Tổng quan về luận án

Công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ với đề tài "Hệ thống thẩm mĩ trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ" do nghiên cứu sinh Nguyễn Như Trang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Hữu Sơn (chuyên ngành Văn học Việt Nam, Mã số: 9220121, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2023) là một nghiên cứu tiên phong trong việc tái định hình và kiến tạo khung phân tích mĩ học toàn diện cho di sản trước tác của Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858).

Trong bối cảnh văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức cá nhân và sự giải phóng khỏi các quy phạm đạo đức phong kiến nghiêm ngặt, việc khảo sát tác gia Nguyễn Công Trứ từ trước đến nay chủ yếu dừng lại ở các bình diện lịch sử, xã hội, luân lý Nho giáo hoặc thể loại ca trù đơn lẻ. Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được luận án xác định rõ: giới nghiên cứu học thuật trong suốt gần ba thế kỷ qua chưa từng xây dựng một mô hình mĩ học hoàn chỉnh nhằm giải mã quy luật vận hành của hệ thống thẩm mĩ (aesthetic system) – bao gồm sự tương tác biện chứng giữa chủ thể thẩm mĩ, khách thể thẩm mĩ và cơ chế dung hòa giữa hai xung lực văn hóa đối lập: "hướng tâm hành đạo" và "ly tâm hành lạc".

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết trung tâm được thiết lập đa tầng:

  1. RQ1: Hệ thống thẩm mĩ trong sáng tác Nguyễn Công Trứ được cấu thành từ những thành tố mĩ học nào và vận hành theo quy luật nội tại nào? (Giả thuyết $H_1$: Hệ thống này là một chỉnh thể cấu trúc mở, nơi cái đẹp không thuần túy là sự sao chép khuôn mẫu tiền định của Nho giáo mà là sự tương tác sinh động giữa năng lực tự ý thức của chủ thể và thế giới hiện thực).
  2. RQ2: Chủ thể thẩm mĩ và khách thể thẩm mĩ trong văn chương Nguyễn Công Trứ phản ánh bước chuyển đổi mô hình nhân cách và quan niệm vũ trụ như thế nào? (Giả thuyết $H_2$: Chủ thể thẩm mĩ mang bản lĩnh "thị tài", tự tin sánh ngang vũ trụ; khách thể thẩm mĩ chuyển hóa từ biểu tượng ước lệ sang không gian hiện thực thế tục).
  3. RQ3: Bằng cơ chế thẩm mĩ nào tác giả có thể dung hòa hài hòa giữa bổn phận "kinh bang tế thế" và khát vọng "hưởng nhàn, hành lạc"? (Giả thuyết $H_3$: Sự hài hòa thẩm mĩ được thiết lập nhờ việc biến cả sự nghiệp lập công lẫn hành vi hưởng lạc thành một "cuộc chơi" nghệ thuật tự do).

Khung lý thuyết của công trình tích hợp mĩ học phương Tây (từ quan niệm nhận thức cảm tính của Alexander Baumgarten, mĩ học tinh thần của G.W.F. Hegel, thuyết phán đoán thẩm mĩ của Immanuel Kant đến mĩ học duy vật của V.G. Belinsky và N.G. Chernyshevsky) với hệ hình mĩ học cổ điển phương Đông (Lưu Hiệp, Viên Mai, Lý Trạch Hậu và hệ 5 phạm trù Văn - Đạo - Tâm - Chí - Mĩ). Phạm vi khảo sát bao quát toàn bộ 196 đơn vị văn bản và tư liệu lịch sử (bao gồm 54 bài thơ Nôm chuẩn định, 67 bài hát nói chuẩn định, 1 bài phú, 37 câu đối, 1 bài thơ chữ Hán cùng hơn 200 sự kiện lịch sử trong Đại Nam thực lục chính biên). Đóng góp mang tính đột phá của luận án là xác lập định danh khoa học cho hiện tượng "hài hòa thẩm mĩ của những đối cực", chứng minh tính cách mạng trong thi pháp hát nói và đóng góp nền tảng cho tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.


