Luận văn hình phạt cải tạo không giam giữ - Thực tiễn tại Hải Phòng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hình phạt cải tạo không giam giữ trong Bộ luật hình sự Việt Nam, phân tích thực tiễn áp dụng tại Hải Phòng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tác giả

Do Thi Thu Huong

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2019

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về hình phạt cải tạo không giam giữ theo luật hình sự VN

Hình phạt cải tạo không giam giữ là một biện pháp xử lý hình sự không tước đoạt tự do, được quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Đây là một trong những hình phạt chính, áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng và không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội. Mục đích của hình phạt cải tạo không giam giữ là vừa trừng trị, vừa giáo dục người phạm tội, đồng thời thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước Việt Nam. Theo luận văn của Đỗ Thị Thu Hương (2019), hình phạt này phản ánh xu hướng quốc tế trong việc hạn chế sử dụng hình phạt tù, đặc biệt với các tội phạm phi bạo lực. Việc áp dụng hình phạt không giam giữ giúp giảm tải cho hệ thống trại giam, đồng thời tạo điều kiện cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa cải tạo không giam giữ và các hình phạt bổ sung như phạt tiền hay cấm đảm nhiệm chức vụ. Thực chất, đây là hình phạt chính, có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm, và người bị kết án phải thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hoặc tuân thủ các quy định giám sát của chính quyền địa phương.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hình phạt cải tạo không giam giữ

Hình phạt cải tạo không giam giữ được hiểu là biện pháp cưỡng chế hình sự do Tòa án áp dụng, không tước quyền tự do nhưng buộc người phạm tội phải cải tạo tại nơi cư trú. Đặc điểm nổi bật là người bị kết án vẫn sinh hoạt bình thường trong xã hội, nhưng phải báo cáo định kỳ với chính quyền và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập (5–20%) để nộp vào ngân sách nhà nước. Điều này khác biệt rõ rệt với hình phạt tù, vốn yêu cầu cách ly hoàn toàn khỏi cộng đồng.

1.2. Căn cứ pháp lý áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ

Căn cứ pháp lý chủ yếu là Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể tại Điều 36 và các điều khoản liên quan trong Chương VII. Ngoài ra, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh việc mở rộng áp dụng các hình phạt không giam giữ nhằm cải cách tư pháp theo hướng nhân đạo. Việc áp dụng còn phụ thuộc vào tính chất tội phạm, nhân thân bị cáo và khả năng cải tạo tại cộng đồng.

II. Những thách thức khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ tại Việt Nam

Mặc dù hình phạt cải tạo không giam giữ được kỳ vọng là giải pháp nhân đạo và hiệu quả, thực tiễn áp dụng tại nhiều địa phương – trong đó có Hải Phòng – cho thấy nhiều hạn chế. Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Thu Hương (2019), tỷ lệ áp dụng hình phạt này còn rất thấp, chiếm chưa đến 2% tổng số bản án hình sự. Nguyên nhân chủ yếu đến từ nhận thức hạn chế của cán bộ tư pháp, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả và sự e ngại về khả năng tái phạm. Nhiều thẩm phán vẫn ưu tiên hình phạt tù vì cho rằng dễ kiểm soát hơn. Bên cạnh đó, hệ thống quản lý người chấp hành hình phạt không giam giữ tại cấp xã, phường còn lỏng lẻo, thiếu nhân lực và hướng dẫn cụ thể. Điều này dẫn đến tình trạng người bị kết án không thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hoặc không báo cáo định kỳ, nhưng ít khi bị xử lý. Ngoài ra, công chúng cũng chưa hiểu rõ bản chất của hình phạt này, thường xem là “phạt cho có” hoặc “thoát tội”, làm giảm tính răn đe. Những hạn chế trong áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả tư pháp mà còn cản trở tiến trình cải cách hình sự theo hướng giảm tỷ lệ giam giữ.

2.1. Thực trạng áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ tại Hải Phòng

Nghiên cứu thực địa tại thành phố Hải Phòng cho thấy trong giai đoạn 2015–2018, chỉ khoảng 1,7% bản án hình sự áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Phần lớn tập trung ở các tội danh như trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích mức độ nhẹ. Tuy nhiên, nhiều trường hợp sau khi được tuyên án không thực hiện nghĩa vụ cải tạo, nhưng cơ quan chức năng không có biện pháp xử lý kịp thời do thiếu quy trình giám sát rõ ràng.

