Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển ngày càng chú trọng đến năng lực tài chính của người dân, sự thiếu hụt kiến thức tài chính được xác định là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các quyết định kinh tế không sáng suốt, gây tác động tiêu cực đến an toàn tài chính cá nhân và hệ thống kinh tế vĩ mô (OECD, 2017). Tại Việt Nam, nhiều người trẻ đối mặt với tình trạng chi tiêu mất kiểm soát, gia tăng nợ nần và tỷ lệ tích lũy thấp (Nguyễn Thị Hoài Lê, 2023). Khảo sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ ra mức độ hiểu biết tài chính của sinh viên còn ở mức thấp; đồng thời báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) xếp hạng Việt Nam đứng thứ 26 trên tổng số 28 quốc gia được khảo sát về mức độ hiểu biết tài chính. Mặc dù giới trẻ là đối tượng bắt đầu bước vào giai đoạn tự chủ tài chính và đối mặt nhiều rủi ro, các nghiên cứu chuyên sâu về năng lực tài chính của nhóm này tại Việt Nam vẫn còn hạn chế.
Sinh viên khối ngành Kế toán - Tài chính được đào tạo chuyên môn để phân tích, quản trị tài chính cho doanh nghiệp và được kỳ vọng có nền tảng hiểu biết tài chính cá nhân vững vàng. Mặt khác, khởi nghiệp đòi hỏi các kỹ năng thực tế về quản trị dòng tiền, xây dựng kế hoạch kinh doanh, huy động nguồn vốn và kiểm soát rủi ro. Nếu sinh viên chuyên ngành tài chính vẫn gặp khó khăn trong việc quản trị tài chính cá nhân, khả năng vận hành và duy trì một doanh nghiệp độc lập sẽ gặp nhiều rào cản. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính cá nhân và ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Kế toán – Tài chính, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế. Do đó, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Mai (ngành Tài chính – Ngân hàng, niên khóa 2021-2025) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn này.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá mức độ hiểu biết tài chính cá nhân, ý định khởi nghiệp và ảnh hưởng của hiểu biết tài chính cá nhân đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Kế toán - Tài chính.
- Các mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tài chính cá nhân, ý định khởi nghiệp và mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính cá nhân đến ý định khởi nghiệp.
- Mục tiêu 2: Đánh giá mức độ hiểu biết tài chính, ý định khởi nghiệp và ảnh hưởng của mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính với ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Kế toán – Tài chính; xác định các yếu tố liên quan có tác động trực tiếp đến khả năng và ý định khởi nghiệp của sinh viên.
- Mục tiêu 3: Đề xuất gợi ý giải pháp hỗ trợ sinh viên trong việc nâng cao hiểu biết tài chính cá nhân và khởi nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính cá nhân và ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Kế toán – Tài chính.
- Đối tượng khảo sát: Chủ yếu là nhóm sinh viên thuộc Khoa Kế toán – Tài chính, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế (tập trung vào sinh viên năm thứ 3 và năm thứ 4), kết hợp đối chiếu với nhóm sinh viên các khoa khác thuộc trường.
- Phạm vi không gian: Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ tháng 2 năm 2025 đến tháng 3 năm 2025.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý thuyết dựa trên các khung định nghĩa chuẩn hóa quốc tế và các lý thuyết hành vi xã hội:
- Khung đo lường hiểu biết tài chính: Tác giả vận dụng định nghĩa của OECD (2015), coi hiểu biết tài chính là sự kết hợp giữa nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi cần thiết để đưa ra quyết định hợp lý, chia thành 3 khía cạnh: Kiến thức tài chính, Hành vi tài chính và Thái độ tài chính. Nghiên cứu cũng tham chiếu định nghĩa từ Australian Unity (AU), ANZ (2011) và Hội liên hiệp Jump$tart.
