Chương 1: Một số vấn đề chung về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1.
Khái niệm, đặc điểm và cơ sở của việc quy định hình phạt đối với ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm hình phạt Hình phạt là một phạm trù pháp lý, xã hội mang tính khách quan và nó gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và Pháp luật. Nhà nước ban hành pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, hướng mọi người trong xã hội đi theo một khuôn khổ, để từ đó tạo lập và duy trì mối quan hệ bình đẳng trong cộng đồng.
Cùng với đó, Nhà nước sử dụng các biện pháp từ giáo dục, thuyết phục đến cưỡng chế nhằm đảm bảo các chủ thể pháp luật luôn tuân thủ một cách nghiêm chỉnh, cũng như để trừng trị tội phạm. Như vậy, hình phạt được xem là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất; là một trong những công cụ, phương tiện hữu hiệu nhất để thực hiện các chính sách hình sự nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và của cả xã hội. Với bản chất là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, hình phạt được sử dụng như là một công cụ, phương tiện quan trọng để trừng trị, cải tạo, giáo dục người phạm tội. Hình phạt thể hiện sức mạnh cưỡng chế của mình thông qua việc tước bỏ hoặc hạn chế các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị áp dụng.
Khi bị áp dụng hình phạt, tức là chủ thể đang phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do thực hiện hành vi phạm tội. Ở góc độ ngôn ngữ, theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì hình phạt được hiểu là “hình thức trị tội tương ứng với tội trạng của phạm nhân” [63, tr. Trong khoa học pháp luật hình sự hiện nay, cũng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hình phạt, cụ thể: Theo các nhà nghiên cứu “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định với mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn 8 ngừa tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [5].TS Trịnh Quốc Toản thì “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, được luật quy định, do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án và được thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của họ nhằm giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo cho luật hình sự thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ và đấu tranh phòng, chống tội phạm” [50, tr. Lê Văn Cảm trong cuốn giáo trình “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung” đã đưa ra một khái niệm ngắn gọn hơn đó là “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của chủ thể bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự” [5, tr.
Giáo trình sau đại học “TNHS và hình phạt” do PGS.TS Trịnh Tiến Việt làm chủ biên thì hình phạt được hiểu là “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, do Tòa án quyết định áp dụng trong bản án có hiệu lực pháp luật đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án có nội dung tước bỏ hay hạn chế quyền, lợi ích của các chủ thể tương ứng đó, qua đó nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm” [59]. Tóm lại, hình phạt là một biện pháp cưỡng chế mang tính nghiêm khắc nhất do Nhà nước áp dụng. Nó tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội nhằm mục đích trừng trị, giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung và góp phần giáo dục người khác tôn trọng pháp luật. Việc áp dụng hình phạt do cơ quan duy nhất có thẩm quyền là Tòa án thực hiện.
Ở góc độ lập pháp hình sự ở nước ta, khái niệm hình phạt được ghi nhận lần đầu tiên trong BLHS năm 1999. Cụ thể, Điều 26 BLHS năm 1999 quy định như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định” [29]. BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 tiếp tục được ghi nhận với một số thay đổi cho phù hợp với tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm 9 khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” [30].
Như vậy, việc quy định hình phạt trong BLHS nhằm góp phần thực hiện các nhiệm vụ của luật hình sự Việt Nam mà mục tiêu then chốt là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc trong quốc gia, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời cũng góp phần giáo dục, cảm hoá mọi người luôn luôn phải có ý thức tuân thủ pháp luật, cũng như có ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm. Qua đó có thể thấy hình phạt có các đặc điểm sau đây: là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước; được quy định trong BLHS; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Tòa án quyết định; chỉ áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại; hình phạt có vai trò góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Từ những phân tích nêu trên có thể rút ra khái niệm hình phạt như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, được quy định trong BLHS, do Toà án quyết đinh áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội trong bản án đã có hiệu lực pháp luật nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người hoặc pháp nhân thương mại đó”. Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội Thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” đề cập đến những người mà “sự phát triển về thể chất có sự không tương xứng với quá trình phát triển về nhân cách, năng lực trí tuệ, nhân sinh quan và thế giới quan để hình thành toàn bộ những đặc điểm tâm sinh lý của một người bước vào độ tuổi thành niên.
Ở người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đang diễn ra một sự biến đổi sâu sắc về sinh học, có những mâu thuẫn gay gắt trong sự phát triển nhân cách” [6, tr. Điều này khiến họ dễ bị ảnh hưởng và thực hiện những hành vi không thích hợp. Pháp luật của nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, đã đề ra các quy định để bảo vệ, giáo dục và phòng ngừa hành vi xâm hại trẻ em, cũng như xử lý những trường hợp vi phạm của trẻ em. Ở góc độ ngôn ngữ thì thuật ngữ “người chưa thành niên” (juvenile) thường được sử dụng để ám chỉ thanh thiếu niên (young person) hoặc thanh niên (youth) 10 [55].
Trước đây, một số tổ chức quốc tế như UNESCO, ILO, UNFPA. định nghĩa trẻ em là người dưới 15 tuổi. Nhưng hiện nay, các tổ chức quốc tế và khu vực thống nhất theo Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, theo đó trẻ em là người dưới 18 tuổi và luật pháp quốc gia có thể quy định tuổi thành niên sớm hơn. Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em ghi nhận tại Điều 1: “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em quy định tuổi thành niên sớm hơn” [17].
Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật quốc tế khác như Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (quy tắc Bắc Kinh); Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Hướng dẫn Riyadh)… đều xác định người chưa thành niên bao gồm trẻ em và thanh thiếu niên, mà có thể chịu xử lý theo các quy định pháp luật hình sự và TTHS đặc thù, khác với các quy định với người đã trưởng thành trong quá trình xử lý tội phạm [9, tr. Theo Quy tắc số 2.2c của Quy tắc Bắc Kinh, “Người chưa thành niên phạm tội là trẻ em hay thanh thiếu niên bị cáo buộc, hay bị kết luận là đã phạm tội” [18]. Đồng thời, Quy tắc 4 của Quy tắc Bắc Kinh cũng quy định về độ tuổi chịu TNHS như sau: “Tuổi chịu TNHS của người chưa thành niên không được quy định quá thấp tuổi bắt đầu phải chịu TNHS, mà cần lưu ý đến thực tế của độ trưởng thành về trí tuệ, tinh thần và tình cảm của người phải chịu TNHS” [18]. Các văn bản pháp luật quốc tế không quy định cụ thể độ tuổi để được coi là người chưa thành niên phạm tội, mà thay vào đó là quy định mở cho các quốc gia trong việc xác định độ tuổi chịu TNHS.
TSKH Lê Cảm đưa ra quan điểm như sau: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có lỗi (cổ ý hoặc và ý) thực hiện hành vi tội phạm cụ thể được quy định trong Phần riêng, cũng như hành vi cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm với người đồng phạm được quy định trong phần chung Bộ luật này” [4, tr. Còn tác giả Hồ Văn Trúc thì cho rằng: “Người dưới 18 tuổi 11 phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm và bị truy cứu TNHS” [53, tr.