Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Một số khái niệm về thông tin Thông tin (infornation) là những ý tưởng, những kiến thức, những sự kiện con người có thể hiểu biết về nó nhờ có sự trao đổi với nhau hoặc do con người nhận biết bằng các giác quan.
Thông tin là điều kiện tất yếu tạo thành tri thức của con người [10]. Thông tin là phương tiện con người dùng để giao tiếp và phát triển cộng đồng. Thông tin thúc đẩy sự phát triển xã hội, xã hội ngày càng phát triển nhu cầu thông tin càng cao. Việc tận dụng các nguồn thông tin sẳn có để áp dụng vào sản xuất, vào đời sống giúp con người rút ngắn thời gian tìm hiểu, nghiên cứu và thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh hơn [10].
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam đòi hỏi tăng cường thông tin chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới đến nông dân để nông dân áp dụng vào sản xuất nâng cao dân trí và đời sống. Thông tin kiến thức nông nghiệp Thông tin nông nghiệp là những thông tin liên quan đến vấn đề nông nghiệp nông thôn. Đó là những thông tin về thị trường, thông tin về chính sách nông nghiệp của nhà nước, thông tin thời tiết, thông tin tiến bộ khoa học kỷ thuật mới [10]. - Thông tin về thị trường: Ví dụ để nâng cao hiệu quả kinh tế trồng lúa bà con nông dân cần nắm bắt thông tin thị trường, hiểu rõ qui luật cung (lượng lúa gạo của người sản xuất) cầu (nhu cầu về lúa gạo) trên thị trường trong và ngoài nước để hiểu thêm và biến động giá cả lúa gạo.
- Thông tin thời tiết: Thời tiết rất quan trọng đối với người làm nông nghiệp. Nông dân cần biết năm nay dự báo mưa gió, bảo, lũ như thế nào để bố trí lịch thời vụ cho hợp lý. Thông tin thời tiết chính xác thì bố trí thời vụ làm lúa, xuống giống, né rầy thuận lợi, đúng vào tiết trời, lúa ít sâu bệnh năng suất lại cao hơn. - Thông tin chính sách nhà nước đối với nông nghiệp: Nông dân thường nghe thông tin chung chung trên báo, đài về vấn đề vay vốn kích cầu, hỗ trợ tiền vay 4%, hỗ trợ 30% tiền mua máy nông nghiệp, hỗ trợ đất trồng lúa nước theo nghị định 42/CP, chính sách miễn giảm thủy lợi phí, hỗ trợ tiền mua lúa giống, hỗ trợ tiền mua con giống như bò, heo, tôm, cá.
Vả lại, vì thiếu thông tin nông dân làm hồ sơ, thủ tục xin vay nên nông dân thường đi không lại về không, gây “bất mãn” trong dân. Do đó, nếu có chính sách nhà nước hỗ trợ nông nghiệp thì nên phổ biến cho rõ ràng đầy đủ thông tin trên báo chí hay đài cũng phải chi tiết cụ thể thì nông dân mới nắm bắt được [18]. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 - Thông tin những tiến bộ khoa học kỹ thuật: Nông dân cần biết những KTKT mới trong nông nghiệp - chẳng hạn như có giống lúa nào kháng được bệnh đạo ôn không? Phân bón Đầu Trâu, phân bón Năm Sao, phân bón Sao Việt lợi và hại như thế nào so sánh khi dùng phân đơn: DAP, Kali…Còn nhiều vấn đề khác, kỹ thuật tiến bộ, cây, con mới nông dân cần biết để đa dạng hóa sản xuất. Các phương pháp canh tác lúa cải tiến như SRI giúp giảm chi phí đầu vào nhưng năng suất chất lượng sản phẩm vẫn đảm bảo, tiết kiệm lượng giống gieo xuống 2-3kg/sào.
Ví dụ: Chuyển đổi nuôi trồng những sản phẩm đáp ứng thị trường cao cấp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi hiệu quả, phải chú ý xem xét chi phí và doanh thu - sản phẩm phải là sản phẩm thị trường tiêu thụ tốt [18]. Kiến thức sản xuất nông nghiệp: Chưa có khái niệm thống nhất về kiến thức nông nghiệp. Tuy nhiên, có thể định nghĩa rằng: Kiến thức nông nghiệp (agricultural knowledge) của nông dân có thể xem như là tổng thể các kiến thức về kỹ thuật, kinh tế và cộng đồng mà người nông dân có được và ứng dụng vào hoạt động sản xuất của mình (Đinh Phi Hổ, 2003). Theo Đinh Phi Hổ (2003), kiến thức nông nghiệp bao gồm hai thành tố: kiến thức chung về nông nghiệp và kiến thức kỹ thuật nông nghiệp.
Kiến thức chung về nông nghiệp: Kiến thức chung về nông nghiệp có thể được xem xét bởi mức độ tham gia của nông dân vào các hoạt động cộng đồng nông thôn. Nông dân tham gia vào các hoạt động khuyến nông và xã hội ở nông thôn có nhiều cơ hội tiếp cận các kiến thức nông nghiệp hiện đại, học hỏi các kỹ thuật mới về nông trại và như vậy sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất của họ. Kiến thức chung về nông nghiệp của một nông dân như sau: tiếp xúc thường xuyên với cán bộ khuyến nông, nông dân được chọn làm thí điểm các kỹ thuật mới hoặc là điểm trình diễn cho khu vực, nông dân thường xuyên đọc sách báo nông nghiệp, nông dân là thành viên của câu lạc bộ nông dân, tổ nông dân liên kết sản xuất, nông dân thường xuyên theo dõi các chương trình truyền bá kỹ thuật nông nghiệp trên tivi và đài phát thanh, nông dân thường tham gia hội thảo về khuyến nông và hội thảo đầu bờ. Kiến thức kỹ thuật nông nghiệp: Kiến thức kỹ thuật nông nghiệp của nông dân là một bộ phận quan trọng và quyết định đến trình độ kiến thức nông nghiệp của nông dân.