2.2. Nguyên nhân hạn chế trong thực thi hình phạt không giam giữ

Nguyên nhân bao gồm: (1) Thiếu hướng dẫn thi hành chi tiết từ cơ quan trung ương; (2) Nhận thức của thẩm phán, kiểm sát viên còn thiên về hình phạt tù; (3) Cơ sở hạ tầng quản lý tại địa phương yếu kém; (4) Người dân chưa tin tưởng vào hiệu quả giáo dục cải tạo tại cộng đồng. Đây là những rào cản cần được tháo gỡ để hình phạt này phát huy đúng vai trò.

III. Phương pháp hoàn thiện quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ

Để nâng cao hiệu quả hình phạt cải tạo không giam giữ, cần hoàn thiện đồng bộ cả về pháp luật và thực thi. Trước hết, Bộ luật Hình sự cần bổ sung định nghĩa rõ ràng, phân biệt rạch ròi với các hình phạt khác. Đồng thời, cần quy định cụ thể hơn về nghĩa vụ lao động công ích, thời gian thực hiện và cơ chế giám sát. Một giải pháp quan trọng là xây dựng hệ thống quản lý điện tử cho người chấp hành án tại địa phương, tương tự mô hình quản chế ở một số nước. Ngoài ra, cần đào tạo chuyên sâu cho thẩm phán, cán bộ tư pháp về chính sách hình sự nhân đạo và kỹ năng đánh giá khả năng cải tạo tại cộng đồng. Theo Đỗ Thị Thu Hương (2019), việc lồng ghép tiêu chí nhân thân, hoàn cảnh gia đình, và ý thức cải tạo vào quá trình xét xử sẽ giúp tăng tỷ lệ áp dụng hợp lý. Cuối cùng, cần có cơ chế xử lý nghiêm minh đối với người vi phạm nghĩa vụ trong thời gian chấp hành hình phạt không giam giữ, nhằm đảm bảo tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật.

3.1. Đề xuất sửa đổi Bộ luật Hình sự về hình phạt cải tạo không giam giữ

Cần bổ sung điều khoản định nghĩa hình phạt cải tạo không giam giữ là “biện pháp cưỡng chế hình sự không tước đoạt tự do, nhằm giáo dục người phạm tội thông qua lao động công ích và giám sát cộng đồng”. Đồng thời, quy định rõ tỷ lệ khấu trừ thu nhập, thời gian lao động, và trách nhiệm của UBND cấp xã trong giám sát.

3.2. Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ tư pháp

Thẩm phánkiểm sát viên cần được tập huấn về đánh giá nhân thân, xác định nguy cơ tái phạm và lựa chọn hình phạt phù hợp. Việc áp dụng hình phạt không giam giữ nên được xem là tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác xét xử, đặc biệt với tội phạm ít nghiêm trọng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và hiệu quả của hình phạt cải tạo không giam giữ

Khi được áp dụng đúng cách, hình phạt cải tạo không giam giữ mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Về kinh tế, nó giúp tiết kiệm ngân sách nhà nước do không phải chi trả cho chi phí giam giữ. Về xã hội, nó giảm kỳ thị đối với người từng phạm tội, hỗ trợ tái hòa nhập và duy trì mối quan hệ gia đình – yếu tố then chốt trong phòng ngừa tái phạm. Một số mô hình thí điểm tại Đà Nẵng và Cần Thơ cho thấy tỷ lệ tái phạm ở nhóm chấp hành hình phạt không giam giữ thấp hơn 30% so với nhóm chấp hành án tù ngắn hạn. Ngoài ra, người bị kết án vẫn có thể lao động, đóng góp cho gia đình và xã hội, thay vì bị cô lập. Tuy nhiên, để nhân rộng thành công, cần có hệ thống giám sát minh bạch và sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương. Theo khuyến nghị từ các chuyên gia, nên thí điểm mô hình “giám sát cộng đồng” với sự hỗ trợ của tổ dân phố, hội phụ nữ, đoàn thanh niên để tăng tính hiệu quả và nhân văn.

