CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 1. Đặc điểm và tình hình kinh tế xã hội tỉnh Trà Vinh. Điều kiện tự nhiên. Vị trí địa lý: Tỉnh Trà Vinh nằm ở phía Đông Nam của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa 2 con sông lớn là sông Cổ Chiên và sông Hậu, tọa độ địa lý từ 9°31’5’’ đến 10°04’5” vĩ độ Bắc và 105°57’16” đến 106°36’04” kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp với tỉnh Vĩnh Long, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Bến Tre bởi sông Cổ Chiên, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng bởi Sông Hậu, phía Đông giáp biển Đông với hơn 65 km bờ biển. Đến cuối năm 2010, tỉnh Trà Vinh có 08 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc, gồm: thành phố Trà Vinh, 07 huyện: Càng Long, Châu Thành, Cầu Kè, Tiểu Cần, Cầu Ngang, Trà Cú và Duyên Hải; có 105 đơn vị hành chính cấp xã gồm: 85 xã, 09 phường và 11 thị trấn. Diện tích tự nhiên 234.115,53 ha, dân số 1.743 người, chiếm 5,76% diện tích và 5,79% dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc điểm địa hình: Địa hình Trà Vinh mang tính chất vùng đồng bằng ven biển, chịu ảnh hưởng bởi sự giao thoa giữa sông và biển đã hình thành các vùng trũng, phẳng xen lẫn các giồng cát, các huyện phía bắc có địa hình bằng phẳng hơn các huyện ven biển.
Địa hình dọc theo 2 bờ sông thường cao, vào sâu nội đồng bị các giồng cát hình cánh cung chia cắt tạo nên các vùng trũng cục bộ, xu thế độ dốc chỉ thể hiện ở trên từng cánh đồng. Cao trình biến thiên của tỉnh từ 0,1 m – 1,0 m chiếm 66% diện tích tự nhiên. Địa hình cao nhất trên 4,0 m gồm đỉnh các giồng cát phân bố ở xã Nhị Trường, xã Long Sơn (huyện Cầu Ngang); xã Ngọc Biên (huyện Trà Cú) và xã Long Hữu (huyện Duyên Hải). Luận văn Thạc sỹ 5 Khóa học 2009-2012 SVTH: Lâm Quang Lộc GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Minh Nghĩa Địa hình thấp nhất dưới 0,4 m tập trung tại các cánh đồng trũng ở xã Tập Sơn, xã Ngãi Xuyên (huyện Trà Cú), xã Thanh Mỹ, cánh đồng Ôcàđa (huyện Châu Thành); xã Mỹ Hoà, xã Mỹ Long, xã Hiệp Mỹ (huyện Cầu Ngang) và xã Long Vĩnh (huyện Duyên Hải).
Nhìn chung địa hình với các cao độ khác nhau nên việc đầu tư cải tạo đồng ruộng, xây dựng các công trình thủy lợi khá tốn kém. Khí hậu: Trà Vinh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa ven biển, khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm từ 26°C - 27,6°C cao nhất vào tháng 4 và thấp nhất vào tháng 1, số giờ nắng trong năm từ 2. Lượng mưa hàng năm vào khoảng 1.526,16 mm, cao nhất 1.862,9 mm, thấp nhất 1.209 mm, phân bố không đều theo không gian và thời gian, có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Độ ẩm tương đối trung bình năm từ 83% - 85%, tháng khô nhất là tháng 2 và tháng 3. Lượng bốc hơi nước bình quân nhiều năm của các tháng biến thiên từ 48 mm vào tháng 7 đến 111 mm vào tháng 3. Lượng bốc hơi cao nhất vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, thời gian này lượng mưa thấp không đáng kể. Gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 10 mang nhiều hơi nước và gây ra mưa, tốc độ 3 – 4 m/s.