Literature Review và Positioning

Lịch sử tiếp nhận và nghiên cứu văn chương Nguyễn Công Trứ trải dài gần 200 năm, phân hóa thành các luồng tư tưởng học thuật rõ rệt. Dòng nghiên cứu văn bản học và biên khảo tiểu sử được khởi xướng bởi học giả Lê Thước (1928) với Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ, sau đó được nâng tầm bởi công trình tập đại thành của Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách và Trương Chính (1958) mang tên Thơ văn Nguyễn Công Trứ. Tiếp nối mạch tư liệu này, công trình đồ sộ Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử do Đoàn Tử Huyến chủ biên (2008) đã cung cấp hệ thống văn bản quy chuẩn cùng hàng trăm bài khảo cứu lịch sử.

Tuy nhiên, trong địa hạt phân tích tư tưởng và giá trị nghệ thuật, các cuộc tranh luận học thuật diễn ra hết sức gay gắt với ít nhất hai quan điểm đối lập:

  • Quan điểm xã hội học mác-xít truyền thống: Nhóm tác giả trong Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX) do Nguyễn Lộc chủ biên cho rằng tư tưởng của Nguyễn Công Trứ vẫn bị "đóng khung trong phạm vi tuyên dương một lý tưởng sống tích cực trên lập trường Nho giáo thống trị", còn biểu hiện xa rời lập trường nhân dân và thiếu vắng chủ nghĩa nhân đạo sâu rộng.
  • Quan điểm thi pháp học và loại hình học tác giả: Trái lại, các học giả như Trần Ngọc Vương (1995) trong Loại hình học tác giả văn học: Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam, Nguyễn Bách Khoa (1941) với Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, Phạm Vĩnh Cư (1994) và Nguyễn Đình Chú (2008) lại khẳng định Nguyễn Công Trứ là đỉnh cao của mẫu hình "nhà Nho tài tử", một cái Tôi cá thể hiếm hoi vượt thoát khỏi ý thức hệ phong kiến cổ truyền để xác lập quyền sống, quyền hưởng thụ và quyền tự do tinh thần đích thực.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, công trình của nghiên cứu sinh Nguyễn Như Trang đã vượt lên sự phân mảnh của các cách tiếp cận trước đây. Điển hình, luận án tiến sĩ triết học của Văn Phú Quang (2001) tại Đại học Oregon (Hoa Kỳ) với tiêu đề "Roaming the world and wandering at ease: Nguyen Cong Tru’s poetic vision of becoming a fully developed human being" đã khai thác thơ Nguyễn Công Trứ dưới lăng kính triết học nhân sinh phương Đông nhằm tìm kiếm con đường hoàn thiện nhân cách, nhưng lại thiếu vắng sự mổ xẻ cấu trúc thi pháp và ngôn ngữ học trung đại. Đồng thời, khi đặt cạnh các nghiên cứu thi pháp học kinh điển của Cao Hữu Công (Kao Yu-kung) và Mai Tổ Lân (Mei Tsu-lin) trong Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường, luận án đã định vị chính xác vị thế của Nguyễn Công Trứ: không chỉ là người thực hành niêm luật mà là chủ thể cách tân ngôn ngữ, biến thể hát nói từ chốn bình khang hành viện thành một thể tài bác học mang bản sắc thẩm mĩ thuần Việt. Luận án giải quyết triệt để khoảng trống bằng cách tích hợp toàn bộ các mâu thuẫn hình thức và nội dung vào một cấu trúc thống nhất: hệ thống thẩm mĩ đa nguyên.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và làm phong phú lý thuyết mĩ học tiếp nhận và loại hình học văn học thông qua việc chứng minh rằng: hệ thống thẩm mĩ trong văn học trung đại không phải là một tập hợp tĩnh tại của các quy phạm giáo điều, mà là một hệ thống động lực chuyển hóa liên tục.

  1. Kế thừa và mở rộng hệ thống phạm trù mĩ học cổ điển: Dựa trên 5 phạm trù cốt lõi của mĩ học truyền thống Việt Nam gồm Văn, Đạo, Tâm, Chí, Mĩ (theo Giáo trình mỹ học cơ sở, tr. 285) và lý thuyết tâm tính học Nho gia (Nguyễn Kim Sơn, 2012), luận án chứng minh Nguyễn Công Trứ đã thực hiện một bước chuyển biến hệ hình: chuyển từ Văn dĩ tải đạo thuần túy sang nghệ thuật tự trị, chuyển từ Thi dĩ ngôn chí phục vụ vương quyền sang giãi bày bản ngã cá nhân và nhu cầu giải trí tinh thần cao cấp.
  2. Mô hình hóa sự hài hòa của những đối cực: Luận án xây dựng mệnh đề lý thuyết khẳng định tính thống nhất biện chứng giữa hai xung lực:
    • Lực hướng tâm hành đạo ($P_1$): Thúc đẩy chủ thể dấn thân vào bổn phận quân thần, kinh bang tế thế, lập công lập đức.
    • Lực ly tâm hành lạc ($P_2$): Thúc đẩy cá nhân thoát khỏi "vòng cương tỏa", tìm về với khoái lạc giác quan, nghệ thuật hát ca và tự do tuyệt đối.
    • Mệnh đề dung hòa ($P_3$): Bản chất của cái đẹp trong thơ văn Nguyễn Công Trứ nảy sinh chính từ điểm cân bằng động giữa $P_1$ và $P_2$, nơi bổn phận xã hội và thú vui cá nhân đều được nâng lên thành những trải nghiệm thẩm mĩ tự giác.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự giao thoa của ba trục mĩ học lớn:

  • Trục chủ thể thẩm mĩ: Khảo sát cấu trúc nhân cách đa tầng của tác giả (anh hùng dấn thân – nghệ sĩ phong lưu – triết nhân hưởng nhàn).
  • Trục khách thể thẩm mĩ: Giải mã hệ thống biểu tượng không gian vũ trụ (trời đất, giang sơn), không gian đời thường (hoa cỏ, gió trăng) và thời gian hiện sinh (bách niên, phù thế).
  • Trục thể loại và ngôn ngữ: Khảo sát cơ chế giải phóng thi pháp thông qua thể hát nói (ca trù) và phú Nôm, nơi nhịp điệu tự do 3/2/3 và 3/4 phá vỡ tính quy phạm của thơ Đường luật.

Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: áp dụng cho văn học trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX trong bối cảnh phân rã của ý thức hệ phong kiến chính thống và sự manh nha của tầng lớp thị dân thành thị.


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận hành trên hệ hình triết học mĩ học duy vật biện chứng kết hợp với hiện tượng học tinh thần, đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể sáng tạo và hiện thực lịch sử. Thiết kế nghiên cứu đa tầng bao gồm:

  • Tầng văn bản học và thư tịch: Xác lập tính xác thực của các đơn vị tác phẩm, phân định ranh giới giữa văn bản chính thức và văn bản tồn nghi.
  • Tầng thi pháp học và phân tích diễn ngôn: Mổ xẻ các tín hiệu thẩm mĩ, trường từ vựng và cấu trúc ngữ nghĩa của hình tượng nghệ thuật.
  • Tầng loại hình học tác giả: Đặt tác gia Nguyễn Công Trứ vào mô hình loại hình "nhà Nho tài tử" trong tiến trình vận động của văn học phương Đông.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực học thuật thông qua 4 bước:

  1. Thu thập và chuẩn hóa ngữ liệu: Khảo sát đối chiếu giữa các bản khắc in Hán Nôm cổ, bản chép tay của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các công trình biên khảo chuẩn tắc từ Lê Thước (1928) đến Đoàn Tử Huyến (2008).
  2. Tam giác đạc tư liệu (Triangulation): Kiểm chứng chéo giữa tác phẩm văn chương với các ghi chép chính sử trong Đại Nam thực lục chính biên (Quốc sử quán triều Nguyễn), Đại Nam chính biên liệt truyệnQuốc triều sử toát yếu để đảm bảo tính xác thực của các chi tiết tiểu sử và hoàn cảnh sáng tác.
  3. Phân tích liên ngành: Kết hợp công cụ của mĩ học, thi pháp học cấu trúc, tâm lý học sáng tạo và sử học văn hóa nhằm giải mã toàn diện các chiều kích thẩm mĩ.