4.1. Kết quả nghiên cứu thực tiễn tại các địa phương thí điểm

Tại Đà Nẵng, tỷ lệ tái phạm sau 2 năm ở nhóm cải tạo không giam giữ là 8%, trong khi nhóm tù dưới 01 năm là 22%. Điều này chứng minh hiệu quả giáo dục cải tạo tại cộng đồng nếu có cơ chế giám sát phù hợp. Tương tự, Cần Thơ ghi nhận sự hài lòng cao từ người dân và chính quyền cơ sở.

4.2. Vai trò của chính quyền địa phương trong giám sát thi hành án

UBND cấp xã đóng vai trò then chốt trong việc theo dõi, đôn đốc người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Cần trang bị sổ theo dõi, phần mềm quản lý và quy trình phối hợp với công an, tòa án để đảm bảo tính liên tục và minh bạch trong giám sát.

V. Tương lai của hình phạt cải tạo không giam giữ trong cải cách tư pháp Việt Nam

Trong bối cảnh cải cách tư pháp đang được đẩy mạnh, hình phạt cải tạo không giam giữ được kỳ vọng sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng. Xu hướng toàn cầu đang hướng tới phi hình sự hóaphi giam giữ hóa đối với các hành vi phạm tội ít nghiêm trọng. Việt Nam cần bắt kịp xu thế này để xây dựng hệ thống tư pháp hiện đại, nhân đạo và hiệu quả. Để làm được điều đó, cần sự phối hợp đồng bộ giữa lập pháp, tư pháp và hành pháp. Đặc biệt, cần có chiến lược truyền thông để thay đổi nhận thức xã hội, giúp người dân hiểu rằng hình phạt không giam giữ không phải là “tha tội” mà là một hình thức xử lý nghiêm minh, có kiểm soát. Trong tương lai, nếu được hoàn thiện, hình phạt cải tạo không giam giữ có thể trở thành lựa chọn mặc định cho nhiều tội danh phi bạo lực, góp phần xây dựng xã hội an toàn, công bằng và nhân văn hơn.

5.1. Định hướng chính sách hình sự nhân đạo đến năm 2030

Chiến lược cải cách tư pháp giai đoạn 2021–2030 tiếp tục nhấn mạnh việc giảm hình phạt tù, mở rộng hình phạt không giam giữ. Điều này phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, như Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).

5.2. Kỳ vọng từ giới học thuật và thực tiễn tư pháp

Giới học thuật, trong đó có các nghiên cứu như của Đỗ Thị Thu Hương (2019), đều cho rằng hình phạt cải tạo không giam giữ cần được “phục hồi vị thế” trong hệ thống hình phạt. Nếu được đầu tư đúng mức, đây sẽ là công cụ hiệu quả để cân bằng giữa trừng trị và giáo dục trong luật hình sự Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn hình phạt cải tạo không giam giữ theo luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tỉnh cấp thiết của để tài Tự do cá nhân là một trong những nhân quyền quan trọng nhất của con người, có lẽ chỉ sau quyền sống, bởi lễ còn sống và tự do chính là nén tang dé thưởng thụ phan lớn các nhân quyên khác. Quyền tự do cá nhân được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tổ không hướng tới lý tưởng về một xã hội không có nha i, trại giam, không phủ nhận chính việc tước quyền này mà chỉ phản đối việc bắt giữ và giam cầm một cách tùy tiện [21]; [22]. Tước đoạt tự đo bằng việc áp dụng các hình phạt tủ là một biện pháp trừng phạt phổ biến đối với người phạm tội.

Tất nhiên nó không phải việc tược đoạt tự do một cách tùy tiên, vô căn cứ nhưng nếu đó chưa phải biện pháp thật cần thiết thì nên áp dụng môt biện pháp trừng phạt không tước doạt tự do dé thay thé, nhằm thể hiện sự tôn. trọng, báo hộ đối với một trong những nhân quyền quan trọng bậc nhất. Sự hiên diện của hình phạt cải tạo không giam giữ trong hệ thống hình phạt một phần chính bởi lý do như thế Trên lập trường bảo về quyền con người và chính sách hình sự nhân đạo, Nghị quy: số 49/NQ-IW ngày 02/6/2005 của Hộ Chính trị Việt Nam về “Chiến lược Cải cách tw pháp đến năm 2020” đã xác định một nội dưng trong tâm trong cải cách tư pháp là: “Coi trọng việc boàn thiện chính sách hình sự và thú tục tổ tụng tr pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phat nền, hình phat dài tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm.

