Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của luận án Chương 2: Khái lược về thời Lê sơ và nghề gốm Việt Nam thời Lê sơ. Chương 3: Nội dung và ngôn ngữ thể hiện hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ. Chương 4: Các giá trị và phát huy giá trị thẩm mỹ của hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ với nghệ thuật gốm Việt Nam đương đại. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Hình tượng con người là một đề tài hằng xuyên trong diễn trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam nói chung, trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ cũng không phải là ngoại lệ. Trong sự vận động của các QHTM giữa con người và hiện thực, bằng ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng của chất liệu gốm, HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ biểu hiện sự vận động của cái đẹp trong các hình thức tồn tại khác nhau nghệ thuật tạo hình. Mặt khác, thông qua HTCN trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ, đời sống thẩm mỹ của một giai đoạn lịch sử được tái hiện tương đối đầy đủ trong sự phức hợp của các QHTM với hiện thực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nó là biểu hiện của một lĩnh vực tinh tế và nhạy cảm của đời sống tinh thần con người, một bộ phận hữu cơ cấu thành văn hóa nhân loại, biểu hiện trình độ phát triển cao của các quan hệ văn hóa, xã hội.
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu (cả trong nước và nước ngoài) ở rất nhiều góc độ khác nhau (triết học, văn hóa học, nghệ thuật học.), với những mức độ khác nhau (liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp) bàn về chủ đề nghệ thuật gốm, HTCN trong nghệ thuật gốm thời Lê sơ. Theo đó, NCS tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án “Hình tượng con người trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ” với các chủ đề sau: - Nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật Việt Nam và nghề gốm Việt Nam thời Lê sơ; - Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa, xã hội với lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật gốm hoa lam Việt Nam thời Lê sơ; - Nghiên cứu về HTNT và HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ. Nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật Việt Nam và nghề gốm Việt Nam thời Lê sơ Trước hết, phải kể đến công trình Lược sử mỹ thuật và mỹ thuật học của nhóm tác giả Chu Quang Trứ, Phạm Thị Chính, Nguyễn Thái Lai. Trong cuốn sách này, phần hai “Lịch sử mỹ thuật Việt Nam”, chương VI: Mỹ thuật thời Lê sơ 10 [46,tr194] có đề cập đến sự phát triển của mỹ thuật thời Lê sơ là một tổng thể của ba loại hình nghệ thuật kiến trúc (kiến trúc cung đình và kiến trúc tôn giáo), điêu khắc và hội họa.
Tuy không đề cập đến chất liệu gốm cũng như nghệ thuật gốm nhưng cuốn sách này đã khái lược những nét cơ bản về mỹ thuật thời Lê sơ, cùng những khái niệm cơ bản về mỹ thuật nói chung có thể áp dụng cho các chất liệu được sử dụng trong sáng tác mỹ thuật. Cuốn sách Mỹ thuật của người Việt của Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng nghiên cứu tổng quan lịch sử phát triển của mỹ thuật Việt Nam truyền thống từ thời kỳ đồ đá đến đầu thế kỷ XX. Nghiên cứu về nghệ thuật gốm thời Lê sơ, các tác giả đã nêu được đặc trưng chất liệu là gốm men trắng ngà, vẽ màu lam bằng bút mềm tự do [32,tr138], phong cách nghệ thuật mang tính mô tả giản lược, cùng một số nhận xét tương đối rõ nét về diện mạo mỹ thuật thời Lê sơ như sự kết hợp không nhuần nhuyễn, sự tiếp thu chưa chọn lọc., nên còn thấy rõ dấu hiệu của sự gắn ghép các yếu tố nghệ thuật Trung Hoa với truyền thống trong nước. Đây là một đặc điểm quan trọng nói lên tính chất giao thời của nghệ thuật Lê sơ [32,tr138].
Các tác giả cho rằng về sự áp dụng Khổng giáo, thời Lê sơ đã tỏ ra bất lực trước nhiệm vụ, vai trò mà vương quyền giao cho, để rồi “nghệ thuật tạo hình thời Lê sơ là một thử nghiệm không thành công của nghệ thuật cung đình - tập quyền và Khổng giáo khủng hoảng” [32,tr118]. Trong bối cảnh đó, “bia đá và đồ gốm chính là thành tựu lớn đã tạo ra trường phái và phong cách duy nhất của thế kỷ này với một nhân tố mới là “sự thanh thoát và mộc mạc có học, vừa hiện thực vừa tinh thần hóa cao” Cuốn Mỹ thuật thời Lê sơ, Nguyễn Đức Nùng cũng đề cập đến 4 thể loại mỹ thuật: kiến trúc, điêu khắc, hội họa trang trí và đồ gốm như hai công trình nghiên cứu trình bày ở trên [29,tr66-71]. Cuốn sách Một con đường tiếp cận lịch sử của tác giả Trần Lâm Biền là một tập hợp các nghiên cứu về mỹ thuật và kiến trúc dưới góc độ tâm linh của người Việt cổ [5]. Dựa vào đặc trưng kết cấu xã hội của người Việt, tác giả từng bước nghiên cứu bản chất của xã hội đó đến sự hình thành nhận thức thẩm mỹ cũng như quan niệm về cái đẹp của người Việt, đặc biệt là sự giải mã các hình tượng, biểu tượng, cũng như giá trị nhân văn của nó trong đời sống xã hội, có liên quan đến giá trị thẩm mỹ của HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ.
