Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Hệ thống nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ người Việt" do sinh viên Võ Thị Minh Thư thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Văn Nam tại Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Võ Trường Toản (tháng 05/2013), thuộc chuyên ngành Văn học. Đề tài tập trung nghiên cứu thi pháp văn học dân gian thông qua việc khảo sát, phân loại và phân tích hệ thống nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ của người Việt.
Lý do chọn đề tài xuất phát từ đặc trưng của truyện cổ tích thần kỳ – một thể loại tự sự dân gian phong phú phản ánh tâm tư, tình cảm, quan điểm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhân dân lao động. Nhân vật trong truyện cổ tích đại diện cho các kiểu người trong xã hội, giúp người tiếp nhận nhìn thấy hình ảnh của bản thân và cộng đồng. Việc nghiên cứu hệ thống nhân vật giúp tiếp cận tác phẩm một cách toàn diện, đồng thời củng cố kiến thức chuyên môn phục vụ cho hoạt động giảng dạy Ngữ văn ở bậc phổ thông.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm:
- Phát hiện, khảo sát, thống kê và làm rõ đặc điểm, phương thức xây dựng hệ thống nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ của người Việt.
- Tổng hợp, hệ thống hóa truyện cổ tích thần kỳ và chỉ ra những nét độc đáo về nghệ thuật tổ chức cốt truyện, nghệ thuật tự sự và thi pháp nhân vật.
- Rèn luyện phương pháp tiếp cận văn học dân gian, bổ sung kiến thức chuyên ngành phục vụ công tác giảng dạy sau này.
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ của người Việt được ghi chép trong các tài liệu sưu tầm, biên soạn và công trình nghiên cứu đã xuất bản. Phạm vi khảo sát tập trung vào các văn bản tiêu biểu trích từ các tuyển tập như: Truyện cổ tích dân gian Việt Nam tuyển chọn (Hoàng Quyết), Tinh hoa văn học dân gian người Việt: Truyện cổ tích thần kỳ (Nguyễn Thị Huế), cùng một số tư liệu văn học dân gian liên quan khác. Mẫu khảo sát định lượng chi tiết được thực hiện trên 20 truyện cổ tích thần kỳ người Việt tiêu biểu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận văn học dân gian Việt Nam, tổng hợp và kế thừa ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu:
- Về khái niệm truyện cổ tích, tác giả tổng hợp định nghĩa từ Hoàng Trọng Miên, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Đổng Chi và tiếp thu đầy đủ quan điểm của Chu Xuân Diên: truyện cổ tích nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng phát triển chủ yếu trong xã hội có giai cấp; chủ đề mang tính xã hội; phản ánh hiện thực, đạo đức và ước mơ công lý thông qua trí tưởng tượng thần kỳ.
- Về phân loại thể loại, tác giả điểm qua các hệ thống phân loại của Trần Thanh Mại, Nguyễn Đổng Chi, Đinh Gia Khánh, giáo trình Đại học Sư phạm Hà Nội, Nguyễn Văn Ngọc, Nghiêm Toản – Thanh Lãng, và thống nhất áp dụng cách phân loại ba bộ phận của GS. Hoàng Tiến Tựu: truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích thế sự và truyện cổ tích loài vật.
- Về thi pháp và nhân vật, đề tài tham khảo các công trình của Lê Chí Quế, Đỗ Bình Trị, Lê Trường Phát, Nguyễn Xuân Đức, Nguyễn Thị Huế, Triều Nguyên, Đỗ Hồng Kỳ, Trương Bi, Phan Đặng Nhật, Võ Quan Nhơn, Hà Đình Thành.
Các phương pháp nghiên cứu được triển khai trong khóa luận gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Triển khai các luận điểm lý thuyết và làm rõ đặc điểm nhân vật, thi pháp tác phẩm.
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, chọn lọc các tư liệu, giáo trình và công trình chuyên khảo làm khung quy chiếu.
- Phương pháp hệ thống: Xâu chuỗi các tác phẩm sưu tầm, phân loại nhân vật theo tuyến và nhóm chức năng.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp kiến thức văn học dân gian với văn hóa học và dân tộc học để soi chiếu nguồn gốc phong tục, motif truyện kể.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Định lượng số lượng, tỷ lệ các loại nhân vật chính diện, phản diện, lực lượng thần kỳ trên mẫu 20 truyện khảo sát.
Nguồn dữ liệu bao gồm các tuyển tập văn học dân gian người Việt và các công trình nghiên cứu thi pháp văn học dân gian các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Truyện cổ tích và truyện cổ tích thần kỳ
Chương này tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về khái niệm, nguồn gốc, phân loại và đặc trưng thể loại của truyện cổ tích thần kỳ:
- Khái niệm, nguồn gốc và phân loại: Thuật ngữ "truyện cổ tích" xuất hiện muộn nhất từ thế kỷ XIX (qua bản khắc chữ Nôm Ngọc Hoa cổ tích truyện năm 1871). Về nguồn gốc, truyện cổ tích phát sinh từ sự tan rã của xã hội thị tộc nguyên thủy và kế thừa từ thần thoại. Quá trình chuyển hóa từ thần thoại sang cổ tích giữ lại các motif ("phần xác") nhưng đổi mới "phần hồn" để phục vụ việc nhận thức đời sống xã hội. Ngoài ra, truyện cổ tích còn bắt nguồn từ phong tục tập quán (Sự tích trầu cau, Bánh chưng bánh giầy, Sự tích cây nêu ngày Tết), giải thích địa danh, cảnh vật tự nhiên hoặc giải thích các câu thành ngữ, phương ngôn (Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho, Nợ như Chúa Chổm).
- Đối tượng miêu tả: Lấy con người và xung đột xã hội loài người làm trung tâm. Yếu tố thần kỳ chỉ đóng vai trò phụ trợ. Các tuyến nhân vật người gồm người nghèo khổ bất hạnh (mồ côi, em út, người mang lốt vật xấu xí) và người tài giỏi, dũng sĩ lập kỳ tích.
- Xung đột xã hội người: Phản ánh qua hai bình diện:
- Xung đột trong gia đình: Cha mẹ với con cái (Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng kể ngày); anh em trai (Cây khế, Sọ Dừa, Lấy chồng dê); dì ghẻ - con chồng (Tấm Cám, Sự tích chim đa đa, Sự tích con dế, Mụ dì ghẻ độc ác); con ruột - con nuôi (Thạch Sanh, Của Thiên trả Địa); bi kịch hôn nhân huyết tộc (Nàng Tô Thị) hoặc phụ nghĩa (Sự tích con muỗi).
- Xung đột ngoài xã hội: Quan hệ bạn bè bội bạc (Tam và Tứ, Của Thiên trả Địa); xung đột giữa người lao động nghèo với giai cấp thống trị (vua, quan, phú ông); xung đột chống giặc ngoại xâm (Thạch Sanh, Chàng đốn củi).
- Nét độc đáo về nghệ thuật:
- Kết cấu tự sự theo đường thẳng, trình tự trước - sau tuyến tính thời gian.
- Sử dụng yếu tố kỳ ảo hoang đường để tháo gỡ bế tắc thực tế theo quan niệm nhân quả "ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác". Bảo vật kỳ diệu trong nhiều truyện vẫn gắn liền với luân lý đời thường (như dao quẹt, đá lửa, trứng gà trong Sọ Dừa).
- Kết hợp nhuần nhuyễn với ca dao, tục ngữ, thành ngữ và văn vần (tiếng chim vàng anh, tiếng khung cửi trong Tấm Cám; các câu thành ngữ trong Gốc tích tiếng kêu của vạc, dủ dỉ, đa đa và chuột).
Chương 2: Các loại nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ
Chương 2 đi sâu phân loại hệ thống nhân vật theo tuyến tính và khảo sát định lượng trên mẫu 20 truyện cổ tích thần kỳ người Việt:
- Nhân vật chính diện: Phân chia thành nhân vật trung tâm (nhân vật bất hạnh, tài giỏi, mang lốt vật) và nhân vật phụ hỗ trợ.
