Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT RAU AN TOÀN 1. Khái niệm và vai trò của sản xuất nông nghiêp *Khái niệm Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản xã hội sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. *Vai trò của sản xuất nông nghiệp Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực - thực phẩm cho xã hội đại bộ phận là sản phẩm nuôi sống con người và không có một ngành sản xuất nào thay thế được. Khi xã hội càng phát triển đời sống con người được nâng cao thì nhu cầu về lương thực-thực phẩm tăng về số lượng và chất lượng, chủng loại do 2 yếu tố sau: - Thứ nhất là do sự tăng lên không ngừng của dân số - Thứ hai là do sự tăng lên của nhu cầu bản thân con người.
Do vậy, chỉ có một nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao mới đáp ứng được nhu cầu tăng lên thường xuyên đó. Hàng năm, trên toàn thế giới, với sự ổn định khoảng 300 triệu hộ nông dân đã đóng góp, giữ vai trò là lực lượng chủ đạo trong nền nông nghiệp toàn cầu. Sản xuất ra khoảng trên 2000 triệu tấn lương thực; trên 200 triệu tấn hạn có dầu và khoảng 1000 triệu tấn thịt, sữa, trứng,hàng tỷ ra, quả cung cấp cho gần 7 tỷ người[5]. 5 Ở nước ta với trên 11 triệu hộ nông dân, hàng năm đã tạo ra một khối lượng nông sản thực phẩm lớn không những đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân cả nước mà còn vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất trên thế giới.
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá. Là đơn vị kinh tế độc lập, các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản xuất và quá trình sản xuất. Với quy mô nhỏ hộ sản xuất có thể dễ dàng loại bỏ những dự án sản xuất, những sản phẩm không còn khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường để sản xuất loại sản phẩm thị trường cần mà không sợ ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu do cấp trên quy định. Mặt khác với mục đích lợi nhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiện chế độ hạch toán kinh tế để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuất đến một hình thức phát triển cao hơn.
Do đó, kinh tế hộ sản xuất có khả năng ngày càng thích ứng với nhu cầu của thị trường, từ đó có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn xã hội. Hộ sản xuất cũng là lực lượng thúc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nước ta phát triển cao hơn. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hộ gia đình sản xuất hàng hoá đã mạnh dạn đầu tư, tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, từng bước khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp sang sản xuất tập trung với quy mô hàng hoá nông sản không ngừng tăng lên. Từ đó tạo nên vùng chuyên môn hoá, tập trung hoá và thâm canh cao, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bên cạnh đó, các hộ sản xuất hàng hoá phát triển sẽ kéo theo theo các ngành kinh tế khác phát triển, nhất là công nghiệp chế biến nông - lâm sản, 6 dịch vụ phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp và các hoạt động kinh tế khác trong nông thôn. Làm cho kinh tế nông thôn phát triển đa dạng và chuyển dịch dần theo hướng giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Giải quyết việc làm và tăng thu nhập Trong điều kiện ngành kinh tế nông thôn phát triển còn chậm, dân số nông thôn tăng nhanh, vấn đề lao động và việc làm đang là vấn đề bức xúc thì phát triển hộ nông dân sản xuất hàng hoá có một ý nghĩa to lớn. Bởi vì, hộ nông dân sản xuất hàng hoá phát triển sẽ tạo thêm nhiều việc làm, thu hút được lao động đang dư thừa trong nông thôn, nhất là số lao động số trẻ thiếu việc làm đang có xu hướng gia tăng hiện nay.
Mặt khác, hộ sản xuất hàng hoá phát triển làm tăng thêm thu nhập của người lao động, đời sống người dân được cải thiện, giảm hộ đói nghèo, tăng nhanh hộ khá giầu, góp phần thúc đẩy kết cấu hạ tầng trong nông thôn. Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Ngoài các vai trò trên khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quí cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năngcạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường. Khái niệm rau an toàn Sản xuất rau là một ngành trong sản xuất nông nghiệp.
Vì vậy, muốn hiểu về rau an toàn chúng ta đi từ khái niệm về nền nông nghiệp. Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam có hai quan niệm về nền nông nghiệp sạch là: Nông nghiệp sạch tương đối và nông nghiệp sạch tuyệt đối [10]. - Nông nghiệp sạch tương đối: Là nền nông nghiệp có sự kết hợp các biện pháp thâm canh hiện đại, đặc biệt là các thành tựu về công nghệ sinh học kỹ thuật cao với các biện pháp 7 hữu cơ, sinh học để giảm thiểu tới mức thấp nhất việc sử dụng các loại phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật hoá học nhằm hạn chế tối đa tác động xấu của sản xuất đến môi trường. Đồng thời các sản phẩm sản xuất không có hoặc có dưới mức cho phép các dư lượng chất độc nền nông nghiệp này được áp dụng phổ biến ở các nước phát triển[9].