- Lý thuyết nền tảng về hành vi:
- Thuyết Hành động Hợp lý (TRA - Fishbein & Ajzen, 1980; Ajzen, 1985) xem xét ý định hành vi bắt nguồn từ Thái độ đối với hành vi và Nhận thức về áp lực xã hội (chuẩn chủ quan).
- Thuyết Hành vi Dự định (TPB - Ajzen, 1985, 1991) mở rộng từ TRA bằng cách bổ sung nhân tố Nhận thức về sự kiểm soát hành vi (PBC) nhằm giải thích các rào cản thực tế ngoài tầm kiểm soát của cá nhân.
- Thuyết Các bên liên quan (Stakeholder Theory - Freeman, 1984) được dùng để làm rõ vai trò tương tác giữa nhà trường, gia đình, bạn bè và xã hội trong việc định hình nhận thức và năng lực tài chính của sinh viên.
- Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm: Luận văn tổng hợp các nghiên cứu trong nước (Nguyễn Hoàng Phương, 2024; Nguyễn Xuân Hiệp và cộng sự, 2018; Nguyễn Thị Hoài Lê, 2011; Phan Anh Tú & Trần Quốc Huy, 2017; Đỗ Thị Hải Ninh, 2023) và nghiên cứu nước ngoài (Rapina, 2023; Suparno & Saptono, 2018; Wongnaa & Seyram, 2014; Usman Yousaf và cộng sự, 2015).
Dựa trên cơ sở lý thuyết, tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu gồm 6 nhóm biến độc lập tác động đến 1 biến phụ thuộc (Ý định khởi nghiệp - YD) thông qua hệ thống giả thuyết:
- H1: Kiến thức tài chính có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
- H2: Hành vi tài chính có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
- H3: Thái độ tài chính có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
- H4: Đặc điểm tính cách có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp.
- H5 (nhóm 1): Thái độ với hành vi khởi nghiệp có tác động thuận chiều đến ý định khởi nghiệp.
- H5 (nhóm 2): Tiếp cận tài chính có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp.
- H6: Quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính (tổng thuật tài liệu để hiệu chỉnh thang đo) và nghiên cứu định lượng (khảo sát bảng hỏi, xử lý bằng SPSS 20):
- Thang đo: Bao gồm 35 biến quan sát thuộc 7 nhóm nhân tố, đo lường bằng câu hỏi trắc nghiệm đúng/sai cho kiến thức tài chính (KT1 - KT5) và thang đo Likert 5 mức độ cho các biến còn lại:
- Kiến thức tài chính (KT): 5 biến quan sát (KT1: tính lãi tiền gửi ngân hàng từ 100 lên 112 triệu; KT2: tính sức mua gạo khi lạm phát 5%; KT3: thu nhập và lương hưu; KT4: tính lãi trái phiếu chính phủ 10%; KT5: tính tỷ suất sinh lời cổ phiếu từ giá 50.000 lên 60.000 đồng).
- Thái độ tài chính (TDTC): 5 biến quan sát (TDTC1 - TDTC5).
- Hành vi tài chính (HVTC): 4 biến quan sát (HV1 - HV4).
- Đặc điểm tính cách (DD): 5 biến quan sát (DD1 - DD4, TC5).
- Thái độ với hành vi khởi nghiệp (TDKN): 5 biến quan sát (TDKN1 - TDKN5).
- Tiếp cận tài chính (TC): 3 biến quan sát (TC1 - TC3).
- Quy chuẩn chủ quan (CCQ): 4 biến quan sát (CCQ1 - CCQ4).
- Ý định khởi nghiệp (YD - biến phụ thuộc): 4 biến quan sát (YD1 - YD4).