- Nhân vật phản diện: Khảo sát 20 truyện ghi nhận 18 truyện có nhân vật phản diện với tổng số 30 nhân vật (2 truyện không có nhân vật phản diện, chiếm tỷ lệ khảo sát là các truyện thuần túy ca ngợi đức hạnh). Nhân vật phản diện được chia thành hai nhóm:
- Nhân vật phản diện gây hại trực tiếp: 19/30 nhân vật (chiếm 63,7% / khoảng 63,3%). Gồm 4 nhân vật có quan hệ ruột thịt (người anh, người chị) và 15 nhân vật ngoài xã hội thuộc tầng lớp thống trị (vua, quan, phú ông, đại thần, giặc ngoại xâm). Các phương thức gây hại: trộm/đổi vật thần (Tiêu diệt mãng xà); lừa dối cướp công và cướp vợ (Thạch Sanh, Tam và Tứ); bóc lột sức lao động (Cây tre trăm đốt); âm mưu giết hại (Tấm Cám, Vua Heo). Tỷ lệ bị trừng phạt: 16/19 nhân vật (chiếm 84,2%), phần lớn chịu kết cục tử vong.
- Nhân vật phản diện gây hại gián tiếp: 11/30 nhân vật (chiếm 36,3% / văn bản ghi 35%). Gồm 4 nhân vật có quan hệ mật thiết (36,4%) và 7 nhân vật ngoài xã hội (63,6% - trọc phú, phú thương, tay sai, quân lính). Tỷ lệ bị trừng phạt: 2/11 nhân vật (chiếm 18,1%), số còn lại (81,9%) chịu sự lên án, xa lánh hoặc được cảm hóa hoàn lương (Lấy chồng dê, Chàng đốn củi).
| Phân loại nhân vật phản diện |
Số lượng / Tổng số |
Tỷ lệ (%) |
Số lượng bị trừng phạt |
Tỷ lệ trừng phạt (%) |
| Gây hại trực tiếp |
19 / 30 |
63,7% |
16 / 19 |
84,2% |
| Gây hại gián tiếp |
11 / 30 |
36,3% |
2 / 11 |
18,1% |
| Tổng cộng |
30 |
100% |
18 / 30 |
60,0% |
- Lực lượng thần kỳ: Khảo sát ghi nhận 28 thực thể thần kỳ trong 20 truyện, phân bổ theo hai tuyến:
- Lực lượng thần kỳ tuyến chính diện: 20/28 thực thể (chiếm 71,4% / văn bản ghi 71,6%), chia làm 3 nhóm:
- Nhóm nhân vật thần (Bụt, Tiên, Phật, Ngọc Hoàng): 10/20 (50,0%).
- Nhóm đồ vật thần (búa, cung vàng, đàn thần, niêu cơm thần, bó củi thần, dao quí, đá lửa, chậu nước thần, ngọc thần): 8/20 (40,0%).
- Nhóm con vật thần (chim phượng hoàng): 2/20 (10,0%).
- Lực lượng thần kỳ tuyến phản diện: 8/28 thực thể (chiếm 28,6%), bao gồm quái vật, yêu tinh, con vật thành tinh (chằn tinh, đại bàng, mãng xà, con quạ, bốn con quỷ).
| Tuyến lực lượng thần kỳ |
Thành phần cụ thể |
Số lượng |
Tỷ lệ nội bộ tuyến (%) |
Tỷ lệ trên tổng số 28 (%) |
| Tuyến chính diện |
Nhóm nhân vật thần (Bụt, Tiên, Phật, Ngọc Hoàng) |
10 |
50,0% |
35,7% |
|
Nhóm đồ vật thần (đàn thần, bó củi, dao, ngọc...) |
8 |
40,0% |
28,6% |
|
Nhóm con vật thần (chim phượng hoàng) |
2 |
10,0% |
7,1% |
| Tổng tuyến chính diện |
|
20 |
100% |
71,4% |
| Tuyến phản diện |
Quái vật, thú dữ thành tinh (chằn tinh, đại bàng, mãng xà...) |
8 |
100% |
28,6% |
| Tổng số thực thể |
|
28 |
|
100% |
Chương 3: Các kiểu nhân vật tiêu biểu trong truyện cổ tích thần kỳ
Chương này phân tích các mô hình nhân vật cốt lõi và các motif nghệ thuật tương ứng:
- Kiểu nhân vật dũng sĩ diệt quái vật cứu người đẹp:
- Định nghĩa dũng sĩ: Là những chàng trai có thể lực phi thường, lòng dũng cảm, đại diện cho cộng đồng chống lại thế lực tự nhiên hung dữ và bảo vệ con người (dựa trên quan điểm của Chu Xuân Diên, Nguyễn Văn Hoàng, A.Nôvicôva).