Gió chướng (gió mùa Đông Bắc hoặc Đông Nam) từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, tốc độ 2,3 m/s có hướng song song với các cửa sông lớn, là nguyên nhân gây ra việc đẩy nước biển dâng cao và truyền sâu vào nội đồng. Sương muối xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau làm ảnh hưởng đến tình hình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Nhìn chung, khí hậu tỉnh Trà Vinh mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt độ cao, ổn định, nắng và bức xạ mặt trời thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, yếu tố hạn chế của khí hậu là lượng mưa ít, lại tập Luận văn Thạc sỹ 6 Khóa học 2009-2012 SVTH: Lâm Quang Lộc GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Minh Nghĩa trung theo mùa kết hợp với địa hình thấp, chịu ảnh hưởng của gió chướng, thuỷ triều cao gây ngập úng và hạn hán cục bộ, ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của dân.
Địa chất Đặc điểm địa chất của tỉnh là tính ưu thế của các lớp trầm tích sông biển hỗn hợp hướng châu thổ, đặc biệt phát triển các trầm tích hạt sét, hạt cát đại diện là các lớp bùn sét, sét, sét pha, cát hạt nhỏ, trong đó: - Lớp trên là lớp sét trạng thái dẻo cứng, lớp này có khả năng chịu lực và sức chịu tải cho phép trung bình, với chiều dày mỏng và phạm vi phân bố tương đối rộng. - Tiếp theo là các lớp bùn sét pha và bùn sét, lớp này có khả năng chịu lực và sức chịu tải cho phép rất thấp, bề dày lớp rất lớn phân bố rộng khắp. - Kế tiếp là lớp sét trạng thái chảy, lớp này có khả năng chịu lực và sức chịu tải cho phép thấp, với chiều dày mỏng và phạm vi phân bố rộng. - Lớp sét trạng thái dẻo mềm, lớp này có khả năng chịu lực và sức chịu tải cho phép thấp, với chiều dày rất lớn và phạm vi phân bố rộng.
- Lớp sét pha trạng thái cứng, lớp này có khả năng chịu lực và sức chịu tải cho phép cao nhưng chiều dày mỏng và phạm vi phân bố hẹp, chỉ xuất hiện dưới dạng thấu kính. - Tiếp theo là lớp cát hạt nhỏ kết cấu chặt vừa, lớp này có khả năng chịu lực tương đối tốt, sức chịu tải cho phép khá cao với chiều dày lớn và vi phạm phân bố rộng. - Lớp sét pha trạng thái cứng, lớp này có khả năng chịu lực và sức chịu tải cho phép cao nhưng chiều dày mỏng và phạm vi phân bố hẹp. - Lớp cát hạt nhỏ kết cấu chặt, lớp này có khả năng chịu lực tương đối tốt, sức chịu tải cho phép khá cao, nhưng chiều dày không đồng điều và phạm vi phân bố rộng.
Luận văn Thạc sỹ 7 Khóa học 2009-2012 SVTH: Lâm Quang Lộc GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Minh Nghĩa - Lớp cát hạt nhỏ kết cấu rất chặt, lớp này có khả năng chịu lực tốt, sức chịu tải cho phép cao, với chiều dày khá lớn và phạm vi phân bố rộng. - Lớp sét pha trạng thái nửa cứng, lớp này có khả năng chịu lực và sức chịu tải cho phép khá cao, với chiều dày lớn nhưng chưa đánh giá được hết vi phạm phân bố. - Lớp cát sạn vừa kết cầu chặt, lớp này có khả năng chịu lực tương đối tốt, sức chịu tải cho phép khá cao, với chiều dày trung bình và phạm vi phân bố hẹp. - Lớp sét trạng thái cứng, lớp này có khả năng chịu lực và sức chịu tải cho phép kha cao, nhưng chưa đánh giá được hết chiều dày cũng như phạm vi phân bố.
