ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Để tiến hành sản xuất kinh doanh thì yếu tố không thể thiếu được là phải có vốn, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng vốn nhất định, bởi vốn chính là đối tượng của quá trình trao đổi, nếu thiếu hụt vốn doanh nghiệp sẽ mất khả năng thanh toán, không đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Hay nói cách khác vốn là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Trong điều kiện Việt Nam ngày càng hội nhập và phát triển nhu cầu về vốn của doanh nghiệp là vấn đề lớn và được quan tâm, do doanh nghiệp là nhân tố quan trọng trong quá trình chuyển mình của đất nước.
Doanh nghiệp muốn phát triển khi bảo toàn và sử dụng đồng vốn của mình có hiệu quả. Sử dụng vốn có hiệu quả không những tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn nâng cao khả năng cạnh trạnh, mở rộng thị trường, định vị thương hiệu…. Song thực tiễn cho thấy trong xu thế cạnh tranh như hiện nay bên cạnh các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, cũng không ít doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ trong nhiều năm đang đứng trước nguy cơ phải phá sản, giải thể. Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, năm 2014 cả nước có 67.823 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động.
Số lượng doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng.322 doanh nghiệp khó khăn phải ngừng hoạt động, tăng 14,5% so với năm trước.723 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, 46.599 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Điều đó có thể nói lên rằng sử dụng vốn cho đúng và hợp lý là mục tiêu mà mỗi một doanh nghiệp quan tâm, hướng đến để mỗi đồng vốn được đầu tư sinh lời như đúng kỳ vọng. Vì vậy, nguồn vốn là yếu tố quan trọng quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp. Đồng thời, thông qua các chỉ tiêu đánh giá sử dụng vốn, doanh nghiệp có thể cho những cá nhân cũng như đơn vị khác có cái nhìn khách quan hơn về năng lực của doanh nghiệp.
Để từ đó, đưa ra những chính sách phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp. 1 Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình là doanh nghiệp hoạt động trong ngành dược với thời gian khá dài. Cùng với đó công ty không ngừng mở rộng quy mô với hệ thống chi nhánh ở nội tỉnh cũng như các tỉnh thành khác đó là: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Qua đó cho thấy vốn của công ty được sử dụng một cách triệt để nhằm đầu tư, tái sản xuất kinh doanh.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu mà quý công ty luôn quan tâm. Khi thị trường ngày càng có yêu cầu cao, thanh lọc lại các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì Dược phẩm Quảng Bình cũng cần có những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hơn nữa để có thể đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh hướng tới nhiều thị trường khẳng định vai trò và vị thế của mình ở trong và ngoài nước. Công ty cũng đang đứng trước thách thức phải làm sao để quản lý và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, làm thế nào để bảo toàn và phát triển được nguồn vốn. Đây là câu hỏi luôn được đặt ra đối với ban lãnh đạo công ty.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên và yêu cầu thực tiễn của Công ty nên em quyết định chọn đề tài “Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho công ty. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn. - Phân tích tình hình sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình giai đoạn 2012 – 2014.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty giai đoạn 2015 - 2020. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: các vấn đề liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình. 2 Phạm vi nghiên cứu - Về mặt thời gian: số liệu thứ cấp giai đoạn 2012 – 2014. - Về mặt không gian: Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình.
Phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp duy vật biện chứng Phương pháp này xem xét sự vận động của các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ chặt chẽ với các sự vật, hiện tượng khác và sự vận động của sự vật, hiện tượng qua các thời kỳ khác nhau Phương pháp thu thập số liệu - Số liệu thứ cấp: thu thập số liệu qua bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo tài chính của công ty giai đoạn 2012 – 2014. Phương pháp phân tích số liệu - Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối để thấy rõ sự biến động về tình hình sử dụng vốn tại công ty qua 3 năm. - Phương pháp phân tích thống kê: dựa trên những số liệu sẵn có để so sánh, đối chiếu, đánh giá các sự kiện. Từ đó, tìm cách lý giải, xác định được tính hợp lý của thông tin về các hoạt động của công ty.
3 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY 1. Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả thì điều đầu tiên mà doanh nghiệp quan tâm và nghĩ đến là làm thế nào để có đủ vốn và sử dụng nó như thế nào sao cho có hiệu quả cao nhất. Vậy câu hỏi đặt ra là vốn trong doanh nghiệp là gì? Có nhiều quan điểm khác nhau về vốn.
Theo các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển.Marx, vốn (tư bản) là giá trị đem lại thặng dư, là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.Samuelson, nhà kinh tế học theo trường phái Tân cổ điển, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, đó có thể là máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ… Bổ sung định nghĩa vốn tài chính cho định nghĩa vốn của Samuelson trong cuốn kinh tế học của David Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa về vốn: Vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, những khái niệm về vốn của các nhà kinh tế học trước đó còn vấp phải những hạn chế.
Vì nguồn vốn trước kia bị bó hẹp trong khuôn khổ là tài sản của doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển của xã hội thì khái niệm nguồn vốn được mở rộng hơn. Ngày nay vốn được nhìn nhận chung là biểu hiện của toàn bộ tài sản doanh 4 nghiệp bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho thị trường. Phân loại vốn Tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn, và việc phân loại vốn theo các cách thức khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp đề ra được các giải pháp quản lí và sử dụng sao cho có hiệu quả.
Có nhiều cách phân loại vốn doanh nghiệp theo các giác độ khác nhau: 1. Theo nguồn hình thành, vốn của doanh nghiệp được chia thành a) Vốn chủ sở hữu Là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần. Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán (không phải là một khoản nợ). Có ba nguồn vốn cơ bản tạo nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, đó là: - Vốn kinh doanh: gồm vốn góp (nhà nước, các bên tham gia liên doanh, cổ đông, các chủ doanh nghiệp) và phần lãi chưa phân phối của kết quả sản xuất kinh doanh.
- Chênh lệch đánh giá lại tài sản ( chủ yếu là tài sản cố định): khi nhà nước cho phép hoặc các thành viên quyết định. - Các quỹ của các doanh nghiệp: hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi. Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm vốn đầu tư XDCB và kinh phí sự nghiệp. b) Nợ phải trả Là tổng số vốn mà doanh nghiệp không có quyền sở hữu nhưng có quyền sử dụng.
Là tổng các khoản nợ phát sinh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm các khoản nợ tiền vay (vay ngắn hạn, vay dài hạn, vay trong nước, vay nước ngoài), các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, các khoản phải trả cho công nhân viên (tiền lương, phụ cấp,.) và các khoản phải trả khác. Theo tính chất chu chuyển vốn a) Vốn cố định Vốn cố định là vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư mua sắm, xây dựng để hình thành nên tài sản cố định (TSCĐ) hay được hiểu là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ nhằm đem lại lợi ích cho doanh nghiệp. Việc quản lý vốn cố định thực chất là việc quản lý TSCĐ. Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài, có chức năng là tư liệu lao động.
Vốn cố định tham gia nhiều vào chu trình sản xuất kinh doanh. Khi tham gia quá trình sản xuất kinh doanh. Về số lượng (số TSCĐ) không đổi, nhưng về mặt giá trị, vốn cố định được dịch chuyển dần vào trong giá thành sản phẩm mà vốn cố định đó sản xuất ra. Thông qua hình thức khấu hao TSCĐ, giá trị dịch chuyển dần đó tương ứng với mức độ hao mòn thực tế của TSCĐ.