phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những lý luận cơ bản về hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp. 2 Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống thông tin kế toán tại Công ty TNHH Duyệt Cường. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán tại Công ty TNHH Duyệt Cường. Phƣơng pháp nghiên cứu 5.
Phương pháp thu thập dữ liệu Các số liệu và thông tin được thu thập tại Công ty THHH Duyệt Cường như; Chứng từ, các loại sổ sách; báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, bảng cân đối kế toán,. Bên cạnh đó tác giả còn thu thập dữ liệu từ các văn bản pháp luật của Nhà nước về hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp cũng như các giáo trình, tài liệu sách, báo, tạp chí, các công trình khoa học, các Website chuyên ngành có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn. Phương pháp phân tích xử lý số liệu - Phương pháp thống kê: Tổng hợp các báo cáo từ Công ty TNHH Duyệt Cường, thống kê lại các dữ liệu cần nghiên cứu theo các chỉ tiêu cần phân tích. Xử lý và tính toán số liệu theo phần mềm EXCEL trên máy tính.
- Sử dụng phương pháp so sánh nhằm đánh giá sự phát triển của Công ty TNHH Duyệt Cường trong giai đoạn nghiên cứu năm 2019-2021 thông qua các chỉ tiêu tài chính,. - Phương pháp phân tích và tổng hợp: Thực hiện phân tích và tổng hợp để có được các nhận xét, đánh giá nội dung nghiên cứu từ các thông tin, số liệu,… thu thập được. Dự kiến kết quả đạt đƣợc - Về lý luận: Luận văn hệ thống hóa và làm rõ hơn các nội dung lý luận cơ bản về hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp. - Về thực tiễn: Khái quát được thực trạng hệ thống thông tin kế toán tại Công ty TNHH Duyệt Cường.
Đề xuất những giải pháp mang tính khả thi để hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán tại Công ty TNHH Duyệt Cường. NHỮNG L LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG TH NG TIN KẾ TO N TRONG DOANH NGHIỆP 1.Khái quát về hệ thống th ng tin kế toán trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về hệ thống thông tin kế toán Hệ thống là tập hợp các phần tử cùng với mối quan hệ hữu cơ giữa các phần tử để tạo thành một chỉnh thể thống nhất nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó [1; tr. Tất cả các hệ thống đều gồm các đặc điểm sau i các thành phần hữu hình; ii phương thức hay thủ tục xử lý và iii mục tiêu hoạt động.
Thông tin là sự nhận thức của con người về thế giới xung quanh trong bộ não con người để mang lại cho con người sự hiểu biết, đồng thời làm giảm tính không hiểu biết về một vấn đề, một đối tượng nào đó [2]. Như vậy, thông tin thuộc phạm trù ý thức mà bản thân nó không tự tồn tại; thông tin chỉ tồn tại trên các giá đỡ vật chất gọi là vật mang tin, ví dụ bộ não con người,bộ nhớ của máy tính điện tử, sổ sách, chứng từ kế toán, bảng biểu, đồ thị…về nguyên tắc, bất kỳ cấu trúc vật chất nào cũng có thể mang thông tin, do đó trong mỗi trường hợp cụ thể, con người có thể lựa chọn vật mang tin phù hợp. Theo tác giả Vũ Bá nh và Đào Văn Thành 2002 , cho rằng, HTTT là tập hợp các nguồn lực, công cụ được tổ chức thành một thể thống nhất để thực hiện quá trình xử lý thông tin. Quá trình xử lý thông tin bao gồm 4 khâu: thu nhận thông tin, lưu trữ thông tin, xử lý thông tin và truyền tin.
Các thông tin kế toán mà hệ thống thu nhận được gọi là dữ liệu hay gọi là thông tin ban đầu. Các thông tin ban đầu hay dữ liệu này cần được lưu trữ và xử lý để có những thông tin đảm bảo chất lượng, phù hợp nhằm cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin đó phục vụ cho mục tiêu của họ [1; tr. Tóm lại, hệ thống thông tin là một phương tiện được sử dụng trong tổ chức để thu thập, xử lý và quản lý dữ liệu, thông tin phục vụ cho yêu cầu của người quản lý nói riêng và đối với tổ chức nói chung. Kế toán là quá trình xác định, thu thập và lưu trữ dữ liệu cũng như phát 4 triển, đo lường và giao tiếp thông tin.
Theo định nghĩa, kế toán là một HTTT, vì HTTTKT thu thập, ghi chép, lưu trữ và xử lý dữ liệu kế toán và các dữ liệu khác để tạo ra thông tin cho những người ra quyết định. HTTTKT xử lý các dữ liệu đầu vào thành các sản phẩm thông tin đầu ra và sử dụng các qui trình kiểm soát nội bộ để hạn chế ảnh hưởng của môi trường tới tổ chức. Đầu vào của hệ thống kế toán là các sự kiện kinh tế các nghiệp vụ kinh tế , bao gồm các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ, các hoạt động phát sinh chi phí và tạo lợi nhuận cho tổ chức. Các quá trình trong hệ thống kế toán thu nhận các thông tin kế toán qua việc ghi chép lại các nghiệp vụ kinh tế vào các sổ kế toán và tổng hợp theo các chỉ tiêu cụ thể để phản ánh vào các BCKT.
