CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý luận chung về hiệu quả kinh tế 1.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế Đối với một doanh nghiệp, một cơ sở kinh doanh nào khi kinh doanh một mặt hàng hay sản phẩm nào thì mục tiêu quan tâm nhất đều hướng tới lợi nhuận. Vậy muốn có được lợi nhuận cao thì yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp hay cơ sở đó phải đạt được hiệu quả kinh tế. Thực chất cho thấy hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm của các doanh nghiệp và các cơ sở kinh doanh mà là sự quan tâm của hầu hết các thành phần kinh tế và của xã hội. Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm cao nhất của kinh tế học nói chung và kinh tế vi mô nói riêng.
Theo quan điểm của kinh tế học vi mô thì hiệu quả kinh tế có những vấn đề cơ bản như sau: Hiệu quả kinh tế là tất cả những quyết định sản xuất cái gì trên đường giới hạn năng lực sản xuất là có hiệu quả vì nó tận dụng hết nguồn lực. Số lượng hàng hóa đạt được trên đường giới hạn của năng lực sản xuất càng lớn càng có hiệu quả cao. Sự thỏa mãn tối đa về mặt hàng, chất lượng, số lượng hàng hóa theo nhu cầu thị trường trong giới hạn của đường năng lực sản xuất cho ta đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Kết quả trên một đơn vị chi phí càng lớn hoặc chi phí trên một đơn vị kết quả càng nhỏ thì hiệu quả kinh tế càng cao.
Theo GS – TS Ngô Đình Giao: Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Theo quan điểm của Farrell (1957): Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất phải đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. • Hiệu quả kỹ thuật Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công. Nguyễn com Yến Thị Hồng.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng nghệ được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp. Hiệu quả này thường được phản ánh trong mối quan hệ về các hàm sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân ra quyết định sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, kỹ năng của người sản xuất cũng như môi trường kinh tế xã hội khác mà trong đó kỹ thuật được áp dụng. • Hiệu quả phân bổ Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. Hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào một cách hợp lý để tối thiểu hóa chi phí với một lượng đầu ra nhất định nhằm đạt được lợi nhuận tối đa.
Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kinh tế có tính đến các yếu tố giá của các yếu tố đầu vào và đầu ra nên hiệu quả phân bổ còn được gọi là hiệu quả về giá. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất phải đạt hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố giá trị và hiện vật đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu sản xuất chỉ đạt được hiệu quả kỹ thuật hoặc hiệu quả phân bổ thì mới là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế Khi nghiên cứu về bản chất kinh tế các nhà kinh tế học đã đưa ra những quan điểm khác nhau nhưng đều thống nhất chung bản chất của nó.
Người sản xuất muốn có lợi nhuận thì phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là: nhân lực, vật lực, vốn…Chúng ta tiến hành so sánh kết quả đạt được sau mỗi quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra thì có hiệu quả kinh tế. Sự chênh lệch này càng cao thì hiệu. Nguyễn com Yến Thị Hồng. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Lê Sỹ Hùng quả kinh tế càng lớn và ngược lại. Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạt được hiệu quả tối đa về chi phí nhất định hoặc ngược lại, đạt được kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả chi phí để tạo ra nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội.3 Ý nghĩa của việc xác định hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp - Biết được mức hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế để có biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.
- Làm căn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuất nông nghiệp. Nếu hiệu quả kinh tế còn thấp thì có thể tăng sản lượng nông nghiệp bằng các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, ngược lại đạt được hiệu quả kinh tế cao thì để tăng sản lượng cần đổi mới công nghệ.4 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế Hiện nay có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh tế (HQKT), tuy nhiên chúng ta có thể tóm tắt thành ba loại quan điểm như sau: - Quan điểm thứ nhất cho rằng HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra (các nguồn nhân, tài, vật lực, tiền vốn…) để đạt được kết quả đó. - Quan điểm thứ hai cho rằng HQKT được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó HQKT = Kết quả sản xuất - Chi phí - Quan điểm thứ ba xem xét HQKT trong phần biến động giữa chi phí và kết quả sản xuất. Theo quan điểm thứ ba HQKT biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung.
Một số ý kiến chú ý đến quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng trưởng kết quả sản xuất với mức độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội. Nguyễn com Yến Thị Hồng. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng HQKT=K/C K: Là phần tăng thêm của kết quả sản xuất C: Là phần tăng thêm của chi phí sản xuất Từ các quan điểm trên ta thấy + Nếu chỉ đánh giá HQKT ở khía cạnh lợi nhuận thuần túy (kết quả sản xuất kinh doanh trừ chi phí sản xuất) thì chưa xác định được năng suất lao động xã hội và so sánh khả năng cung cấp sản phẩm cho xã hội của những nhà sản xuất có hiệu số giữa kết quả sản xuất kinh doanh và chi phí sản xuất như nhau.
Tuy nhiên nếu chỉ tập trung vào các chỉ tiêu tỷ số giữa kết quả sản xuất với chi phí thì lại chưa toàn diện, nó là số tương đối và chỉ tiêu này chưa phân tích được sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực. Hai cơ sở sản xuất đạt được tỷ số trên là như nhau, nhưng ở những không gian, thời gian, điều kiện khác nhau thì sự tác động của nguồn lực tự nhiên là khác nhau và như vậy hiệu quả kinh tế cũng không giống nhau. + Với quan điểm coi HQKT chỉ ở phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung thì cũng chưa đầy đủ. Trong thực tế, kết quả sản xuất đạt được luôn là hệ quả của các chi phí có sẵn cộng với chi phí bổ sung.
Ở các mức chi phí có sẵn khác nhau thì hiệu quả của chi phí bổ sung cũng sẽ khác nhau. Vì vậy, khi xem xét HQKT chúng ta phải xem xét trên tất cả các góc độ để có cái nhìn toàn diện, chính xác, tùy theo mục đích và yêu cầu nghiên cứu.2 Phân loại hiệu quả kinh tế Có thể phân loại HQKT theo các tiêu chí sau: * Phân loại hiệu quả theo bản chất, mục tiêu - HQKT phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra, nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế của hoạt động kinh tế mang lại. - Hiệu quả xã hội phản ánh mối tương quan giữa kết quả của các lợi ích về mặt xã hội do hoạt động sản xuất mang lại và chi phí mà xã hội phải bỏ ra. Nguyễn com Yến Thị Hồng.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng - Hiệu quả kinh tế - xã hội phản ánh mối tương quan giữa kết quả tổng hợp về mặt kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả như bảo vệ môi trường, lợi ích công cộng. * Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất các nguồn lực và hướng tác động vào sản xuất thì chia HQKT thành: - Hiệu quả sử dụng đất đai - Hiệu quả sử dụng lao động - Hiệu quả sử dụng các yếu tố tài nguyên như năng lượng, vốn… - Hiệu quả việc áp dụng khoa học - kỹ thuật như hiệu quả làm đất, hiệu quả bón phân… 1.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá * Chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư của các nông hộ - Chi phí đầu tư phân bón/sào (tính cho từng loại cụ thể) - Chi phí thuốc hóa học/sào: thuốc sâu, thuốc cỏ - Chi phí dịch vụ/sào - Chí phí thủy lợi * Chi phí trung gian (IC) là một bộ phận cấu thành tổng giá trị sản xuất, bao gồm chi phí vật chất và dịch vụ vật chất, không kể công lao động gia đình và khấu hao tài sản cố định.