CHƯƠNG I Ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế luôn là hai mục tiêu quan trọng của điều hành và quản lý nền kinh tế tại Việt Nam cho dù sử dụng công cụ của chính sách tiền tệ hay chính sách tài khóa. Đối với một quốc gia mà ngân hàng trung ương có sự kiểm soát nhiều đến tỷ giá hối đoái thì bên cạnh việc xác định các nhân tố ảnh hướng đến tỷ giá hối đoái, việc kiểm định những tác động của sự thay đổi tỷ giá hối đoái cũng không kém phần quan trọng. Trong đó, mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại là một trong những mối quan hệ lý thuyết phổ biến trong kinh tế. Với mục tiêu trả lời cho câu hỏi việc điều chỉnh tỷ giá có tác động tích cực tới cán cân thương mại hay không? Bài nghiên cứu thực hiện kiểm định hiện tượng đường cong J giữa Việt Nam và 5 đối tác thương mại lớn trong khoảng thời gian từ Quý 1 năm 1996 đến Quý 2 năm 2014.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HIỆU ỨNG TUYẾN J 2. Tổng quan lý thuyết về hiệu ứng tuyến J Mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại là một trong những mối quan hệ lý thuyết nổi tiếng phổ biến trong kinh tế. Do giá cả hàng hóa không co giãn trong ngắn hạn nên việc giảm giá đồng nội tệ sẽ làm tỷ giá thực tăng. Tỷ giá thực tăng làm cho xuất khẩu rẻ hơn và nhập khẩu đắt tiền hơn, kích thích tăng khối lượng xuất khẩu và hạn chế khối lượng nhập khẩu và do đó dẫn đến một cán cân thương mại được cải thiện.
Tuy nhiên, theo điều kiện Marshall Learner (ML), sự thành công của một chính sách giảm giá như vậy hoàn toàn phụ thuộc vào độ lớn của giá trị tuyệt đối của các độ co giãn của tổng cầu xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1. Trước hết cần thấy rằng cán cân thương mại được biểu thị bằng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu chứ không phải bằng khối lượng. Khi giảm giá đồng nội tệ sẽ tạo ra hiệu ứng lên giá cả và hiệu ứng lên khối lượng (Nguyễn Văn Tiến, 2009), cụ thể: - Hiệu ứng khối lượng: giảm giá đồng nội tệ làm cho khối lượng xuất khẩu tăng, khối lượng nhập khẩu giảm, do đó cán cân thương mại có xu hướng được cải thiện. - Hiệu ứng giá cả: giảm giá đồng nội tệ, tức là tỷ giá thực tăng.
Xét trường hợp cán cân thương mại Việt Nam tính bằng USD thì khi tỷ giá thực tăng làm cho giá cả hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm (giá cả hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ không đổi), do đó cán cân thương mại có xu hướng xấu đi. Hiệu ứng ròng của cán cân thương mại (được cải thiện hay trở nên xấu đi) phụ thuộc vào tính trội của hiệu ứng khối lượng hay hiệu ứng giá cả như thể hiện trong Bảng 2.1: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiệu ứng ròng của cán cân thương mại Hiệu ứng trội Diễn giải Cán cân thương mại Khả năng 1 Hiệu ứng giá Khối lượng xuất khẩu tăng và Xấu đi cả khối lượng nhập khẩu giảm không đủ đề bù đắp cho giảm giá trị xuất khẩu tính bằng ngoại tệ (hoặc tăng giá trị nhập khẩu tính bằng nội tệ) Khả năng 2 Trung hòa giữa Khối lượng xuất khẩu tăng và Duy trì 2 hiệu ứng khối lượng nhập khẩu giảm vừa đủ đề bù đắp cho giảm giá trị xuất khẩu tính bằng ngoại tệ (hoặc tăng giá trị nhập khẩu tính bằng nội tệ Khả năng 3 Hiệu ứng khối Khối lượng xuất khẩu tăng và Cải thiện lượng khối lượng nhập khẩu giảm thừa đủ đề bù đắp cho giảm giá trị xuất khẩu tính bằng ngoại tệ (hoặc tăng giá trị nhập khẩu tính bằng nội tệ) Trong thực tế, khi giảm giá đồng nội tệ, người ta thường mong đợi cán cân thương mại sẽ được cải thiện (tức khả năng thứ 3). Tuy nhiên, tiếp theo chúng ta xem xét vấn đề trên một khía cạnh khác, đó là theo chiều thời gian.
Hiệu ứng giá cả có tác dụng ngay lập tức ngay sau khi giảm giá nội tệ, trong khi đó hiệu ứng khối lượng chỉ có tác dụng sau một thời gian nhất định. Điều này xảy ra là vì khối lượng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 xuất khẩu và nhập khẩu không co dãn trong ngắn hạn, mà chỉ co dãn từ từ trong dài hạn. Do đó, sự mất giá thực tế hoặc giảm giá đồng nội tệ khó tránh khỏi được một hiệu ứng đó là cán cân thương mại trong ngắn hạn bị xấu đi trước khi cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn. Hay nói cách khác, trong ngắn hạn, hiệu ứng giá cả có tính trội hơn so với hiệu ứng khối lượng, nên đã làm cho cán cân thương mại bị xấu đi.