- Xác định quy mô mẫu: Áp dụng quy tắc kinh nghiệm của Hair và cộng sự (2006) và Nguyễn Đình Thọ (2014) với tỷ lệ tối thiểu 10 quan sát trên mỗi biến đo lường (10:1). Với 35 biến quan sát, số mẫu tối thiểu cần thiết được tính là: $n = 10 \times 35 = 350$ quan sát. Tác giả chọn kích thước mẫu tối thiểu từ 350 sinh viên.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Đối với sinh viên năm thứ 3, phát phiếu khảo sát trực tiếp tại giảng đường trong giờ giải lao; đối với sinh viên năm thứ 4 (đang thực tập tốt nghiệp tại doanh nghiệp), gửi biểu mẫu trực tuyến (Google Form) thông qua sự hỗ trợ của giảng viên hướng dẫn thực tập.
- Quy trình xử lý số liệu trên SPSS 20: (1) Thống kê mô tả; (2) Đánh giá độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha (loại biến có hệ số tương quan biến - tổng < 0,3; thang đo đạt yêu cầu khi Alpha $\ge$ 0,6); (3) Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với các tiêu chuẩn KMO trong khoảng 0,5 - 1, kiểm định Bartlett có Sig < 0,05, hệ số tải nhân tố > 0,5, tổng phương sai trích > 50% và Eigenvalue > 1; (4) Phân tích tương quan Pearson; (5) Phân tích hồi quy tuyến tính bội; (6) Kiểm định giả thiết Independent Samples T-test (kết hợp kiểm định Levene) và phân tích phương sai ANOVA để so sánh khác biệt nhân khẩu học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương này tập trung xây dựng cơ sở khoa học cho toàn bộ đề tài:
- Phân tích và hệ thống hóa các định nghĩa về tài chính cá nhân và hiểu biết tài chính theo chuẩn của OECD, Jump$tart, ANZ và AU. Khẳng định 3 cấu phần nòng cốt gồm kiến thức tài chính (nắm bắt lạm phát, lãi suất kép, tỷ suất sinh lời, rủi ro), hành vi tài chính (lập ngân sách, tiết kiệm, chi tiêu, quản lý nợ) và thái độ tài chính (định hướng tương lai, mức độ coi trọng tiền tệ).
- Làm rõ khái niệm khởi nghiệp dưới góc độ kinh tế lao động (lựa chọn giữa làm thuê và tự tạo việc làm theo Kolvereid, 1997; Linan & Chen, 2006) và góc độ quản trị kinh doanh/tinh thần doanh nhân (khám phá, khai thác cơ hội theo Bird, 1988; Gupta & Bhawe, 2007). Phân tích vai trò của ý định khởi nghiệp như một quá trình có hoạch định theo Ajzen (1991) và Krueger và cộng sự (2000).
- Hệ thống hóa các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa năng lực tài chính và động lực khởi sự doanh nghiệp.
- Trình bày chi tiết mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 nhân tố độc lập (Kiến thức tài chính, Hành vi tài chính, Thái độ tài chính, Đặc điểm tính cách, Thái độ với hành vi khởi nghiệp, Tiếp cận tài chính, Quy chuẩn chủ quan) tác động lên Ý định khởi nghiệp; chi tiết hóa bảng thang đo 35 biến quan sát và các tiêu chuẩn kiểm định thống kê.
Chương 2: Phân tích hiểu biết tài chính cá nhân và ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Kế toán – Tài chính, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Chương này trình bày toàn bộ kết quả phân tích thực nghiệm thu thập từ khảo sát:
- Khái quát về địa bàn nghiên cứu: Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế được thành lập theo Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 27/9/2002 (tiền thân từ Khoa Kinh tế Nông nghiệp, Đại học Công nghiệp II Hà Bắc năm 1969). Đơn vị có 05 khoa chuyên môn, 06 phòng chức năng, 01 viện, 03 trung tâm; năm 2017 có 208 cán bộ giảng viên (tỷ lệ trên thạc sĩ đạt trên 79%). Khoa Kế toán – Tài chính là đơn vị trực tiếp quản lý sinh viên chuyên ngành được khảo sát.