- Motif sự ra đời thần kỳ: Gồm các dạng cảm ứng tự nhiên (mây lành), uống nước trong dị vật (sọ dừa, hốc cây), hoặc do thần linh mượn cửa đầu thai (Thạch Sanh, Sọ Dừa, Công chúa Liễu Hạnh).
- Motif dũng sĩ diệt rắn/quái vật cứu người đẹp: Cấu trúc bộ ba Dũng sĩ – Quái vật (rắn, trăn, sấu) – Người đẹp. Cốt truyện diễn tiến qua chuỗi hành động: Dũng sĩ rời nhà $\rightarrow$ gặp người đẹp bị trói $\rightarrow$ giao chiến ác liệt $\rightarrow$ diệt quái vật $\rightarrow$ giải cứu người đẹp và kết hôn (hoặc qua thử thách nhận diện tín vật để kết hôn).
- Kiểu nhân vật người con riêng (trong quan hệ mẹ ghẻ - con chồng): Thuộc nhóm nhân vật bất hạnh chịu áp bức trong gia đình phụ quyền (Tấm Cám, Sự tích chim đa đa), luôn giữ phẩm chất trong sáng và vượt qua các thử thách gian nan để giành lại hạnh phúc.
- Kiểu nhân vật người xấu xí mà có tài (người mang lốt vật): Nhân vật sinh ra mang hình hài dị dạng lốt vật (Sọ Dừa, Lấy chồng dê) nhưng sở hữu tài năng đặc biệt, vượt qua định kiến xã hội, kết hôn cùng con gái út và trút bỏ lốt vật để sống hạnh phúc.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả khảo sát định lượng và phân tích:
- Khóa luận đã hệ thống hóa và thống kê chi tiết 30 nhân vật phản diện và 28 thực thể thần kỳ trên mẫu 20 truyện cổ tích thần kỳ người Việt.
- Chứng minh quy luật phân hóa nhân vật theo nguyên tắc đối lập thiện – ác: nhân vật phản diện gây hại trực tiếp chịu tỷ lệ trừng phạt rất cao (84,2%), thể hiện triết lý dân gian "gieo nhân nào gặt quả nấy".
- Chỉ ra lực lượng thần kỳ tuyến chính diện chiếm ưu thế tuyệt đối (71,4%), giữ vai trò hỗ trợ giải quyết mâu thuẫn khi con người bế tắc nhưng không thay thế nỗ lực tự thân của con người.
- Đóng góp của đề tài:
- Hệ thống hóa các kiến giải lý thuyết về truyện cổ tích thần kỳ và làm sáng tỏ thi pháp phân loại nhân vật theo tuyến (chính diện, phản diện, thần kỳ) và theo kiểu loại (dũng sĩ, người bất hạnh, người mang lốt vật).
- Cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc rõ ràng, hỗ trợ sinh viên ngành Ngữ văn trong việc củng cố phương pháp phân tích tác phẩm dân gian và định hướng giảng dạy thể loại cổ tích trong trường phổ thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Quy mô mẫu khảo sát định lượng trực tiếp còn dừng lại ở 20 tác phẩm tiêu biểu; việc so sánh với truyện cổ tích các dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, Ê-đê, M'nông) mới dừng ở mức liên hệ một số motif tiêu biểu, chưa tiến hành khảo sát định lượng toàn diện trên diện rộng.
- Hướng mở rộng: Mở rộng phạm vi khảo sát trên toàn bộ kho tàng truyện cổ tích thần kỳ người Việt và đối sánh sâu hơn về mặt loại hình học thi pháp với hệ thống nhân vật trong truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu nghiên cứu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Văn học, Sư phạm Ngữ văn, Văn hóa học có nhu cầu tìm hiểu về thi pháp truyện cổ tích thần kỳ.
- Giáo viên Ngữ văn phổ thông tham khảo phương pháp tiếp cận nhân vật, phân tích các motif nghệ thuật (Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa, Cây tre trăm đốt) trong chương trình giảng dạy.
- Các phần có giá trị tham khảo nổi bật: Bảng phân loại, số liệu thống kê nhân vật phản diện và lực lượng thần kỳ ở Chương 2; phần phân tích các motif sự ra đời thần kỳ và motif diệt quái vật cứu người đẹp ở Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả khóa luận thống nhất áp dụng cách phân loại truyện cổ tích của nhà nghiên cứu nào?
Tác giả thống nhất áp dụng cách phân loại của GS. Hoàng Tiến Tựu trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, chia truyện cổ tích thành ba bộ phận: truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích thế sự và truyện cổ tích loài vật.
2. Trong 20 truyện cổ tích thần kỳ người Việt được khảo sát, nhân vật phản diện được phân chia như thế nào và tỷ lệ bị trừng phạt ra sao?
Có 30 nhân vật phản diện trong 18 truyện (2 truyện không có phản diện):
- Nhóm gây hại trực tiếp: 19 nhân vật (63,7%), trong đó 16 nhân vật bị trừng phạt (84,2%, chủ yếu là cái chết).
- Nhóm gây hại gián tiếp: 11 nhân vật (36,3%), trong đó 2 nhân vật bị trừng phạt (18,1%), số còn lại bị cộng đồng chê cười, lên án hoặc được cảm hóa.
3. Lực lượng thần kỳ tuyến chính diện gồm những nhóm nào và nhóm nào chiếm tỷ lệ cao nhất?
Lực lượng thần kỳ tuyến chính diện gồm 20 thực thể (chiếm 71,4% tổng số lực lượng thần kỳ), được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm nhân vật thần (Bụt, Tiên, Phật, Ngọc Hoàng): 10 thực thể (chiếm 50,0% - cao nhất).
- Nhóm đồ vật thần: 8 thực thể (chiếm 40,0%).
- Nhóm con vật thần: 2 thực thể (chiếm 10,0%).
4. Yếu tố thần kỳ hoang đường giữ vai trò gì đối với nhân vật con người trong truyện cổ tích thần kỳ?
Yếu tố thần kỳ chỉ đóng vai trò trợ lực nghệ thuật nhằm tháo gỡ bế tắc xã hội và hiện thực hóa ước mơ công lý của nhân dân lao động. Con người vẫn là nhân vật trung tâm, và kết quả hạnh phúc hay trừng phạt cuối cùng vẫn do chính hành động và phẩm chất đạo đức của con người quyết định.
5. Cấu trúc motif dũng sĩ diệt rắn/quái vật cứu người đẹp diễn ra theo chuỗi hành động nào?
Motif gồm bộ ba Dũng sĩ – Quái vật – Người đẹp với chuỗi hành động: Dũng sĩ rời nhà đi làm ăn/kết bạn $\rightarrow$ gặp cô gái đẹp bị trói $\rightarrow$ tình nguyện chiến đấu ác liệt tiêu diệt quái vật $\rightarrow$ giải cứu cô gái $\rightarrow$ kết hôn ngay hoặc trải qua bước thử thách/nhận diện tín vật rồi kết hôn.
Kết luận
Khóa luận "Hệ thống nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ người Việt" của tác giả Võ Thị Minh Thư đã phân tích toàn diện diện mạo, chức năng và thi pháp xây dựng nhân vật trong thể loại cổ tích thần kỳ. Thông qua phương pháp nghiên cứu hệ thống kết hợp khảo sát định lượng trên 20 tác phẩm tiêu biểu, tác giả làm rõ sự phân hóa giữa tuyến nhân vật chính diện, phản diện và các nhóm lực lượng thần kỳ. Đề tài khẳng định nhân vật người luôn giữ vị trí trung tâm phản ánh các xung đột xã hội sâu sắc, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác học tập và giảng dạy văn học dân gian.