Thể chỗ hòa chủ trương nây, Hộ luật hinh su (BLHS) nam 2015 đã có nhiều cải cách. trong việc mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, tăng cường tính hưởng thiện vá hiệu quả áp dụng của hình phạt nảy. Tuy nhiên, quy dịnh vé hinh phat cdi tao không giam giữ trong BLHS năm 2015 vẫn còn những hạn chế như: chưa có định nghĩa pháp lý mô tả đầy đủ nội dung hinh phạt, quy DANII MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bang Trang Bảng l.] | Những điểm khác biệt giữa cải tạo không giam giữ với án reo 16 Bang 1.2 | Nhtng diém khdc biét gitta cdi tao không giam giữ với quan ché 17 Bang 2.1 | Thống kê các quy định về cải tạo không giam giữ tại Phần các tôi phạm của Hộ luật hình sự năm 2015 57 Bảng 2.2 | Thống kê áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ trong xét xử sơ thấm vụ án hình sự theo năm trên địa bản thành phố Hải Phòng 62 Bang 2.3 | Thống kê áp đụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo phân loại tội phạm trong xét xử sơ (hẳm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng 64 định chưa rõ rằng, cụ thể một số điêu kiện áp dụng, quy định không hợp lý một số nghĩa vụ cái tạo không giam giữ, thiếu biển pháp rằng buộc việc thực hiện các nghĩa vụ cái tạo không giam giữ. Tình trạng chưa hoản thiện của quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trong BI.HS là một trong những.

nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế, sai lầm trong thực tiễn áp dụng hình phat nay, lam han chế hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, làm giảm tính nghiêm minh, tiến bộ của chế độ pháp luật. Tất chấp ý nghĩa chính trị, pháp lý quan trọng của vẫn để cũng như thực tiễn quy định bắt cập về hình phạt cải tạo không giam giữ, đề tài này vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu thỏa đáng trong khoa học luật hình sự. Về sit ly luận, vẫn tổn tại những nhận thức sai lâm về nội đụng, vai trò, ý nghĩa của hình phạt oãi tạo không giam giữ, còn phủ nhận hình phạt này hoặc đẳng nhất nó với các biện pháp cưỡng chế hình sự khác. Diễu đó, ảnh hưởng sâu sắu đến tỉnh chỉnh xác vả hiệu quả của việc áp dung hinh phat trong thực tế Chính vi y, việc nghiên cứu toản điện những vẫn dễ lý luận, thực tiển về tình phạt cải tạo không giam giữ trong luật hinh sự Việt Nam nhằm kiển nghị giải pháp hoàn thiện va dam bảo thực thị hình phạt này là hết sức cấp thiết Tuy nhiên, hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam lại chưa cỏ công.

trình nào đầu tư nghiên cứu chuyên sâu, đồng bộ về hình phạt cải tạo không giam giữ mà cập nhật dến cã những quy định của BLHS năm 2015 (sẽ dược chứng minh trong phần tình hình nghiên cứu ở đưới đây). Chính vì sự cắp thiết, những khoảng trống cả về phương diện lý luận và thực tiễn nêu trên nên học viên dã lựa chọn đề tại “Hình phạt cải tạo không giam giữ trong luật hình sự Việt Nam (rên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Việc gắn để tài nghiên cứu với thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Phỏng xuất phát từ điều kiện, cương vị công tác của bản thân học viên. định chưa rõ rằng, cụ thể một số điêu kiện áp dụng, quy định không hợp lý một số nghĩa vụ cái tạo không giam giữ, thiếu biển pháp rằng buộc việc thực hiện các nghĩa vụ cái tạo không giam giữ.

Tình trạng chưa hoản thiện của quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trong BI.HS là một trong những. nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế, sai lầm trong thực tiễn áp dụng hình phat nay, lam han chế hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, làm giảm tính nghiêm minh, tiến bộ của chế độ pháp luật. Tất chấp ý nghĩa chính trị, pháp lý quan trọng của vẫn để cũng như thực tiễn quy định bắt cập về hình phạt cải tạo không giam giữ, đề tài này vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu thỏa đáng trong khoa học luật hình sự. Về sit ly luận, vẫn tổn tại những nhận thức sai lâm về nội đụng, vai trò, ý nghĩa của hình phạt oãi tạo không giam giữ, còn phủ nhận hình phạt này hoặc đẳng nhất nó với các biện pháp cưỡng chế hình sự khác.