Trong dài hạn, khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu bắt đầu co giãn, làm cho hiệu ứng khối lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả, do đó cán cân thương mại được cải thiện. Magee (1973) đặt tên cho điều này là hiện tượng đường cong J, trong trường hợp này diễn biến theo thời gian của cán cân thương mại tương tự như chữ J. Hiệu ứng tuyến J Có nhiều nguyên nhân giải thích tại sao khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu không co dãn ngay lập tức. Nhìn chung người tiêu dùng ở trong nước và ở nước ngoài cần có một thời gian để điều chỉnh cơ cấu ưu tiên tiêu dùng sau khi đồng nội tệ giảm giá bởi vì họ có những lo lắng về chất lượng hàng hóa, độ tin cậy, danh tiếng cơ sở sản xuất v.v… Bên cạnh đó, mặc dù tỷ giá thực tăng tạo thuận lợi cho xuất khẩu nhưng các nhà sản xuất cần phải có một thời gian nhất định để mở rộng sản xuất, chẳng hạn như xây dựng thêm nhà xưởng, tuyển dụng nhân viên mới, cải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tạo đất trồng v.v… hoặc đơn giản là vì các đơn hàng xuất khẩu và nhập khẩu đã được thiết lập từ trước và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định (Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Ngọc Định, 2012).
Ngoài ra, bản thân các nhà sản xuất ở nước ngoài cũng không hẳn sẽ ngồi yên, họ có thể hạ giá hàng hóa của họ xuống để có thể làm tăng trở lại khả năng cạnh tranh của mình. Tổng quan các nghiên cứu trước đây về hiệu ứng tuyến J - Nghiên cứu sử dụng phương pháp VAR Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về hiệu ứng tuyến J sử dụng các kỹ thuật về chuỗi thời gian. Mô hình Vecto tự hồi quy (Vector Autoregression) được giới thiệu bởi (Sims, 1980) đã được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô. Người nghiên cứu tập trung vào các hàm phản ứng xung thể hiện phản ứng của 1 biến theo thời gian sau một cú sốc đến các biến khác trong hệ thống.
Đường biểu diễn theo thời gian của cán cân thương mại sau 1 cú sốc tác động lên tỷ giá theo cách đó có thể được nghiên cứu. Mô hình VAR cũng đưa đến phương pháp đồng liên kết phổ biến nhất, (Johansen, S. Onafowora (2003) sử dụng hàm phản ứng xung tổng quát để nghiên cứu các động thái trong ngắn hạn và mối đồng liên kết để nghiên cứu các hiệu ứng trong dài hạn của cán cân thương mại song phương giữa Thái Lan, Malaysia và Indonesia với Mỹ và Nhật Bản. Một số nghiên cứu khác tập trung vào cán cân thương mại tổng hợp của các quốc gia châu Á bao gồm Akbostanci (2004) không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về hiệu ứng tuyến J đối với cán cân thương mại Thổ Nhĩ Kỳ cho khoảng thời gian từ 1987-2000, Singh (2004) cũng không tìm ra hiệu ứng đường cong J cho Ấn Độ từ 1975-1996, De Siva, D.v… đều sử dụng các phương trình phản ứng xung.
Họ đều nhận thấy, cán cân thương mại có sự cải thiện nhưng GDP lại không có dấu hiệu tích cực đối với giảm giá nội tệ. Một số nghiên cứu khác nữa kết hợp các phương trình phản ứng xung và phân tích đồng liên kết cũng thất bại trong việc tìm ra bằng chứng thực nghiệm. Bao gồm: Rahman, M. (2006) sử dụng phương pháp đồng liên kết Engle – LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Granger và phương trình phản ứng xung để phân tích cán cân thương mại Bangladesh; Halicioglu, (2007) nghiên cứu cán cân của Thổ Nhĩ Kỳ với 9 đối tác thương mại sử dụng mô hình VECM, phương pháp đồng liên kết Johansen và các phương trình phản ứng xung tổng quát; và Yusoff (2007) chỉ tìm ra hiệu ứng tuyến J cho cán cân của Malaysia.
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp ARDL Trong khi khá nhiều nghiên cứu trước đây về hiệu ứng tuyến J đã sử dụng phân tích đồng liên kết và sai số điều chỉnh. Tuy nhiên, trước hết, bậc của các biến có thể không bằng nhau; thứ hai, những biến động ngắn hạn và dài hạn có thể không được nắm bắt hết nếu các bước phức tạp được đòi hỏi để thiết lập mô hình hiệu chỉnh sai số. Một phương pháp khác được phát triển khá phổ biến trong những năm gần đây bởi thành công của nó khi giải quyết 2 vấn đề phía trên: mô hình ARDL (Autoregression Distributed Lag) của Pesaran et al. Trong số các nghiên cứu cán cân thương mại tổng hợp sử dụng phương pháp ARDL, Rehman, H.
(2003) nghiên cứu Pakistan tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho hiệu ứng tuyến J và họ đề nghị rằng nên phi tổng hợp dữ liệu; Arora, A. (2003) đã kiểm tra cán cân thương mại Ấn Độ với 6 đối tác công nghiệp tìm thấy hiệu ứng trong dài hạn (với 4 quốc gia) nhưng không có hiệu ứng tuyến J; Bahmani-Oskooee, M. (2005) cũng thất bại khi tìm bằng chứng thực nghiệm cho Úc; Bahmani-Oskooee, M. (2006) cũng tìm thấy những hệ số có ý nghĩa ngắn hạn trong ước lượng cán cân thương mại Trung Quốc với 13 đối tác thương mại; v.v… Khá nhiều các nghiên cứu thực nghiệm tốt về đường cong J đã được tiến hành trong ba thập kỷ qua sử dụng hai phương pháp tiếp cận riêng biệt; phương pháp tiếp cận cán cân thương mại tổng hợp và phương pháp tiếp cận cán cân thương mại song phương.
Cả hai loại phương pháp tiếp cận, một là phương pháp giao dịch cán cân thương mại tổng hợp với dòng chảy thương mại giữa một quốc gia và phần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 còn lại của thế giới trong khi phương pháp còn lại thì xem xét dòng chảy thương mại giữa một quốc gia và các đối tác kinh doanh của mình.