CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tìm hiểu về các hệ thống chấm công tự động Chấm công hiện nay là một công việc cần thiết và diễn ra hàng ngày trong các doanh nghiệp. Chấm công theo thời gian cũng như theo sản phẩm & doanh số. Quản lý các ca và bảng phân ca làm việc, năng suất lao động, doanh thu bán hàng, ghi nhận dữ liệu chấm công hàng ngày của nhân viên bằng tay hoặc bằng các máy chấm công. Xử lý tự động dữ liệu vào / ra để tính ra các dữ liệu ngày làm, thời gian ra vào, làm ca đêm, thời gian làm viêc,.
Hiện nay, chúng ta thường sử dụng hai phương pháp chấm công đó là: chấm công cơ học và chấm công điện tử. - Máy chấm công cơ học: Dữ liệu chấm công được lưu trên các thẻ chấm công làm bằng giấy. Khi cần xử lí dữ liệu chấm công, người xử lí cần phải tự đọc bằng máy và thêm vào hệ thống data. Bùi Thị Thành 4 Nguyễn Đình Giáp 1151040051 1151040014 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
Phạm Thúy Oanh - Máy chấm công điện tử: Máy chấm công điện tử có bộ nhớ để lưu các dữ liệu chấm công. Người sử dụng có thể dùng phần mềm để kết nối với máy và lấy các dữ liệu chấm công mà mình muốn biết. Máy chấm công điện tử có nhiều loại như sau: chấm công bằng mật khẩu, chấm công bằng thẻ, chấm công bằng dấu vân tay, … Trên thị trường hiện nay thì phổ biến nhất là các loại máy chấm công điện tử do sự tiện dụng, cũng như tính chính xác của thiết bị. Đấy là một trong nhưng yếu tố rất quan trọng của một doanh nghiệp nếu muốn quản lý tốt nguồn nhân lực.
Trong đó, một số máy chấm công cơ bản như: 1. Máy chấm công ABS300: Là giải pháp chấm công kết hợp thẻ nhân viên dành cho doanh nghiệp. Máy chấm công ABS300 là máy chấm công sử dụng công nghệ thẻ cảm ứng, thiết kế hiện đại phù hợp sử dụng chấm công trong môi trường văn phòng và doanh nghiệp sản xuất, nhà máy, xí nghiệp,. Màn hình hiển LCD trắng đen với độ bền cao thích hợp cho mục đích sử dụng lâu dài và nhiều tính năng, ưu điểm khác đáp ứng được phần lớn nhu cầu chấm công tại nơi làm việc.1: Máy chấm công ABS300 2.
Máy chấm công ATK-100: Máy chấm công vân tay ATK 100 là một trong những chiếc máy chấm công hiện đại được thiết kế phù hợp cho môi trường làm Bùi Thị Thành 5 Nguyễn Đình Giáp 1151040051 1151040014 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Phạm Thúy Oanh việc tại văn phòng, công sở. Màn hình hiển LCD trắng đen với độ bền cao thích hợp cho mục đích sử dụng lâu dài và nhiều tính năng, ưu điểm khác đáp ứng được phần lớn nhu cầu chấm công tại nơi làm việc. Tính năng của sản phẩm: - Hệ thống chấm công vân tay kèm bàn phím nhập liệu - Được lắp đặt hệ thống kiểm soát nguồn điện với các chức năng như : On/Off, Standby, Sleep, Idle Time,… - Thiết kế bàn phím dạng số bấm thanh lịch - Nhận diện người dùng chỉ trong 1 giây ấn phím - Có khả năng lưu trữ đến 220 mẫu nhận diện và 50.000 dữ liệu giao dịch - Đọc dấu vân tay hoặc/ và mã Pin - Tích hợp bộ đầu đọc thẻ thông minh/ thẻ không tiếp xúc - Lắp đặt nhiều cổng kết nối Ethernet liên tiếp nhau - Cổng USB cho phép truyền dữ liệu thủ công khi hệ thống mạng bị ngắt kết nối - Hỗ trợ đa ngôn ngữ - Hỗ trợ chức năng chuông báo các lịch trình cài đặt sẵn - Dữ liệu cập nhật nhanh chóng chỉ trong 1 lần ấn, hỗ trợ cho nhiều ứng dụng - Chức năng thông báo bằng âm thanh hoặc hiện thị màn hình tình trạng chấp nhận hoặc từ chối dấu vân tay - Thư viện phát triển phần mềm (SDK) được cài đặt sẵn đáp ứng nhu cầu của khách hàng bên lĩnh vực sản xuất thiết bị gốc (OEM) hay cho các nhà phát triển phần mềm Bùi Thị Thành 6 Nguyễn Đình Giáp 1151040051 1151040014 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
Phạm Thúy Oanh Hình 1.2: Máy chấm công ATK-100 1.2 Công nghệ RFID 1.1 Giới thiệu công nghệ RFID Công nghệ RFID (Radio Frequency Identification) cho phép một thiết bị đọc thông tin chứa trong chip không tiếp xúc trực tiếp ở khoảng cách xa, không thực hiện bất kỳ giao tiếp vật lý nào hoặc giữa hai vật không nhìn thấy. Công nghệ này cho ta phương pháp truyền, nhận dữ liệu từ một điểm đến một điểm khác. Kỹ thuật RFID sử dụng truyền thông không dây trong dải tần sóng vô tuyến để truyền dữ liệu từ các tag (thẻ) đến các reader (bộ đọc). Tag có thể được đính kèm hoặc gắn vào đối tượng được nhận dạng chẳng hạn sản phẩm, hộp hoặc giá kê(pallet).
Reader scan dữ liệu của tag và gửi thông tin đến cơ sở dữ liệu có lưu trữ dữ liệu của tag. Chẳng hạn, các tag có thể được đặt trên kính chắn gió xe hơi để hệ thống thu phí đường có thể nhanh chóng nhận dạng và thu tiền trên các tuyến đường. Bùi Thị Thành 7 Nguyễn Đình Giáp 1151040051 1151040014 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Phạm Thúy Oanh Dạng đơn giản nhất được sử dụng hiện nay là hệ thống RFID bị động làm việc như sau: reader truyền một tín hiệu tần số vô tuyến điện từ qua anten của nó đến một con chip.
Reader nhận thông tin trở lại từ chip và gửi nó đến máy tính điều khiển đầu đọc và xử lý thông tin lấy được từ chip. Các chip không tiếp xúc không tích điện, chúng hoạt động bằng cách sử dụng năng lượng nhận từ tín hiệu được gửi bởi reader.2 Lịch sử RFID Lịch sử RFID đánh dấu từ những năm 1930 những công nghệ RFID có nguồn gốc từ năm 1897 khi Guglielmo Marconi phát hiện ra sóng radio. RFID áp dụng các nguyên tắc vật lý cơ bản như truyền phát radio, sóng radio là một dạng điện từ truyền và nhận dạng dữ liệu khác nhau. Để hiểu rõ hơn về sự giống nhau này, hình dung một trạm radio phát ra âm thanh hoặc âm nhạc qua một bộ phát.
Dữ liệu này cần phải mã hóa sang dạng sóng radio có tần số xác định. Tại những vị trí khác nhau, người nghe có một máy radio để giải mã dữ liệu từ trạm phát (âm thanh hoặc âm nhạc). Mọi người đều nhận biết được sự khác nhau về chất lượng sóng radio khi ngồi trên xe hơi. Khi di chuyển càng xa bộ phát tín hiệu thu được càng yếu.
Khoảng cách theo các hướng hoặc các vùng mà sóng radio phát ra có thể bao phủ được xác định bởi điều kiện môi trường, kích thước và năng lượng của anten tại mỗi đường giao tiếp. Sử dụng thuật ngữ RFID, có chức năng như một trạm truyền gọi là một transponder (tag) được tạo thành từ 2 thuật ngữ: transmitter và responder. Vật có chức năng như radio gọi là reader (bộ đọc) hay interrogator. Anten xác định phạm vi đọc (range).
Ba thành phần tag, reader và anten là những khối chính của một hệ thống RFID. Khi thay đổi về năng lượng, kích thước, thiết kế anten, tần số hoạt động, số lượng dữ liệu, phần mềm để quản lý và xuất dữ liệu tạo ra rất nhiều ứng dụng. Công nghệ RFID có thể giải quyết rất nhiều bài toán kinh doanh thực tế.3 Thành phần của một hệ thống RFID Bùi Thị Thành 8 Nguyễn Đình Giáp 1151040051 1151040014 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Phạm Thúy Oanh Một hệ thống RFID là một tập hợp các thành phần mà nó thực thi giải pháp RFID.
Một hệ thống RFID bao gồm các thành phần sau : - Tag: là một thành phần bắt buộc đối với mọi hệ thống RFID - Reader: là thành phần bắt buộc - Reader anten: là thành phần bắt buộc. Một vài reader hiện hành ngày nay cũng đã có sẵn anten - Mạch điều khiển (Controller): là thành phần bắt buộc. Tuy nhiên, hầu hết các reader mới đều có thành phần này gắn liền với chúng - Cảm biến (sensor), cơ cấu chấp hành (actuator) và bảng tín hiệu điện báo (annunciator): những thành phần này hỗ trợ nhập và xuất của hệ thống - Máy chủ và hệ thống phần mềm: Về mặt lý thuyết, một hệ thống RFID có thể hoạt động độc lập không có thành phần này. Thực tế, một hệ thống RFID gần như không có ý nghĩa nếu không có thành phần này - Cơ sở hạ tầng truyền thông: là thành phần bắt buộc, nó là một tập gồm cả hai mạng có dây và không dây và các bộ phận kết nối tuần tự để kết nối các thành phần đã liệt kê ở trên với nhau để chúng truyền với nhau hiệu quả Bùi Thị Thành 9 Nguyễn Đình Giáp 1151040051 1151040014 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
Phạm Thúy Oanh Hình 1.3: Sơ đồ mô hình hệ thống RFID 1.4 Phương thức làm việc của RFID Một hệ thống RFID có ba thành phần cơ bản: tag, đầu đọc, và một máy chủ. Tag RFID gồm chip bán dẫn nhỏ và anten được thu nhỏ trong một số hình thức đóng gói. Vài tag RFID giống như những nhãn giấy và được ứng dụng để bỏ vào hộp và đóng gói. Một số khác được dán vào các vách của các thùng chứa làm bằng plastic.
Còn một số khác được xây dựng thành miếng da bao cổ tay. Mỗi tag được lập trình với một nhận dạng duy nhất cho phép theo dõi không dây đối tượng hoặc con người đang gắn tag đó. Bởi vì các chip được sử dụng trong tag RFID có thể giữ một số lượng lớn dữ liệu, chúng có thể chứa thông tin như chuỗi số, thời dấu, hướng dẫn cấu hình, dữ liệu kỹ thuật, sổ sách y học, và lịch trình. Cũng như phát sóng tivi hay radio, hệ thống RFID cũng sử dụng bốn băng thông tần số chính: tần số thấp (LF), tần số cao (HF), siêu cao tần (UHF) hoặc sóng cực ngắn (viba).
Các hệ thống trong siêu thị ngày nay hoạt động ở băng thông UHF, trong khi các hệ thống RFID cũ sử dụng băng thông LF và HF. Băng thông viba đang được để dành cho các ứng dụng trong tương lai. Bùi Thị Thành 10 Nguyễn Đình Giáp 1151040051 1151040014 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Phạm Thúy Oanh Các tag có thể được cấp nguồn bởi một bộ pin thu nhỏ trong tag (các tag tích cực) hoặc bởi reader mà nó “wake up” (đánh thức) tag để yêu cầu trả lời khi tag đang trong phạm vi (tag thụ động).4: Hoạt động giữa tag và reader RFID Tag tích cực đọc xa 100 feet tính từ reader và có thể là tag RW (với bộ nhớ được viết lên và xóa như một ổ cứng máy tính) hoặc là tag RO.
Tag thụ động có thể được đọc xa reader 20 feet và có bộ nhớ RO.