- Thống kê mô tả mẫu: Thống kê cơ cấu nhân khẩu học (giới tính, khóa học, khoa đào tạo) và đo lường giá trị trung bình của các biến số thuộc nhóm hiểu biết tài chính (Kiến thức tài chính, Thái độ tài chính, Hành vi tài chính) và các nhân tố tâm lý, xã hội.
- Kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha): Thực hiện kiểm định lần lượt cho các thang đo Thái độ tài chính, Hành vi tài chính, Đặc điểm tính cách, Thái độ khởi nghiệp, Tiếp cận tài chính, Quy chuẩn chủ quan và Ý định khởi nghiệp; loại bỏ các biến không đạt tiêu chuẩn tương quan biến - tổng.
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Kiểm tra điều kiện qua hệ số KMO và Bartlett's Test; trích xuất các nhân tố độc lập và nhân tố phụ thuộc, xác nhận các biến quan sát hội tụ vào đúng các cấu trúc lý thuyết với hệ số tải nhân tố đạt chuẩn.
- Phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy:
- Ma trận tương quan Pearson khẳng định mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc Ý định khởi nghiệp, đồng thời kiểm tra mức độ liên kết giữa các biến độc lập để phòng ngừa đa cộng tuyến.
- Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình qua bảng tóm tắt mô hình (hệ số $R^2$ hiệu chỉnh) và bảng phân tích phương sai ANOVA (giá trị Sig < 0,05 chứng minh mô hình hồi quy có ý nghĩa thống kê).
- Kiểm định các vi phạm giả thuyết hồi quy: Phân tích biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa, biểu đồ tần số P-P và biểu đồ phân tán Scatterplot nhằm đảm bảo tính phân phối chuẩn và phương sai sai số không đổi.
- Kiểm định khác biệt (Independent Samples T-test & ANOVA):
- Kiểm định sự khác biệt về ý định khởi nghiệp theo giới tính và theo khoa đào tạo.
- Kiểm định sự khác biệt về mức độ hiểu biết tài chính giữa các khoa và giữa các nhóm giới tính ở từng khoa.
- So sánh và thảo luận: Đối chiếu kết quả thu được với các công trình nghiên cứu trước đây (như mô hình của Đỗ Thị Hải Ninh, 2023; Rapina, 2023; Phan Anh Tú & Trần Quốc Huy, 2017) để làm rõ tính tương đồng và các điểm dị biệt trong bối cảnh sinh viên Đại học Kinh tế Huế.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu rút ra các kết quả định lượng cụ thể từ việc kiểm định mô hình hồi quy và kiểm định trung bình mẫu:
- Về vai trò của hiểu biết tài chính: Kết quả khẳng định hiểu biết tài chính có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Trong đó, Hành vi tài chính là nhân tố có tác động tích cực và mạnh mẽ nhất trong nhóm các thành phần tài chính cá nhân. Ngược lại, Kiến thức tài chính không đóng vai trò quan trọng (không có tác động mang ý nghĩa thống kê trực tiếp) đến quyết định hay ý định khởi nghiệp của sinh viên trong mô hình nghiên cứu.
- Thứ bậc tác động của các nhân tố: Phân tích hồi quy xác định 6 yếu tố tác động đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên, được sắp xếp theo mức độ tác động từ cao xuống thấp như sau:
| Thứ bậc |
Yếu tố ảnh hưởng |
Tính chất tác động |
| 1 |
Thái độ với hành vi khởi nghiệp |
Cùng chiều (Mạnh nhất) |
| 2 |
Hành vi tài chính |
Cùng chiều |
| 3 |
Tiếp cận tài chính |
Cùng chiều |
| 4 |
Thái độ tài chính |
Cùng chiều |
| 5 |
Quy chuẩn chủ quan |
Cùng chiều |
| 6 |
Đặc điểm tính cách |
Cùng chiều (Thấp nhất) |
- Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:
- Đối với nhà trường và Khoa Kế toán – Tài chính: Tái cơ cấu và bổ sung các học phần chuyên sâu, không chỉ dừng lại ở lý thuyết tài chính thuần túy mà cần lồng ghép các bài tập tình huống thực hành quản trị dòng tiền, lập ngân sách cá nhân và dự báo tài chính khởi sự doanh nghiệp; tổ chức các câu lạc bộ, cuộc thi mô phỏng kinh doanh để rèn luyện hành vi tài chính tích cực.