- Nông nghiệp sạch tuyệt đối: Là nền nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh học. Nền nông nghiệp này người ta áp dụng các biện pháp hữu và sinh học, trở lại với chế độ canh tác tự nhiên, không dùng các loại phân bón hoá học hay thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Nó được trồng trong nhà kính nhà lưới để cách ly với các yếu tố độc hại của môi trường bên ngoài. Nền nông nghiệp này chủ yếu chỉ được áp dụng ở các nước phát triển vì họ có nền nông nghiệp tiên tiến có điều kiện về kinh tế để đầu tư vốn cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp[9].
Xuất phát từ những quan điểm đó mà Tổ chức y tế thế giới (WHO) tổ chức nông lương thế giới (FAO)[4], thì rau an toàn phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Rau đảm bảo phẩm cấp, chất lượng không bị dư hại, dập nát, héo úa, không ngâm, ủ bằng chất hoá học độc hại. - Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng Nitrat (NO3) và kim loại nặng ở dưới mức cho phép. - Rau không bị sâu bệnh không có vi sinh vật cho người và gia súc. Ngoài ra, Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Phú Thọ có quan niệm về rau sạch như sau: [15].
- Rau an toàn (rau sạch tương đối) là loại rau mà lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng Nitrat,hàm lượng kim loại nặng và lượng vi sinh vật gây 8 hai tồn đọng trong rau an toàn không vượt quá mức cho phép của tổ chức y tế thế giới (WHO). - Rau sạch tuyệt đối: "Ngoài các tiêu chuẩn trên còn không được dùng thuốc hoá học và thuốc trừ sâu trong canh tác. Ngoài các quan niệm trên, Trần Khắc Thi coi sản phẩm rau là rau an toàn thì phải đáp ứng các yêu cầu sau [16]. - Rau phải sạch, hấp dẫn về hình thức: tươi, sạch bụi bẩn tạp chất, thu đúng độ chín, khi rau có chất lượng cao nhất, không có triệu chứng bệnh có bao bì vệ sinh hấp dẫn.
- Đồng thời rau an toàn phải an toàn về chất lượng: Tức là dư lượng thuốc về bảo vệ thực vật, dư lượng Nitrat, dư lượng kim loại nặng và dư lượng vi sinh vật gây hại trong rau không vượt quá mức cho phép của tổ chức y tế thế giới (WHO). Đặc điểm kỹ thuật của sản xuất rau an toàn Rau là cây ngắn ngày, rất phong phú về chủng loại, yêu cầu việc bố trí mùa vụ, tổ chức các dịch vụ phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật và tổ chức sử dụng lao động trong sản xuất cần được sắp xếp hợp lý và khoa học. Sản xuất rau đòi hỏi phải đầu tư nhiều lao động Rau là ngành sản xuất mang tính hàng hoá cao, sản phẩm rau an toàn có chứa hàm lượng nước cao, khối lượng cồng kềnh, dễ hư hỏng, dập nát, khó bảo quản và vận chuyển. Sản xuất và tiêu thụ rau mang tính thời vụ do đó khả năng cung cấp của chúng có thể dồi dào ở chính vụ nhưng lại khan hiếm ở thời điểm giáp vụ, nhu cầu của người tiêu dùng là bất cứ mọi thời điểm trong năm.
Đặc điểm riêng cho sản xuất và tiêu thụ rau an toàn: - Quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt 9 - Yêu cầu chặt chẽ về điều kiện sản xuất (chọn đất, nước tưới, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tổ chức sử dụng lao động trong sản xuất) và đặc điểm sản phẩm nên gây ra cho người sản xuất, cung ứng khó chủ động được hoàn toàn về số lượng và chất lượng rau ra thị trường. Điều này dẫn tới sự dao động lớn về giá cả, số lượng, chất lượng rau trên thị trường. Tiêu dùng rau an toàn còn phụ thuộc vào yếu tố thu nhập, tâm lý, tập quán, thói quen người tiêu dùng. Xu hướng phát triển ở nước ta hiện nay nhu cầu tiêu dùng đang tăng nhanh tạo ra thị trường tiêu thụ rau an toàn phát triển cả về số lượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm.
Vai trò của sản xuất rau an toàn Trong bữa ăn hàng ngày, rau là thức ăn không thể thiếu, là nguồn cung cấp vitamin phong phú nên nhiều thực phẩm khác không thể thay thế được như các loại vitamin A, B, C, D, E, K, các loại axít hữu cơ và khoáng chất như Ca, P, Fe rất cần cho sự phát triển của con người. Rau không chỉ cung cấp vitamin và khoáng chất mà còn có tác dụng chữa bệnh.