Cuốn Nghệ thuật gốm Việt Nam của Trần Khánh Chương [9], với 158 trang nội dung là kết cấu của những bài viết giới thiệu khái lược tổng quan nghệ thuật 11 gốm Việt Nam trên hai phương diện, chất liệu kỹ thuật và nghệ thuật ở một số dòng gốm truyền thống chủ đạo như gốm hoa nâu, gốm men ngọc, gốm hoa lam. Năm 2001, trong cuốn Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ, tác giả Trần Khánh Chương đã tập hợp 30 bài viết về gốm Việt Nam của mình. Trong các bài: Nghệ thuật gốm hoa lam Việt Nam, tr. 130, Tượng gốm Việt Nam, tr.
229, và Gốm - từ truyền thống đến hiện đại, tr. 274, với khái niệm “Gốm hoa lam là thuật ngữ để chỉ các loại sản phẩm gốm được trang trí bằng hoa văn màu lam, mà chất liệu phát màu chủ yếu là ô xít”[10,tr131]. Theo ông, thời Lê sơ, gốm hoa lam là những sản phẩm có phẩm chất kỹ thuật cao, nghệ thuật độc đáo, thu hút được người dùng, khiến nó thay thế dần gốm hoa nâu nổi tiếng của thời Lý - Trần. Về cơ bản luận án có thể kế thừa và phát triển sâu hơn trong luận giải về hình thức biểu hiện của HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ.
Trong cuốn Hoàng thành Thăng Long, Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Khảo cổ học - 2006, NCS quan tâm đến chương IV giới thiệu về đồ gốm sứ trong hoàng cung Thăng Long, trong đó có gốm thời Lê sơ đã được phân loại và xác định chủ yếu là loại gốm xương mỏng thấu quang có minh văn là chữ “quan” được sản xuất ở lò quan Thăng Long với chất lượng tốt nhất và đây chính là những đồ ngự dụng dành cho vua nhà Lê sơ[21,tr74 ] bên cạnh những trung tâm gốm hoa lam như Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (Nam Sách - Hải Dương). Trong cuốn Vietnamese Ceramics: A Separate Tradition (Gốm Việt Nam: một truyền thống riêng biệt) của John Stevenson & John Guy (eds), NCS tập trung vào một số bài sau: John Guy trong bài Vietnamese Ceramics and Cultural Identity (Gốm Việt Nam và bản sắc văn hóa) đã nghiên cứu nghệ thuật gốm Việt Nam trong mối quan hệ văn hóa khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc [56,tr10-21]. NCS lấy đó làm cơ sở so sánh, đối chiếu, tìm ra những đặc điểm chung trong sự tiếp biến văn hóa với các yếu tố bên ngoài, nhằm khẳng định những giá trị riêng có của nghệ thuật gốm Việt Nam thông qua HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ. John Stevenson có bài The evolution of Vietnamese Ceramics (Cuộc cách tân của gốm Việt Nam), nghiên cứu tiến trình phát triển của gốm Việt Nam trên các phương diện kỹ thuật, nghệ thuật, thẩm mỹ, mối quan hệ của nghệ thuật gốm trong môi trường chính trị xã hội [58,tr22-45].
Tác giả đã tìm ra cái đặc trưng riêng biệt của năng lực cảm thụ cái đẹp của thợ gốm Việt Nam: “Thợ gốm Trung Quốc cảm 12 nhận cái đẹp bằng mắt, thợ gốm Việt Nam cảm nhận cái đẹp bằng con tim” (Chinese pottery is good for the eye, Vietnamese pottery is good for the heart)[58,tr43]. John Guy, Vietnamese Ceramics in International Trade (Gốm Việt Nam trong thương mại quốc tế), nghiên cứu đồ gốm Việt Nam trong mối quan hệ kinh tế ngoại thương[57,tr47-60]. Trong nghiên cứu này, tác giả cho thấy, con đường thương mại cũng chính là môi trường cho sự vận động tiếp biến của văn hóa. Philippe Truong trong bài viết From Prehistory to Han (Từ thời tiền sử đến Hán) [59,tr95-108] cho thấy, tác động của Trung Quốc là trực tiếp rõ ràng, nhưng thợ gốm Việt đón nhận thụ động trên cơ sở áp đặt hay đơn thuần chỉ là sao chép, họ đã sáng tạo nên các sản phẩm mới với các yếu tố mới trên nền tảng được học hỏi, tạo nên tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam qua sự biểu hiện của nghệ thuật gốm Việt Nam.
Regina Krahl trong công trình Vietnamese Blue and White and related wares (Gốm hoa lam Việt Nam trong mối quan hệ đồ gốm), chủ yếu là trình bày các vấn đề về mối quan hệ giữa gốm hoa lam Việt Nam với nghệ thuật gốm Trung Quốc các đời Nguyên, Minh. Trong nghiên cứu này, tác giả có đề cập đến một loại đồ gốm được gọi là kendi vốn có nguồn gốc từ đồ kim khí phổ biến dưới triều Minh[60,tr 154], được thể hiện bằng ngôn ngữ đặc trưng của gốm hoa lam ở cả hai loại hình điêu khắc và hội họa. Bùi Minh Trí, Kerry Nguyễn Long 2001, Vietnamese Blue and White Ceramics (Gốm hoa lam Việt Nam ). Trên nền tảng khảo cổ học, nghiên cứu này khái lược tiến trình lịch sử của dòng gốm hoa lam Việt Nam từ khái niệm, nguồn gốc, các trung tâm sản xuất, đặc trưng nghệ thuật đến bối cảnh xuất khẩu[44,tr8], liên quan đến các QHTM trong nghiên cứu HTCN trong nghệ thuật gốm Việt Nam thời Lê sơ dưới góc nhìn của khoa học mỹ học.