- Đối với sinh viên: Chủ động xây dựng thói quen ghi chép và kiểm soát chi tiêu, duy trì kỷ luật tích lũy vốn tự có, chủ động tìm kiếm các kênh thông tin hỗ trợ nguồn vốn từ ngân hàng, các quỹ tín dụng hoặc gia đình để giảm bớt rào cản tiếp cận tài chính.
- Đóng góp khoa học của đề tài: Luận văn là công trình đầu tiên kiểm chứng thực nghiệm mô hình kết hợp giữa khung năng lực tài chính cá nhân của OECD với thuyết hành vi dự định (TPB) trên đối tượng sinh viên Khoa Kế toán – Tài chính tại khu vực miền Trung (Đại học Huế). Nghiên cứu chỉ ra phát hiện đáng chú ý: kiến thức tài chính lý thuyết không trực tiếp chuyển hóa thành ý định khởi nghiệp, mà chính hành vi tài chính thực tế và thái độ cá nhân mới là động lực thúc đẩy hành vi này.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với quá trình triển khai thực tế:
- Phạm vi địa bàn khảo sát còn mang tính cục bộ: Mẫu nghiên cứu chủ yếu tập trung vào sinh viên Khoa Kế toán – Tài chính và một số khoa của Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế, chưa mở rộng ra các trường đại học đào tạo kinh tế khác trong khu vực miền Trung và cả nước.
- Phương thức thu thập số liệu có sự phân hóa: Khảo sát sinh viên năm thứ 3 được thực hiện trực tiếp tại lớp, trong khi sinh viên năm thứ 4 phải thực hiện trực tuyến qua Google Form do đang trong giai đoạn thực tập tốt nghiệp, điều này có thể dẫn đến sự chênh lệch nhất định về mức độ tập trung và mức độ kiểm soát chất lượng phản hồi giữa hai nhóm đối tượng.
- Giới hạn về biến số nghiên cứu: Đề tài mới chỉ tập trung vào 6 nhóm nhân tố độc lập cơ bản thuộc phạm vi tâm lý, nguồn lực và tài chính cá nhân; chưa xem xét sâu các yếu tố vĩ mô như chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của nhà nước hay môi trường kinh tế - công nghệ số.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Các nghiên cứu tương lai cần mở rộng kích thước mẫu trên nhiều cơ sở đào tạo đại học khác nhau, đa dạng hóa đối tượng sinh viên thuộc nhiều khối ngành, đồng thời bổ sung các biến điều tiết (như vai trò của công nghệ tài chính - Fintech hoặc chính sách hỗ trợ khởi nghiệp) để hoàn thiện mô hình giải thích ý định khởi nghiệp.
Giá trị tham khảo
Khóa luận mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên ngành Tài chính – Ngân hàng, Kế toán, Quản trị kinh doanh: Là tài liệu tham khảo trực tiếp về cấu trúc một nghiên cứu định lượng hoàn chỉnh sử dụng phần mềm SPSS 20 (từ kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích EFA, phân tích tương quan Pearson, hồi quy bội, đến kiểm định Independent Samples T-test và ANOVA).
- Người nghiên cứu về tài chính hành vi và giáo dục khởi nghiệp: Bảng thang đo chi tiết gồm 35 biến quan sát (được chuẩn hóa từ các nguồn Atkinson & Messy, OECD, Nguyễn Thị Hoài Lê, Phan Anh Tú & Trần Quốc Huy) cung cấp bộ công cụ đo lường đáng tin cậy cho các đề tài tương tự.