Trình độ kiến thức kỹ thuật của nông dân có thể đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như sau: chọn giống, kỹ thuật gieo sạ, kỹ thuật bón phân, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh. Như vậy các yếu tố kiến thức kỹ thuật nông nghiệp này chủ yếu được dùng để đánh giá kiến thức trong lĩnh vực trồng trọt và việc trồng lúa nước của người dân. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 1. Quy mô sản xuất Trong nghiên cứu này, quy mô sản xuất được hiểu là tổng diện tích đất nông nghiệp mà nông hộ canh tác (gồm cả đất chủ sở hữu và đất thuê, mượn, cầm cố.
Đất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hằng năm, đất trồng cây lâu năm, đồng cỏ dùng cho chăn nuôi, diện tích mặt nước dùng sản xuất nông nghiệp. - Đất trồng cây hằng năm: là loại đất dùng trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng thường không quá một năm. - Đất trồng cây lâu năm: là loại đất dùng trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng thường dài hơn một năm. - Đồng cỏ: bao gồm đồng cỏ nhân tạo và tự nhiên (thực tế được sử dụng cho chăn nuôi).
- Diện tích mặt nước: chỉ tính đến diện tích mặt nước sử dụng trực tiếp để nuôi trồng thủy sản. Trong hoạt động trồng lúa của nông dân thì khi nông dân xác định một quy mô sản xuất hợp lý sẽ có nhiều lợi thế trong cạnh tranh. Quy mô diện tích ở đây cũng xem xét 2 yếu tố là đất trồng lúa 2 vụ và đất trồng lúa 1 vụ. Đồng thời, việc gia tăng quy mô trồng lúa sẽ không hiệu quả nếu như năng lực quản lý của nông dân bị hạn chế cũng như nông dân mất khả năng kiểm soát dịch bệnh trên đồng ruộng.
Thu nhập của nông hộ Thu nhập của nông hộ được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có. Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện. Thu nhập nông nghiệp: bao gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp như trồng trọt (lúa, màu, cây ăn trái.); chăn nuôi (gia súc, gia cầm.) và nuôi trồng thủy sản. Thu nhập trong hoạt động trồng lúa của người dân là phần lợi nhuận của nông hộ khi bán đi sản lượng lúa thu hoạch sau khi trừ đi tất cả các chi phí sản xuất kể cả công lao động của nông hộ.
Thu nhập phi nông nghiệp: là thu nhập tạo ra từ các hoạt động ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí.Ngoài ra, thu nhập phi nông nghiệp được tạo ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán, thu gom. Thu nhập khác: đó là các nguồn thu nhập từ các hoạt động làm thuê, làm công ăn lương, từ các nguồn trợ cấp xã hội và sản xuất. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 1. Hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp Trong thời gian gần đây, những nghiên cứu có sự tham gia của người dân rất được các tổ chức nghiên cứu quan tâm.
Bởi lẽ, rất nhiều kiến thức nông nghiệp được phát triển từ những thí nghiệm đơn giản mà người nông dân thực hiện, ví dụ khi trồng một cây trồng mới tại địa phương, hoặc khi họ thay đổi lịch phân bón, qua quá trình theo dõi thực tế, người dân tự đúc kết ra những kinh nghiệm và kinh nghiệm đó sẽ được tích luỹ qua nhiều thế hệ và trở thành kiến thức riêng của vùng. Đồng thời, người nông dân cũng đã cố gắng điều chỉnh những khuyến cáo của khuyến nông phù hợp với tình hình nông hộ của họ. Các nhà nghiên cứu và khuyến nông có thể hợp tác với nhau bằng việc giúp cho người nông dân làm tốt các thí nghiệm này và bằng việc giúp họ rút ra những kết luận chính xác từ những kết quả thu được. Sự hợp tác này sẽ làm tăng chất lượng của các thông tin và làm giảm đi xác suất nông dân làm theo một khuyến cáo nào đó.
Họ cũng có thể học được ngay từ những thí nghiệm của mình rằng một quan điểm hay một kỹ thuật nào đó không có tác dụng vì họ đã mắc sai lầm trong khi thí nghiệm. Những thí nghiệm do nông dân làm thường nảy sinh các thông tin về sự cần thiết của lao động và tiền vốn của các mùa vụ khác nhau cho các kỹ thuật mới và khả năng đáp ứng nhu cầu về nguồn lực này. Những thông tin như vậy là cực kỳ quan trọng cho việc phát triển các kỹ thuật thích hợp với điều kiện của từng vùng, từng hộ. Những kiến thức có giá trị mà nông dân có được, hay còn gọi là những kiến thức bản địa, thường bị các nhà nghiên cứu lãng quên, mặc dù những thông tin đó có thể khá quan trọng cho những khuyến cáo của một vùng nào đó và cũng rất quan trọng cho việc phát triển một hệ thống nông nghiệp bền vững.