Chương 1: Cơ sở lý luận về hình ảnh doanh nhân Việt Nam trên báo in kinh tế Chương 2: Thực trạng hình ảnh doanh nhân Việt Nam trên báo in kinh tế Chương 3: Gợi ý một số giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng hình ảnh doanh nhân Việt Nam trên báo in kinh tế. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH ẢNH DOANH NHÂN VIỆT NAM TRÊN BÁO IN KINH TẾ 1. Một số khái niệm về hình ảnh doanh nhân 1. Khái niệm Doanh nhân Trong tiếng Anh, thuật ngữ doanh nhân thường được sử dụng bằng các từ như businessperson, businessman hay entrepreneur, còn trong các công trình nghiên cứu khoa học, thuật ngữ doanh nhân đã được đề cập ở các góc độ, khía cạnh khác nhau.
Joseph Schumpeter – nhà Kinh tế học và Chính trị học người Áo đưa ra một định nghĩa: "Doanh nhân là những con người đổi mới sáng tạo sử dụng một quá trình phá hủy hiện trạng của các sản phẩm và dịch vụ hiện có, xây dựng sản phẩm, dịch vụ mới". [37] Peter Drucker cũng đưa ra định nghĩa tương tự vào năm 1964: "Doanh nhân là người tìm kiếm sự thay đổi, đáp ứng nó và khai thác các cơ hội. Đổi mới là một công cụ của một doanh nhân; do đó một doanh nhân làm việc hiệu quả sẽ chuyển đổi nguồn thành tài nguyên”. [37] Theo các nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này, khái niệm doanh nhân gắn bó mật thiết với ba yếu tố cấu thành: người chấp nhận rủi ro; nhà tổ chức sản xuất, kinh doanh và người cải cách sáng tạo.
Như vậy, doanh nhân phải là người có năng lực quản lý, quản trị hơn hẳn những người khác, phải làm ra lợi nhuận và biết đóng góp cho xã hội. Hiểu theo nghĩa rộng thì: Doanh nhân là những người có vị trí trong một doanh nghiệp và làm công việc quản trị trong doanh nghiệp. [58] Khái niệm doanh nhân Việt Nam: Đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ từ đổi mới (1986) đến nay đã trở thành lớp người được trọng thị và có vị trí nhất định trong đời sống xã hội. Doanh nhân Việt Nam dần trở thành đội ngũ chủ lực thực hiện công việc liên doanh, hợp tác kinh tế trong và ngoài nước.
Nhập khẩu hàng hóa, chuyển giao khoa học - công nghệ, phương thức kinh doanh; phương pháp quản lý kinh tế tiên tiến của thế giới về Việt Nam, tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài, tham gia vào chuỗi giá 9 z trị toàn cầu, thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Họ trở thành lực lượng quan trọng góp phần đưa những giá trị văn hóa, hình ảnh của Việt Nam quảng bá sâu rộng trên thế giới. Tại Việt Nam, đã có nhiều định nghĩa về doanh nhân được công bố với nhiều cách hiểu, quan niệm khác nhau. Theo đó, doanh nhân có khi được coi như một nghề, có lúc lại được nhìn nhận như một đặc điểm tính cách, hay kết hợp cả hai khía cạnh trên.
Trên Tạp chí Tâm lý học, tác giả Nguyễn Đức Thạc khẳng định: "doanh nhân" là một từ Hán Việt. "Doanh nhân" là người làm ăn kiếm lời, là người coi lời lãi là nhu cầu, mục đích, động cơ hoạt động của bản thân mình, là định hướng giá trị cơ bản của hoạt động và quan hệ của cá nhân mình. “Doanh nhân là những người làm chủ thực sự những quan hệ kinh tế trong các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp tư nhân, từ quan hệ sở hữu đến quan hệ điều hành và quan hệ phân phối. Doanh nhân là những“ông chủ” doanh nghiệp tư nhân”.
