa học và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh: Thuộc các chuyên ngành Mỹ học, Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Văn hóa học, Lịch sử nghệ thuật, Khảo cổ học. Phần khung lý thuyết mỹ học (Chương 1) và phân tích nội dung, ngôn ngữ tạo hình (Chương 3) là tài liệu tham khảo giá trị cho phương pháp tiếp cận mỹ thuật cổ.
  • Họa sĩ, nghệ nhân gốm và nhà thiết kế: Các nghệ nhân làng nghề Bát Tràng, Chu Đậu và giới nghệ sĩ tạo hình đương đại có thể tham khảo Chương 3 và Chương 4 để nắm bắt bút pháp vẽ men lam tự do, kỹ thuật tạo hình ước lệ và phương pháp đưa hơi thở văn hóa dân tộc vào sản phẩm gốm hiện đại.
  • Cơ quan quản lý và bảo tồn di sản: Cung cấp cơ sở lý luận khoa học cho việc giám định, bảo tồn và phát huy giá trị di sản gốm hoa lam thời Lê sơ trong bối cảnh hội nhập văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những tiêu chí nào từ lý thuyết giá trị thẩm mỹ để đánh giá hình tượng con người trên gốm Lê sơ? Luận án vận dụng ba tiêu chí cơ bản: tiêu chí tính nhân văn (làm rõ bản chất con người trong bối cảnh xã hội), tiêu chí sự hài hòa và hoàn thiện thẩm mỹ (sự thống nhất giữa nội dung xã hội và kết cấu hình thức nghệ thuật), và tiêu chí tính sáng tạo thẩm mỹ (tiêu chí tổng hợp cao nhất đánh giá năng lực sáng tạo của chủ thể).

2. Những trung tâm sản xuất gốm hoa lam tiêu biểu nào thời Lê sơ được luận án khảo sát? Luận án khảo sát các trung tâm gốm chính tại châu thổ Bắc Bộ gồm: lò quan Thăng Long (sản xuất đồ ngự dụng xương mỏng thấu quang in chữ "quan"), làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), cùng các làng gốm Chu Đậu và Cậy (Hải Dương).

3. Minh văn trên bình gốm hoa lam thế kỷ XV tại Bảo tàng Topkapi Saray (Thổ Nhĩ Kỳ) có nội dung gì? Chiếc bình gốm hoa lam sản xuất năm 1450 lưu giữ tại Istanbul mang dòng chữ Hán trên vai: "Thái Hòa bát niên, tượng nhân Nam Sách châu Bùi thị hý bút" (Năm Thái Hòa thứ 8 [1450], người thợ họ Bùi ở châu Nam Sách vẽ chơi).

4. Hiện vật khảo cổ nào phản ánh đề tài tín ngưỡng phồn thực trên gốm Lê sơ được luận án phân tích sâu? Luận án phân tích mảnh đĩa gốm hoa lam đường kính 12,5 cm trục vớt từ con tàu đắm Cù Lao Chàm (Quảng Nam), vẽ cảnh một phụ nữ giơ chân lên trời với lực đỡ từ đôi tay người đàn ông đang ngồi xổm giao hoan, bên cạnh mép đĩa có một nhân vật khác đứng quan sát.

5. Bối cảnh xã hội thời Lê sơ tác động như thế nào đến thành phần thợ gốm và chủ thể sáng tạo? Nhà nước Lê sơ thực hiện chính sách xóa bỏ thái ấp của quý tộc cũ, ban hành Điều 168 Bộ luật Hồng Đức nghiêm cấm việc lập gia nô và bức dân làm nô tỳ, thúc đẩy kinh tế hàng hóa địa phương và tập trung thợ giỏi về kinh đô thành lập các phường nghề và Cục Bách Tác, giúp thợ thủ công trở thành tầng lớp độc lập tách ra từ nông dân với ý thức thẩm mỹ gắn liền đời sống dân gian.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phan Thanh Sơn đã giải quyết một cách khoa học và hệ thống đề tài hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ dưới góc nhìn mỹ học Mác - Lênin. Bằng việc phân tích sâu sắc các dữ liệu khảo cổ học và hiện vật lịch sử, công trình đã làm sáng tỏ nội dung phản ánh đa dạng, ngôn ngữ tạo hình phóng khoáng và các giá trị thẩm mỹ cốt lõi của dòng gốm hoa lam thế kỷ XV - XVI. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần lấp đầy khoảng trống lý luận về mỹ thuật cổ truyền tộc người Việt mà còn cung cấp những định hướng thực tiễn có giá trị cho sự phát triển của nghệ thuật gốm Việt Nam đương đại.