đặt vấn đề với khoảng 18 người, tuy nhiên chỉ có hơn một nửa trong số đó đồng ý gặp mặt và nói chuyện. Những người đồng ý tham gia, đều nằm trong độ tuổi mà nghiên cứu yêu cầu, người lớn tuổi nhất trong nhóm này sinh năm 1987 và trẻ nhất là 1998. Phần lớn trong số họ rất nhiệt tình và sẵn sàng chia sẻ các thông tin cho chúng tôi, một số khác đồng ý chia sẻ thông tin hạn chế và muốn chắc chắn rằng việc công khai kết quả nghiên cứu sẽ không để tên thật của họ. Chính vì thế, chúng tôi đã mã hóa danh tính của người tham gia dựa trên thứ tự tham gia phỏng vấn 7.
Số lượng hình xăm ít nhất là 1, nhiều nhất là 10. Bảng 1: Thông tin ngƣời tham gia phỏng vấn sâu - Phát vấn: bảng hỏi được phát trong nghiên cứu này dựa trên phương pháp “quả bóng tuyết” (snow ball) và sử dụng ứng dụng Google Form để thu thập dữ liệu. Chúng tôi gửi link khảo sát tới nhũng người quen tại các trường đại học và đề nghị họ chuyển link khảo sát tới cho sinh viên của mình. Các dữ liệu thống kê này được phân tích trên phần mềm Excel và R.
Mẫu khảo sát trong nghiên cứu này gồm 423 sinh viên thuộc 11 trường Cao đằng, Đại học ở Huế và Hà Nội. Cụ thể: Các trường tại Hà Nội – Tổng cộng có 177 sinh viên (chiếm tỉ lệ 42%), gồm: Cao đẳng múa Việt Nam (7%), Đại học Công nghệ giao thông vận tải (7%), Đại học Khoa học 7 TT-001 = “Tattoo 001” – người tham gia phỏng vấn về hình xăm đầu tiên 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xã hội và Nhân văn Hà Nội (11%), Đại học Tài nguyên Môi trường (1%), Đại học FPT Hà Nội (7%), Học viên Bưu chính viễn thông (3%) và Học viện Ngoại giao (5%). Các trường của Đại học Huế – Tổng cộng có 246 sinh viên (chiếm tỉ lệ 58%), gồm: Đại học khoa học Huế (14%), Đại học sư phạm Huế (35%), Đại học Luật Huế (7%), Đại học ngoại ngữ Huế (2%). Về nhóm ngành học, nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung chiếm tỉ lệ cao hơn (86%).
Có hai điểm cần làm rõ trong nghiên cứu này. Thứ nhất, tuy tỉ lệ của sinh viên Huế tham gia vào khảo sát lần này lớn hơn so với Hà Nội nhưng trên thực tế đây chỉ là dữ liệu so sánh, không có nhiều ý nghĩa quan trọng. Phần chủ đạo của nghiên cứu được thực hiện trên dữ liệu thuộc về sinh viên Hà Nội, sinh viên tại Huế chỉ được sử dụng khi so sánh và đối chiếu để làm rõ thêm vấn đề. Thứ hai, song song với việc sử dụng bảng hỏi online, vào giai đoạn cuối của cuộc khảo sát chúng tôi còn phải tiến hành phát thêm bảng hỏi giấy tại trường Cao đẳng múa Việt Nam với lý do các học viên ở điểm trường này đề nghị tham gia qua hình thức này thay vì sử dụng email.
Chính vì vậy, chúng tôi đã liên hệ với người liên lạc ở trường này và in một số lượng bảng hỏi nhỏ để phát cho học viên ở đây. Giới tính của sinh viên tại Hà Nội (N = 177, %) 2% LGBT 44% Nam 54% Nữ Biểu đồ 1: Tỉ lệ giới tính của sinh viên tại Hà Nội Cũng ở địa bàn khảo sát Hà Nội. Về giới tính, trong tổng số 177 người tham gia khảo sát có 44% là sinh viên Nam, 54% là sinh viên Nữ và 2% sinh viên có giới tính 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhóm ngành học cũng có sự đa dạng hơn so với ở Huế, theo đó có 65% theo học nhóm ngành khoa học Xã hội & Nhân văn và 35% theo học khối ngành khoa học Tự nhiên & Kĩ thuật.