[59] Trên báo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần (13-10-2007),Vũ Quốc Tuân cho rằng: “Doanh nhân là những chủ doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh doanh nghiệp của mình, những người được cử hoặc được thuê để quản lý doanh nghiệp, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh; trách nhiệm và lợi ích của họ gắn liền với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, mà yêu cầu đầu tiên là họ phải có đủ điều kiện để sáng tạo, không ngừng phát triển doanh nghiệp”. [59] "Doanh nhân là người làm kinh doanh, là chủ thể lãnh đạo, chịu trách nhiệmtrước xã hội và pháp luật. Doanh nhân có thể là chủ một DN, là người sở hữu và điều hành, Chủ tịch công ty, Giám đốc công ty hoặc cả hai".197] Ông Vũ Tiến Lộc Chủ tịch VCCI cũng đưa ra định nghĩa: "Doanh nhân là nhà đầu tư, là nhà quản lý, là người chèo lái con thuyền DN mà điểm khác biệt của doanh nhân với những người khác là ở chỗ họ là người dám chấp nhận mạo hiểm, rủi ro khi dấn thân vào con đường kinh doanh".[38] Các định nghĩa trên đã cho thấy một quan điểm toàn diện hơn về .Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, những định nghĩa này vẫn bỏ qua một nhóm đối tượng là 10 z những người kinh doanh cá thể và những hộ kinh doanh không lập DN; sự đóng góp của họ đã tạo nên nét đặc sắc riêng của doanh nhân Việt Nam. Căn cứ vào những phân tích và thực tiễn nước ta hiện nay, tác giả quyết định lựa chọn khái niệm doanh nhân như sau: “Doanh nhân là những người trực tiếplãnh đạo, quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN nhằm mục tiêu lợi nhuận; sáng tạo, dám chấp nhận mạo hiểm, có trách nhiệm xã hội; là lực lượng chủ yếu tạo lập và phát triển một mô hình tổ chức kinh doanh mới, đại biểu cho lực lượng sản xuất mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại”.
Hình ảnh doanh nhân Ngày nay, dù hoạt động trong lĩnh vực hay ngành nghề nào thì mỗi cá nhân đều cần tạo dựng hình ảnh riêng cho mình để tạo được mối thiện cảm với đối tượng tiếp nhận. Việc xây dựng hình ảnh trước công chúng và khả năng dùng phẩm chất cá nhân của bản thân để thu hút sự chú ý của khách hàng, đối tác doanh nghiệp là một trong những chiến lược giúp ích rất nhiều cho sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn, Steve Jobs của Apple xây dựng hình ảnh là một người theo đuổi chủ nghĩa hoàn hảo, ông được biết đến như một CEO có những bài thuyết trình đầy năng lượng nhưng cũng rất cứng rắn với nhân viên. Đó chính là những phẩm chất cho biết ông là ai và thương hiệu cá nhân của ông đã tạo ra sức hút đối với người tiêu dùng, khiến họ quan tâm tới các sản phẩm của thương hiệu Apple.
Ông Phạm Nhật Vượng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Vingroup, được biết đến hình ảnh một doanh nhân tỷ phú USD đầu tiên trên sàn chứng khoán Việt Nam, công chúng biết đến ông là một CEO nổi tiếng với những dự án BĐS nhà ở cao cấp, nghỉ dưỡng hạng sang đình đám. Nhắc đến bà Nguyễn Thị Phương Thảo –TGĐ VietJet, là công chúng nhớ đến hình ảnh “bông hồng gai”, hay nữ tỷ phú USD duy nhất tại Việt Nam tại Đông Nam Á và theo Forbes bà Thảo hiện có khối tài sản khoảng 3,3 tỷ USD. Vì vậy, để làm rõ khái niệm hình ảnh doanh nhân là gì? Trước tiên tác giả trình bày khái niệm hình ảnh và vai trò của hình ảnh. 11 z Hình ảnh: Thuật ngữ “hình ảnh” bắt nguồn từ tiếng Latin là “Imago” và có sự quan hệ mật thiết với một từ Latin khác là “Imitari” – một từ dùng để chỉ sự mô phỏng, phỏng theo.