Đầu ra của hệ thống kế toán là các tài liệu và báo cáo kế toán. Từ các phân tích trên, có thể khái quát: “HTTTKT được hiểu là một tập hợp các thành phần có mối quan hệ tương tác với nhau để thực hiện các nhiệm vụ thu thập, ghi chép, xử lý và báo cáo thông tin theo nhu cầu của người sử dụng”. Đối tượng sử dụng TTKT cũng rất đa dạng, bao gồm: Thứ nhất là các đối tượng ở bên trong doanh nghiệp là các nhà quản trị các cấp gồm nhà quản trị cấp cơ sở đưa ra các quyết định tác nghiệp, các nhà quản trị cấp trung gian đưa ra các quyết định chiến thuật, các nhà quản trị cấp cao đưa ra các quyết định chiến lược. Thứ hai là các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp như là chủ sở hữu (các cổ đông, người góp vốn liên doanh,… , ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng, các nhà cung cấp, các cơ quan Nhà nước,… Có thể hiểu thực chất của HTTTKT là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được được HTTTKT ghi nhận, phân tích, luân chuyển và lưu trữ.
Khi người sử dụng thông tin có yêu cầu, HTTTKT sẽ từ các ghi chép đã lưu trữ mà phân tích, tổng hợp và lập các báo cáo thích hợp cung cấp cho người sử dụng thông tin. Bản chất của hệ thống thông tin kế toán Từ hoạt động, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hàng ngày có các nghiệp kinh tế phát sinh. Các nghiệp vụ này được hệ thống thông tin phân tích, ghi chép và lưu trữ các ghi chép này (chứng từ, sổ, thẻ, bảng…. Khi người sử dụng có yêu cầu, hệ thống thông tin các kế toán sẽ từ các ghi chép đã lưu trữ mà phân tích, tổng hợp và lập các báo cáo thích hợp cung cấp cho người sử dụng thông tin [14].
HTTTKT ra đời và phát triển đều xuất phát từ sự lớn mạnh về quy mô, sự phức tạp trong hoạt động và áp lực cạnh tranh. Mỗi quá trình phát triển thể hiện sự đáp ứng của HTTTKT đối với yêu cầu quản trị trong môi trường mới. Tuy nhiên, về bản chất, HTTTKT chính là tính liên kết giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống để tạo ra thông tin đáp ứng yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp. Các yếu tố cấu thành bao gồm: Nhân lực, dữ liệu, quy trình thực hiện, CNTT và kiểm soát hệ thống.
Mối quan hệ này được thể hiện qua bên ngoài chính là quá trình thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu và cung cấp các thông tin cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả của việc liên kết các yếu tố trên chính là các thông tin được tạo ra phục vụ cho việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định của nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp. Hoạch định là việc thiết lập và nhận diện các vấn đề liên quan đến mục tiêu, lựa chọn phương án hành động và quyết định phân bổ các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã định. Kiểm soát là quá trình đánh giá về các mặt kết quả và hiệu quả cũng như trách nhiệm quản lý trong và sau quá trình thực hiện các mục tiêu.
Ra quyết định là việc đưa ra các vấn đề cần thực thi nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì vậy, thông tin do HTTTKT cung cấp rất đa dạng bao gồm thông tin quá khứ, thông tin dự báo, thông tin tác nghiệp, thông tin chiến lược, thông tin tài chính, thông tin phi tài chính [17]. Kế toán các phần hành theo dõi và cung cấp thông tin về số dư đầu kỳ, số phát sinh tăng, phát sinh giảm trong kỳ và số dư cuối kỳ của từng đối 6 tượng kế toán. Mỗi phần hành kế toán có thể do một nhân viên kế toán phụ trách một cách độc lập.
Nhân viên phụ trách phần hành kế toán nào thì chịu trách nhiệm thu thập, kiểm tra các chứng từ liên quan và thực hiện việc phân loại, ghi sổ kế toán theo từng đối tượng kế toán thuộc phần hành. Cách tiếp cận này hướng đến đối tượng kế toán, là cách tiếp cận phổ biến nhất, và còn được xem là cách tiếp cận theo phần hành kế toán. Mục tiêu của hệ thống thông tin kế toán HTTTKT trong các doanh nghiệp cần đạt được các mục tiêu sau: ột là, ph i đáp ng được việc ghi nhận, xử lý và cung c p thông tin ph hợp cho t ng đối tượng sử dụng thông tin Mục tiêu quan trọng của việc thiết lập HTTTKT trong doanh nghiệp là đáp ứng được việc thu nhận đầy đủ và trung thực các dữ liệu đầu vào, qua đó xử lý các dữ liệu bằng những phương pháp nhất định, đồng thời nắm bắt nhu cầu sử dụng thông tin của từng đối tượng để cung cấp các thông tin hữu ích và phù hợp. Các dữ liệu đầu vào được ghi nhận trên các chứng từ kế toán hợp pháp, là cơ sở pháp lý để phản ánh trên hệ thống tài khoản, sổ kế toán và cuối cùng được tổng hợp thành các chỉ tiêu phù hợp trình bày trên các báo cáo kế toán nhằm cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin.