đặt vấn đề nghiên cứu ở cả chiều ngang (đồng đại) và chiều dọc (lịch đại) để có sự đánh giá một cách toàn diện nhất. Ví dụ, khi đánh giá về vị trí của Vịnh Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII, không thể không quay ngược lại thời Bắc thuộc và thời Lý - Trần để thấy được một Giao Chỉ Dương sôi động của Hoa thương và Việt thương; khi nói về hoạt động xuất khẩu gốm sứ Đàng Ngoài thế kỷ XVII không thể không nhắc đến giai đoạn hoàng kim của gốm Chu Đậu thế kỷ XIV-XV; Thứ hai, phương pháp so sánh đang là một phương pháp nghiên cứu thịnh hành để đạt đến một kết quả nghiên cứu khách quan và toàn diện. Luận án cũng sẽ áp dụng phương pháp này nhằm làm nổi bật những đặc tính của đối tượng nghiên cứu. Ví dụ, khi trình bày về hệ thống cảng thị Thăng Long - Phố Hiến - Domea dọc Sông Đàng Ngoài, luận án cũng hướng tới so sánh với trường hợp Quảng Châu - Macao ở hạ lưu sông Châu (Pearl River), duyên hải đông nam Trung Quốc, trường hợp Hội An và hệ thống sông Thu Bồn - Cổ Cò, và so sánh với mô hình khái quát sự trao đổi giữa trung tâm (miền núi và đồng bằng) và ngoại vi (biển và duyên hải) thông qua hệ thống sông của các quốc gia ven biển Đông Nam á đã được Bennet Bronson vạch ra từ năm 1977 [236; 290; 291].
Cũng vì sử dụng phương pháp so sánh mà một phương pháp nghiên cứu khác cũng được luận án đặc biệt coi trọng. Đó là phương pháp thứ ba, phương pháp khu vực học. Nghiên cứu về hệ thống cảng thị Sông Đàng Ngoài hay ngoại thương Bắc Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, tức là nghiên cứu các mối liên hệ thương mại của Đàng Ngoài với hải ngoại, với các quốc gia láng giềng và trong khu vực. Có nhiều khái niệm về “khu vực” (area) và “khu vực học” (area studies), đó có thể là một khu vực rộng lớn với nhiều quốc gia liền kề, gắn kết với nhau, nhưng cũng có thể chỉ là một không gian nhỏ hẹp của một làng, một châu thổ.
ở đây, chúng tôi dùng khái niệm khu vực để chỉ khu vực Đông á8 và đặt hệ thống cảng thị Sông Đàng Ngoài và sự phát triển ngoại thương Bắc Đại Việt không nằm ngoài nhịp độ chung mạng lưới thương mại khu vực đó. Thứ tư, phương pháp tập hợp và phân tích tư liệu vì đây là một vấn đề nghiên cứu mang tính tổng hợp, khái quát, và sử dụng đa dạng các nguồn sử liệu từ chính sử, tư liệu chữ Hán, tư liệu lưu trữ phương Tây (chủ yếu là tiếng Anh), đến 8 Đông á nằm ở phía đông châu á và phía bắc của miền Tây châu Đại Dương, bao gồm Đông Bắc á và Đông Nam á. Đông Bắc á bao gồm Trung Quốc, Bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản, miền Đông nước Nga, và Mông Cổ. Tuy nhiên, phạm vi của Đề tài chỉ đặt Đàng Ngoài và ngoại thương Đàng Ngoài trong khu vực Đông á gồm Đông Nam á và Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, vốn là những quốc gia, quốc đảo liên quan mật thiết đến sự thăng trầm của thương mại Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII.
24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước; Thứ năm là phương pháp thống kê, vì luận án tập trung vào vấn đề ngoại thương, do đó việc thống kê định lượng hàng hoá, tiền tệ, giá cả, tàu thuyền… là rất cần thiết; Phương pháp lôgíc, phương pháp thứ sáu, được sử dụng để trình bày, phân tích khi viết luận án, để vấn đề nghiên cứu được sáng rõ, chặt chẽ, liền mạch và hợp lý. Nghiên cứu về lịch sử Việt Nam cho đến gần đây xuất hiện nhiều cách tiếp cận mới. Từ năm 2006, trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, Đại học Quốc gia Singapore, ba nhà Việt Nam học nổi tiếng là John K. Whitmore, Li Tana và Charles Wheeler [242, 281, 290-292, 294] đã đưa ra một cái nhìn mới về lịch sử và sử liệu học Việt Nam với cái tên “Một góc nhìn từ Biển” (A View from the Sea).