Từ khi loài người chưa có chữ viết thì lối vẽ được con người dùng làm phương tiện thông tin chính. Trong quá trình phát triển, từ tranh chuyển sang chữ viết, từ các chi tiết cụ thể, phức tạp, dần được lược bỏ, người ta dùng các đường nét đơn giản hơn làm kí hiệu để ghi lại ngôn ngữ, mở rộng thông tin. Sau đó, tranh vẽ cùng với chữ viết dần dần được phổ biến. Nhưng nghe thì không bằng thấy, vì vậy ảnh đã ra đời.
“Hình ảnh là những gì chúng ta thấy được thông qua thị giác rồi sau đó chuyển về não giúp ta cảm nhận nhận hình ảnh đó một cách chân thực nhất từ đó đưa ra những phản xạ, cảm nhận về hình ảnh mà ta vừa thu nhận”. [39] Hình ảnh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng ấn tượng, thiện cảm ban đầu, bởi các yếu tố: Một là, hình ảnh là kênh cung cấp nhiều thông tin cho người nhận, không cần phải dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Bằng kênh thông tin này có thể chuyển một lương lớn thông tin hơn nhiều so với tưởng tượng. Lieberman – chuyên gia được quốc tế công nhận về nghiên cứu hành vi con người cho rằng: nếu nội dung thông điệp cung cấp 7% thông tin thì những đặc điểm về giọng nói là 38%, diện mạo của một người cung cấp lượng thông tin tối đa là 55%.51] Hai là, hình ảnh là một kênh thông tin cô đọng, giúp người xem ghi nhớ tốt hơn.
Cũng theo David J. Lieberman, khi xem tivi, khán giả chỉ ghi nhớ 10% lượng thông tin bằng lời nói, trong khi đó lượng thông tin được quan sát bằng mắt đạt đến 34%. Có tới 69% lượng thông tin bằng lời nói không được tiếp nhận – đó là nhận xét của hơn 1/3 khán giả.21] Ba là, hình ảnh là bức tranh nhỏ về con người trong xã hội. Chúng ta cố gắng thể hiện bản thân mình ở phương diện tốt đẹp nhất khi nhấn mạnh những đặc điểm này hay những đặc điểm khác của cá nhân.
Chúng ta làm điều đó một cách vô thức, đặc biệt là trong những tình huống như khi lần đầu làm quen với một người mà ta mong họ có cảm tình với mình. [20] 12 z Hình ảnh doanh nhân: Khác với thương hiệu, hình ảnh chỉ là những nhận thức xuất hiện trong tâm trí của con người nhưng nó có giá trị tinh thần và tư tưởng vô cùng quan trọng. Hình ảnh doanh nhân không phải những gì người doanh nhân tự nói về mình, hoặc muốn được bên ngoài nhìn nhận mình như thế nào, mà nó là cách những đối tượng bên ngoài nhìn nhận về người doanh nhân ấy. Hình ảnh doanh nhân có thể là những yếu tố như khả năng chuyên môn, phong cách dẫn dắt, thành công điển hình, vị trí, những đóng góp trong xã hội trong kinh tế, văn hóa ứng xử, hay các hoạt động truyền thông, quảng bá mà người doanh nhân thực hiện; nhưng đó cũng có thể là những yếu tố rất nhỏ như giọng nói, tác phong, trang phục, hình dáng.
Có thể thấy rằng, hình ảnh doanh nhân là diện mạo của họ được hình thành qua các yếu tố thông tin cho phép những đối tượng bên ngoài nhận biết được những đặc trưng cơ bản của người doanh nhân ấy và mỗi đối tượng lại có một cách nhìn nhận khác nhau đối với hình ảnh của người doanh nhân.