Diễu đó, ảnh hưởng sâu sắu đến tỉnh chỉnh xác vả hiệu quả của việc áp dung hinh phat trong thực tế Chính vi y, việc nghiên cứu toản điện những vẫn dễ lý luận, thực tiển về tình phạt cải tạo không giam giữ trong luật hinh sự Việt Nam nhằm kiển nghị giải pháp hoàn thiện va dam bảo thực thị hình phạt này là hết sức cấp thiết Tuy nhiên, hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam lại chưa cỏ công. trình nào đầu tư nghiên cứu chuyên sâu, đồng bộ về hình phạt cải tạo không giam giữ mà cập nhật dến cã những quy định của BLHS năm 2015 (sẽ dược chứng minh trong phần tình hình nghiên cứu ở đưới đây). Chính vì sự cắp thiết, những khoảng trống cả về phương diện lý luận và thực tiễn nêu trên nên học viên dã lựa chọn đề tại “Hình phạt cải tạo không giam giữ trong luật hình sự Việt Nam (rên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Việc gắn để tài nghiên cứu với thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Phỏng xuất phát từ điều kiện, cương vị công tác của bản thân học viên.

Quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trong pháp luật Quy định về hỉnh phạt cải tạo _không plam pIử trong pháp Ì luật hình sự Việt Nam trước pháp điển hóa lần thứ hai năm 1999.12 Quy định về hình phạt cái tạo không giam giữ trong BLHS năm 1999 213 Quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trong BLHS năm 2015. 'Thực tiễn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ trên địa bàn thành phố Hải Phùng 60 2.1 Tỉnh hình áp đụng hình phạt cải tạo không giam giữ.2 Han ché trong áp dụng hinh phạt cải tạo không giam giữ. 66 223 Nguyên nhân hạn chế trong áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ 70 Chương 3: TIẾP TỤC IIOÀN TIIỆN VÀ BẢO ĐÂM THỰC TINH QUY ĐỊKII VẺ IÏNII PIẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM2015. Những yêu cầu và 6i dung cần tiếp tục hoàn thiện của quy định về hình phạt rải tạo không giam giữ trong BLHS năm 215.

Những yêu cầu đối với việc tiếp tục hoàn thiện quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trong BLHS nim 2015 " 75 3. Những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện của quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trong Bộ luật hình sự năm 2015 78 3. Giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực thí quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trong BULHS năm 2015. Giải pháp hoàn thiên của quy dịnh về hình phạt cải tạo không giam giữ trong Bộ luật hinh sự năm 2015 - 3.

Một số giải pháp bảo đảm thực thi hình phạt cải tạo không giam giữ trong Hộ luật hình sự năm 2015. KET LUAN DANIIMỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. MỤC LỤC Trang Trang phu bia Loi cam doan Mục lục Danh mục tử viết tắt Danh mục các bảng Danh mục biểu đô MỞ ĐẦU Chương 1: MỘT SO VAN ĐỀ LÝ LUẬN VE NII PIUAT CAI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ TRONG LUẬT HINH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và tỉnh độc lận của hình phạt cải tao không giam giữ 111 chán niệm hình phạt cái tạo không giam giữ 1.2 Dặc điểm của hỉnh phạt cải tạo không giam giữ.

12 113 “tỉnh độc lập của hình phạt cái tạo không giam giữ 15 1. Nội dung, điều kiện, mục đích và ý nghĩa của hình phạt cải tạo không giam giữ 121 Nội dung, điều kiện của hình phạt cải tạo không giam giữ.22 Mục dích của hình phạt cải tạo không giam giữ 1.23 Ý nghĩa của việc quy định hình phạt cái tạo không giam giữ trong luật hình sự Việt Nam. Quy định về hình phạt cải tạo không giam trong Bộ luật hình sự của một. số nước trên thé giới 30 13.1 Quy dịnh của Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.2 Quy định của Bộ luật hình sự Liên bang Nga.3 Quy định của Bộ luật hình sự Lhụy Điển.

34 Chương 2: QUY ĐỊNH VẺ HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM. GIỮ TRONG PHÁP LUẬT LINH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC "TIỀN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHÓ HẢI PHÒNG.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