Data và phân tích

Dữ liệu khảo sát bao gồm toàn bộ di sản trước tác của Nguyễn Công Trứ đã được phân loại định lượng chi tiết:

  • Thơ Nôm: 54 bài chuẩn định (và 9 bài tồn nghi) với các chủ đề: cảnh nghèo (6 bài), thế thái nhân tình (18 bài), thú ẩn dật hưởng nhàn (12 bài), tình cảm lứa đôi (8 bài), thế sự trào lộng (10 bài).
  • Hát nói (Ca trù): 67 bài chuẩn định (và 8 bài tồn nghi) – thể loại nòng cốt định hình phong cách tác giả, phân chia thành: chí anh hùng lập công (24 bài), nhàn tản hành lạc (28 bài), nhân tình thế thái (15 bài).
  • Phú và Tuồng: 1 bài phú mẫu mực Hàn nho phong vị phú (1 bài tồn nghi Trương Lương); 2 trích đoạn tuồng (Tửu hội, Lí Phụng Công).
  • Văn liên (Câu đối) và trước tác hành chính: 37 câu đối (25 câu đối Nôm, 12 câu đối Hán), 35 bản tấu sớ điều trần chính trị - kinh tế, 1 bài văn đạt Giải nguyên khoa thi Hương năm Kỷ Mão (Gia Long thứ 18, 1819).
  • Thơ chữ Hán: 1 bài duy nhất được ghi nhận là Thất thập tự thọ.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án đã đạt được 5 phát hiện đột phá về mặt khoa học:

  1. Sự xác lập bản lĩnh chủ thể thẩm mĩ mang tầm vóc vũ trụ: Luận án chứng minh Nguyễn Công Trứ là nhà thơ đầu tiên trong lịch sử văn học trung đại dám tuyên bố một cách đàng hoàng, tự tin về tư cách cá nhân được hưởng "tú khí" tinh hoa của trời đất:

    "Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ý,
    Dã thị giang sơn chung tú khí."
    Khác với sự nhún nhường, quy thuận mệnh trời của các nhà Nho quy phạm, chủ thể ở đây tự nâng mình lên vị thế đối thoại ngang hàng với vũ trụ: "Trong vũ trụ đã đành phận sự,/ Phải có danh gì với núi sông" (Đi thi tự vịnh).

  2. Giải mã nghịch lý thẩm mĩ: Nghèo vật chất nhưng giàu tư thế thẩm mĩ: Phân tích thi phẩm Hàn nho phong vị phú, luận án chỉ ra cách mạng hóa trong cái nhìn nghệ thuật khi tác giả đưa những chi tiết đời thường, thô ráp vào văn học cung đình:

    "bốn bức tường lau, ba gian nhà cỏ... Nơi thành hạ, gieo cần câu cá/ Chốn lí trung xách thớt chia phần..."
    Cái nghèo không dẫn đến bi lụy mà được chuyển hóa thành sự tự trào hào sảng, thể hiện bản lĩnh làm chủ hoàn cảnh của kẻ sĩ quân tử.

  3. Xác lập phạm trù "Ngất ngưởng" và "Thị tài" như một chuẩn mực mĩ học mới: Luận án chứng minh "ngất ngưởng" không phải là thái độ ngông cuồng vô lối mà là sự tự ý thức cao độ về tài năng và nhân cách sau khi đã hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm xã hội:

    "Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
    Tài thao lược đã nên tay ngất ngưởng." (Bài ca ngất ngưởng)
    Đây là sự kết tinh của ba yếu tố mĩ học: Tài, Tình và Đạo nghĩa.

  4. Cách tân triệt để thể loại hát nói thành thể tài dân tộc thuần Việt: Thống kê cấu trúc âm luật cho thấy việc sử dụng linh hoạt các khổ thơ, câu thơ tự do ngắt nhịp 3/2/3 và 3/4 đã giúp hát nói chuyển hóa từ chức năng mua vui chốn giáo phường thành phương tiện biểu đạt triết luận nhân sinh sâu sắc và cảm xúc thẩm mĩ tinh tế.