Tỉ lệ ngành học của sinh viên Hà Nội (N = 177, %) 18% 17% 14% 13% 11% 11% 6% 5% 3% 2% Công trình Diễn viên Công Ngôn ngữ Báo chí và Xã hội học Chính trị Du lịch Quản lý tài Văn học đường bộ múa nghệ Anh truyền học nguyên thông tin thông Biểu đồ 2: Tỉ lệ ngành học của sinh viên Hà Nội 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài 1. Một số khái niệm then chốt 1. Lệch chuẩn Nhìn chung, xã hội vẫn còn cái nhìn khắt khe về hiện tượng xăm mình của giới trẻ. Trong chừng mực nào đấy, việc có một hình xăm trên cơ thể là biểu hiện của một trong các hành vi lệch chuẩn.
Để hiểu được lệch chuẩn, trước hết cần hiểu được khái niệm chuẩn. Chuẩn hay chuẩn mực (norm) là các tiêu chuẩn hành vi được hình thành dựa trên những gì mà một nhóm hay cộng động tán thành trong suy nghĩ và tư cách đạo đức. Trên cơ sở giá trị mà các nhóm hoặc cộng đồng hình thành nên các tiêu chuẩn hành vi (hay còn gọi là chuẩn mực) trong phần lớn các trường hợp 8. Chuẩn mực khác với luật lệ ở sự bất thành văn và mỗi xã hội khác nhau lại có những chuẩn mực khác nhau, việc một vài hiện tượng được coi là bình thường ở xã hội này sẽ bị coi như sự lệch lạc ở xã hội khác.
Theo đó, các hành vi chống lại sự hiện diện như việc bẻ gãy hoặc đi lệch ra khỏi quỹ đạo của cộng động sẽ bị xem là lệch chuẩn (deviance) 9. Như vậy chức năng chính của chuẩn mực là kiểm soát xã hội, kiểm soát hành vi của các cá nhân, buộc họ phải thực hiện đúng với các ràng buộc với xã hội. Lệch chuẩn cũng đồng nghĩa với phạm pháp, người lệch chuẩn không chỉ sự lên án của dư luận xã hội và áp lực để quay về chuẩn cũ mà còn bị hệ thống pháp luật trừng phạt. Chuẩn mực sinh ra là để duy trì sự tồn tại ổn định và phát triển của cộng đồng xã hội.
Thiếu đi chuẩn mực, con người sẽ bị rơi vào tình trạng vô chuẩn (anomie), kéo theo một loạt các hệ lụy xã hội khác. Giới trẻ: Giới trẻ là một khái niệm rộng. Có thể thu hẹp khái niệm này bằng định nghĩa về thanh niên của theo quy định của luật thanh niên tại Việt Nam, theo đó giới trẻ là những 8 Vũ Quang Hà & Nguyễn Thị Hồng Xoan (1995), “Xã hội học đại cương”, trg 122, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 9 Jay Gaber, “Sociology for dummies”, Wiley Publishing, Inc, Indianapolis, Idiana, Canada, 2010, p.192 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thanh niên nằm trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi (Điều 1, Luật Thanh niên) 10. Giới trẻ theo độ tuổi này bao gồm toàn bộ các học sinh cấp III, sinh viên cao đẳng, đại học, kể cả những đã đi làm hoặc những người không đi học nằm trong phổ tuổi.
Khách thể của nghiên cứu được trình bày ở trên là giới trẻ tại Hà Nội, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tại này, cũng là hạn chế của đề tài, chúng tôi lựa chọn sinh viên tại Hà Nội là khách thể nghiên cứu. Bởi đây sinh viên là một bộ phận đặc thù của giới trẻ. Nhóm trẻ này có độ tuổi từ 17 – 22 tùy vào nhóm ngành học và năm bắt đầu học. Vẫn còn có mỗi liên hệ mất thiết với gia đình, bạn bè hơn là các quan hệ đồng nghiệp, việc làm.
Bên cạnh đó là nhóm phỏng vấn sâu với những người tham gia hoàn toàn nằm trong độ tuổi mà pháp luật quy định. Sơ lƣợc lịch sử của xăm mình và hình xăm: Xăm mình là một hoạt động sử dụng các công cụ đặc biệt để tạo nên các hình vẽ và lưu giữ chúng trên da người trong một khoảng thời gian, đôi khi là vĩnh viễn. Từ “tattoo” trong tiếng Anh xuất phát từ từ “taltaw” sau chuyến đi của thuyền trưởng Cook với việc ghi lại trong nhật ký của mình sau chuyển viễn dương xuống các vùng biến phía Nam Tahitian 11 năm 1771. Trong cuốn sách mang tên “The Voyage in H.
Bart Endeavor“, Thuyền trưởng Cook mô tả lại hoạt dộng này như sau: “Người ta sử dụng một vài công cụ nhỏ, dùng dễ thụt hoặc dãm lên da người. Bằng thao tác này, họ có thể đồ lên đấy một lượng mực (ink) nhỏ màu xanh đậm hoặc màu đen vốn đã được pha trộn với dầu dừa hun khói. Sau quá trình được gọi bằng tiểng bàn địa là “tattaw” này, nguời ta sẽ đề lại những đấu vết không thể xóa (indelible mark) trên da. Việc này thường được diễn ra cho các độ tuổi từ 10 -12 và thực hiện trên các phần khác nhau của cơ thể“ 12.
Có một điều thú vị với hình xăm, tuy được du nhập từ một địa danh ngoài Châu Âu, nhưng từ “tattaw” này tồn tại trong ngôn ngữ của hầu hết cảc quốc gia tại châu lục này 10 Luật Thanh niên. Nguồn: http://vanban.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_ page=1&mode=detail&document_id=30037 11 Tahiti là đảo lớn nhất của Polynesis thuộc Pháp, nằm ở nam Thái Bình Dương. Đây là trung tâm kinh tế văn hóa và chính trị của Polynesis. Nguồn: https://en.org/wiki/Tahiti 12 Richard S.
Post (1969), “The relationship of tattoos to personality disorders". Journal of Criminalo law and Cn'minology, Volume 59, Issue 4.517 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như “tatowirung” trong tiếng Đức, “tatouage” ttong tiếng Pháp và “tatuaggio” trong tiếng Itali; bản thân từ “tatau” trong tiếng Tahiti có nghĩa là “đánh dấu” 13. Tác phẩm của xăm mình chính là hình xăm. Đấy là các hình ảnh được vẽ lên cơ thể bằng các dụng cụ và kỹ thuật đặc biệt, thường mang những ý nghĩa tượng trưng nhất định nào đó.
Hình xăm trước đây là một dấu tích văn hóa cổ xưa dùng để phân biệt người của nền văn hóa này với người của nền văn hóa khác. Việc xăm mình được thực hiện theo quy định cho các giai tầng trong bộ lạc và đôi tuổi của thành viên. Tuy hình xăm ngày nay được sử dụng với nhiều mục đích hơn như thể hiện cá tính, ở một số nơi còn được sử dụng để trang điểm hay che dấu đi những khiếm khuyết của cơ thể. Nhưng trước đó hàng ngàn năm xăm mình đã tồn tại như một môn nghệ thuật có lịch sử lâu đời ở nhiều nơi trên thế giới.
Trong suốt chiều dài lịch sử, con người sử dụng hình xăm để làm dấu hiệu nhận biết địa vị xã hội, thực hiện các nghi thức tôn giáo và khẳng định quyền tự do của giới trẻ. Hình xăm hiện đại có thể chỉ là các hình xăm nhỏ (mini tattoo), có tác dụng trang trí và được xăm bằng công cụ có tên là súng xăm (ảnh 1). Nhưng cũng có những hình xăm lớn (huge tattoo) được xăm theo phương thức truyền thống như xăm dùi và mang trong mình những ý nghĩa lịch sử văn hóa nhất định.