- Cán bộ quản lý đào tạo và ban chủ nhiệm khoa: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc sinh viên thiếu hụt kỹ năng hành vi tài chính thực tế mặc dù có kiến thức chuyên ngành, hỗ trợ định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy gắn với thực hành quản lý tài chính cá nhân và khởi nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận sử dụng tiêu chuẩn nào để xác định kích thước mẫu khảo sát tối thiểu?
Khóa luận áp dụng nguyên tắc chọn mẫu phân tích nhân tố khám phá (EFA) theo đề xuất của Hair và cộng sự (2006) và Nguyễn Đình Thọ (2014), yêu cầu tỷ lệ lý tưởng là 10 quan sát trên mỗi biến đo lường (10:1). Với bảng hỏi chính thức gồm 35 biến quan sát, quy mô mẫu tối thiểu được xác định là $n = 10 \times 35 = 350$ quan sát.
Vì sao phương pháp thu thập dữ liệu lại có sự khác biệt giữa sinh viên năm 3 và năm 4?
Sinh viên năm thứ 3 đang học tập tập trung tại trường nên tác giả tiến hành phát phiếu khảo sát trực tiếp tại các phòng học trong giờ giải lao. Ngược lại, sinh viên năm thứ 4 đang trong thời gian tham gia thực tập tốt nghiệp tại các doanh nghiệp bên ngoài, do đó tác giả phải sử dụng phương thức khảo sát trực tuyến qua đường dẫn Google Form với sự hỗ trợ kết nối từ các giảng viên hướng dẫn thực tập.
Khía cạnh nào trong hiểu biết tài chính có tác động mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp?
Theo kết quả phân tích hồi quy của khóa luận, trong các thành phần của hiểu biết tài chính cá nhân, nhân tố Hành vi tài chính có ảnh hưởng lớn nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, trong khi Kiến thức tài chính không đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ý định này.
Biến quan sát đo lường Kiến thức tài chính (KT) trong nghiên cứu bao gồm những nội dung gì?
Thang đo Kiến thức tài chính gồm 5 câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra năng lực tính toán và hiểu biết thực tế: tính lãi suất tiền gửi ngân hàng 1 năm (KT1), tính sức mua thực tế dưới tác động của lạm phát 5% (KT2), nhận thức về ảnh hưởng của thu nhập đến lương hưu (KT3), tính lợi tức trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm với lãi suất danh nghĩa 10%/năm (KT4), và tính tỷ suất sinh lời khi đầu tư cổ phiếu ABC bán chênh lệch giá (KT5).
Thứ tự mức độ tác động của tất cả các yếu tố đến ý định khởi nghiệp trong mô hình được sắp xếp như thế nào?
Thứ tự tác động từ cao xuống thấp bao gồm: (1) Thái độ với hành vi khởi nghiệp, (2) Hành vi tài chính, (3) Tiếp cận tài chính, (4) Thái độ tài chính, (5) Quy chuẩn chủ quan, và (6) Đặc điểm tính cách.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Mai đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về hiểu biết tài chính cá nhân và ý định khởi nghiệp dựa trên khung nghiên cứu của OECD và Thuyết Hành vi Dự định (TPB). Thông qua khảo sát định lượng trên nhóm sinh viên Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế bằng các kỹ thuật phân tích thống kê trên SPSS 20, nghiên cứu chứng minh thực nghiệm rằng hành vi tài chính, thái độ khởi nghiệp và khả năng tiếp cận tài chính là những động lực cốt lõi chi phối ý định khởi nghiệp, trong khi kiến thức tài chính lý thuyết chưa tạo ra tác động trực tiếp. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn tin cậy phục vụ việc điều chỉnh chương trình đào tạo và xây dựng các chính sách hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp hiệu quả.