  5. Nhận thức hiện sinh về thời gian hữu hạn: Trong bài thơ chữ Hán độc nhất Thất thập tự thọ, câu thơ "Kim ngô bất tự cố ngô thì" (Ta hôm nay không còn giống ta ngày xưa nữa) phản ánh nỗi khắc khoải hiện sinh trước dòng chảy vô tình của thời gian, từ đó thúc giục con người phải sống mãnh liệt, cống hiến hết mình và tận hưởng cuộc đời trọn vẹn.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Bổ sung vào kho tàng lý luận văn học Việt Nam một trường hợp điển hình về sự tương tác giữa mỹ học Nho giáo và mỹ học giải phóng cá nhân thời trung - cận đại.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp mô hình phân tích liên ngành (Mỹ học - Thi pháp học - Loại hình học) có khả năng tái sử dụng để nghiên cứu các tác gia trung đại phức tạp khác như Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương.
  • Về mặt thực tiễn giáo dục: Cung cấp tư liệu chuyên sâu, cách tiếp cận mới mẻ để biên soạn giáo trình giảng dạy tác phẩm Nguyễn Công Trứ ở bậc đại học và trung học phổ thông.

Limitations và Future Research

  1. Giới hạn về tư liệu thư tịch: Một số tác phẩm của Nguyễn Công Trứ vẫn còn nằm trong tình trạng tồn nghi văn bản (9 bài thơ Nôm, 8 bài hát nói, 1 bài phú) do sự thất lạc tư liệu gốc thời Nguyễn.
  2. Giới hạn về phạm vi so sánh khu vực: Luận án tập trung chủ yếu vào đối sánh nội tại văn học Việt Nam và một số tác gia Trung Hoa, chưa mở rộng đối sánh sâu rộng với các nhà thơ lãng mạn - hiện thực cùng thời kỳ ở phương Tây thế kỷ XIX.
  3. Định hướng nghiên cứu tương lai:
    • Ứng dụng thi pháp học không gian (spatial poetics) và phê bình sinh thái (ecocriticism) để khảo sát sâu hơn hình tượng "trời đất, giang sơn" trong thơ Nguyễn Công Trứ.
    • Ứng dụng nhân học văn hóa (cultural anthropology) để giải mã môi trường sinh hoạt ca trù và hành vi diễn xướng của tác giả.
    • Số hóa toàn bộ ngữ liệu tác phẩm Nguyễn Công Trứ bằng công cụ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) phục vụ phân tích phong cách học định lượng.

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Dự kiến tạo lập nguồn trích dẫn nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo về mĩ học văn học trung đại, thúc đẩy việc tái đánh giá các tác gia thế kỷ XIX dưới góc nhìn mĩ học hiện đại.
  • Tác động văn hóa và xã hội: Góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Ca trù đã được UNESCO công nhận; tôn vinh danh nhân lịch sử - văn hóa Nguyễn Công Trứ tại các địa phương (Hà Tĩnh, Ninh Bình, Thái Bình).
  • Tác động giáo dục: Định hình lại phương pháp phân tích tác phẩm Bài ca ngất ngưởng, Chí làm trai trong chương trình Ngữ văn phổ thông, chuyển từ lối tiếp cận đạo đức học thuần túy sang phân tích giá trị thẩm mĩ và ý thức cá nhân tiến bộ.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một khung phân tích mĩ học mẫu mực cùng hệ thống tài liệu thư mục tra cứu chuẩn xác.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Có thêm cơ sở lý luận vững chắc để giảng dạy và triển khai các chuyên đề về văn học trung đại Việt Nam.
  • Các nhà quản lý văn hóa và nghệ nhân Ca trù: Khai thác các bài hát nói chuẩn định của Nguyễn Công Trứ để bảo tồn không gian văn hóa diễn xướng truyền thống.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?

Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc xây dựng mô hình Hệ thống thẩm mĩ dung hòa đối cực giữa "hướng tâm hành đạo" và "ly tâm hành lạc". Luận án đã mở rộng lý thuyết Tâm tính học Nho gia (Nguyễn Kim Sơn) và Loại hình học nhà Nho tài tử (Trần Ngọc Vương), chứng minh rằng ở Nguyễn Công Trứ, cái đẹp không chỉ là sự tuân thủ chuẩn mực "thi dĩ ngôn chí" mà là sự giải phóng bản ngã cá nhân thông qua trải nghiệm thẩm mĩ của một cái Tôi tự do, sáng tạo.

2. Điểm cách tân về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?

So với nghiên cứu tiểu sử của Lê Thước (1928) hay nghiên cứu xã hội học của nhóm Nguyễn Lộc (1976), luận án đã kết hợp phương pháp phân tích cấu trúc hệ thống mĩ học với loại hình học tác giảtam giác đạc sử liệu. Luận án không tách rời con người hành động và con người thơ ca mà quy chiếu toàn bộ hành vi chính trị, quân sự, khai hoang và sáng tác vào một trục thẩm mĩ duy nhất: khát vọng khẳng định phẩm giá con người cá nhân.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ việc xử lý dữ liệu văn bản là gì?

Phát hiện bất ngờ nhất là tính chất "thế tục hóa" sâu sắc trong quan niệm về cái đẹp của một bậc đại thần Nho giáo. Khảo sát 67 bài hát nói và 54 bài thơ Nôm cho thấy tần suất xuất hiện dày đặc của các thuật ngữ chỉ khoái lạc giác quan và trò chơi đời thường (cầm, kỳ, thi, tửu, tổ tôm, ả đào). Nguyễn Công Trứ đã biến toàn bộ cuộc đời đầy thăng trầm (từ Thượng thư xuống lính thú rồi lại phục chức) thành một "cuộc chơi" thẩm mĩ hào sảng, không hề để lại dấu vết bi phẫn hay suy sụp tinh thần.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (replication protocol) không?

Có. Quy trình nghiên cứu được mô hình hóa rõ ràng qua 4 bước: Chuẩn hóa ngữ liệu văn bản $\rightarrow$ Lập bảng mã hóa chủ đề $\rightarrow$ Phân tích trường từ vựng tín hiệu thẩm mĩ $\rightarrow$ Tổng hợp mô hình mĩ học. Toàn bộ danh mục 196 tác phẩm và tài liệu tham khảo được kiểm chứng nguồn gốc cụ thể từ tập đại thành của Đoàn Tử Huyến (2008) và chính sử triều Nguyễn.

5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm tới mở ra từ luận án?

Luận án mở ra chương trình nghiên cứu dài hạn: "Tiến trình hiện đại hóa thi pháp văn học Việt Nam nhìn từ sự biến đổi của các hệ thống thẩm mĩ thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XX", tập trung giải mã sự chuyển giao hệ hình mĩ học từ văn học Nho giáo trung đại sang văn học đô thị hiện đại.


Kết luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và định danh thành công Hệ thống thẩm mĩ trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ như một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh, đa tầng và vận động linh hoạt.
  2. Xác lập chân dung chủ thể thẩm mĩ với tư thế hiên ngang sánh ngang tầm vũ trụ, sở hữu bản lĩnh cứng cỏi, tư tưởng tự do và tấm lòng trí quân trạch dân sâu sắc.
  3. Tái định nghĩa không gian và thời gian trong khách thể thẩm mĩ, chuyển hóa thiên nhiên vũ trụ ước lệ thành không gian sinh hoạt thế tục giàu sức sống.
  4. Chứng minh quy luật hài hòa thẩm mĩ độc đáo, dung hợp hoàn hảo giữa nghĩa vụ công danh của nhà Nho hành đạo và nhu cầu hưởng thụ thanh lịch của bậc tài tử phong lưu.
  5. Khẳng định công lao kiệt xuất của Nguyễn Công Trứ trong việc nâng tầm thể loại hát nói thành đỉnh cao của thơ ca dân tộc, đặt nền móng vững chắc cho sự trỗi dậy của ý thức cá nhân trong văn học Việt Nam hiện đại.