Nhìn chung địa tầng khu vực có cấu trúc tương đối phức tạp, các lớp đất có chiều dày không đều và phân bố không liên tục nằm xen kẽ nhau. Do đó tùy theo cấp tải trọng của công trình mà có thể chọn các lớp cát hạt nhỏ kết cấu chặt đến rất chặt làm lớp chịu lực chính cho công trình. Các lớp bùn sét pha, bùn sét, sét chảy có bề dày rất lớn và phân bố rộng khắp khu vực nghiên cứu, dễ gây các hiện tượng trượt lở, sụt lún và gây biến dạng cho công trình. Vì vậy khi thiết kế nền đường cần có những giải pháp xử lý thích hợp để bảo đảm ổn định cho công trình.
Mực nước ngầm khu vực khảo sát phân bố khá nông và chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuỷ triều do đó cần có biện pháp thoát nước tốt trong lúc thi công công trình đặc biệt là vào mùa mưa. Thủy văn - Chế độ thủy văn: Chế độ thủy văn trên mạng sông khá phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi chế độ bán nhật triều không đều từ biển Đông, bởi sự biến đổi dòng chảy sông theo mùa và bởi lượng mưa tại chỗ. Sông Măng Thít, sông Hậu và sông Cổ Luận văn Thạc sỹ 8 Khóa học 2009-2012 SVTH: Lâm Quang Lộc GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Minh Nghĩa Chiên là nguồn cung cấp nước ngọt chính cho Tỉnh, phần còn lại là do mưa tại chỗ. Phần lớn các kênh rạch trong tỉnh lấy nước từ các sông chính.
Các kênh tưới cấp I cùng với các kênh cấp II và kênh nội đồng tạo nên một mạng lưới kênh rạch chằng chịt. Các kênh chính bắt nguồn từ sông Cổ Chiên, sông Hậu và sông Măng Thít, trong đó một số kênh chính có cửa đổ ra biển. Mực nước từ sông Cổ Chiên và sông Hậu đoạn từ Mỹ Thuận và Cần Thơ ra đến biển bị ảnh hưởng mạnh của chế độ bán nhật triều không đều ở biển Đông và lượng nước ở thượng nguồn chảy về. Chế độ thủy văn tại các sông kênh trong vùng quy hoạch sẽ thay đổi nhiều khi các cống thuộc dự án Nam Măng Thít đi vào hoạt động - Xâm mặn: Trong mùa khô, mặn xuất hiện hầu hết trên các sông kênh của Tỉnh.
Độ mặn phụ thuộc vào biên độ triều và khoảng cách tới cửa biển. Thời kỳ nước kém (dòng chảy kiệt) kéo dài từ tháng 3 đến qua tháng 5. Trong mùa khô, mặn xuất hiện trên các sông chính và đầu kênh ở phía biển. Hơn một nửa chiều dài sông kênh Trà Vinh nhiễm mặn trên 4ppt suốt mùa khô.
Huyện Duyên Hải và một phần huyện Càng Long chịu mặn từ tháng 11 đến tháng 6. Sự xâm nhập mặn đến từ nước biển theo chuyển vận của dòng triều. Trong các sông chính và các kênh rạch độ mặn giảm dần theo khoảng cách đối với biển và phụ thuộc vào các yếu tố biên độ triều, lượng nước ngọt chảy trong các sông và lượng nước tiêu ra từ hệ thống các kênh chính. Biên độ triều thay đổi đáng kể theo từng thời kỳ.
Triều cường trong hai tháng, tương ứng với giai đoạn mặn xâm nhập sâu hơn trên các sông chính. Thời kỳ dòng chảy sông nhỏ nhất, xâm nhập mặn về phía hạ lưu đạt trị số lớn nhất vào giữa tháng 3 đến tháng 5. Trong tháng 4 đường đẳng mặn 4 ppt có Luận văn Thạc sỹ 9 Khóa học 2009-2012 SVTH: Lâm Quang Lộc GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Minh Nghĩa thể vào sâu 35 km trên sông Cổ Chiên và 33 km trên sông Hậu (chiếm hầu hết chiều dài đường bờ thuộc Tỉnh).