Sử dụng các nguồn tư liệu hải ngoại, đặc biệt là việc “đặt mình giữa biển khơi để nhìn nhận các khu vực cận duyên”, “nhìn từ biển và bờ, chứ không phải từ bờ ra biển” [226, tr. 30], các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được vị trí quan trọng của Việt Nam trong hệ thống hải thương Biển Đông từ thời cổ và trong suốt thời trung đại, trong đó, Vịnh Bắc Bộ và các vùng duyên hải nổi lên như những vùng kinh tế năng động, đóng vai trò nhất định trong sự hình thành các thế chế chính trị sớm của Đại Việt [294, tr. Vịnh Bắc Bộ, thậm chí được Li Tana và các “sử gia chuyên về hải sử” coi như một “Tiểu Địa Trung Hải” (A Mini Mediterranean Sea), bao gồm phức hợp biển và duyên hải Quảng Tây (Trung Quốc), đảo Hải Nam và Bắc Bộ Việt Nam, nơi có những tương đồng về địa lý tự nhiên, về nhân chủng học tộc người, về các mối giao thoa văn hóa, giao lưu kinh tế thương mại. Việt Nam, vì vậy, không còn chỉ được nhìn nhận như là một quốc gia Đông Nam á lục địa thuần túy, với các thể chế chính trị nông nghiệp đồng bằng nội địa.
Vương quốc Đại Việt thời trung đại, do đó, cũng có những biến đổi trùng khớp với nhịp độ phát triển của khu vực và quốc tế, hòa điệu cùng hải thương Đông á, Đông Nam á theo gió mùa và luồng hải lưu từ ngoài viễn dương [281, tr. Chịu ảnh hưởng của cách tiếp cận này, giới khoa học trong nước cũng đã và đang có cái nhìn mới về biển đảo Việt Nam [93]. Bản thân chúng tôi, một cách vô thức, cũng đã sử dụng cách tiếp cận này khi đặt mình ở giữa biển khơi, sử dụng các hải trình của người Bồ Đào Nha, Hà Lan thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII để tìm ra những cửa ngõ chính yếu để từ Biển Đông đi vào lục địa Đàng Ngoài giai đoạn này. Bên cạnh cách tiếp cận từ Biển và Duyên hải, một số nhà nghiên cứu lại đặt mình ở “vùng cao”, chủ trương đưa ra một “Góc nhìn từ Núi” trong sử liệu học và nghiên cứu dân tộc về Việt Nam [142, tr.
Chia sẻ góc nhìn của Oscar Salemink, trong một nghiên cứu khác cũng của học giả nước ngoài, nhưng ngược 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời gian trở về hai thế kỷ XVII-XVIII, Andrew Hardy với ““Nguồn” trong Kinh tế Hàng hóa ở Đàng Trong” cũng đặt mình ở “miền Thượng” (vùng trung du hoặc chân núi) để xem xét các mô hình kinh tế Đàng Trong thời các chúa Nguyễn (mà tác giả gọi là “Mô hình Kinh tế lai tạp”) [46, tr.9 Có thể nói, các cách tiếp cận này đều có những ưu việt nhất định và mang lại những nhận thức mới mẻ về các hiện tượng kinh tế - xã hội tưởng chừng như quá quen thuộc hay khá cũ trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, với cách tiếp cận từ Biển và Duyên hải, ngoài việc phải cẩn trọng trong việc tách biệt các khái niệm “người Việt”, “người Việt Nam”10 hay “Việt Nam/Đại Việt” như Hoàng Anh Tuấn [286, tr. 54-64] đã chỉ ra sự lẫn lộn trong nghiên cứu của Wang Gungu [289], chúng tôi cho rằng Cái nhìn từ Biển không thể lý giải được hiện tượng các cảng thị trên Sông Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII, về sự định vị trường tồn của Thăng Long mà không phải “chạy ra duyên hải” như các thương cảng Đông Nam á khác; về sự yếm thế của Domea; cũng như sự hưng thịnh hay quá trình lụi tàn của hệ thống này. Theo chúng tôi, sẽ là khả thi, hợp lý và giải quyết được vấn đề thấu triệt hơn khi áp dụng cách tiếp cận sinh thái học (Ecological View) vào nghiên cứu hệ thống cảng thị trên Sông Đàng Ngoài.
ở đây, chúng tôi đi sâu vào một khía cạnh của sinh thái học, đó là căn cứ vào đặc điểm địa lý tự nhiên (Geographical Features), hay nói như GS Trần Quốc Vượng là áp dụng cái nhìn “địa - văn hóa” trong nghiên cứu các vấn đề lịch sử, văn hóa, kinh tế của Việt Nam. Và như vậy, chúng ta vẫn đứng ở đồng bằng (mà không phải là từ biển hay ở tận trung du), nhưng không quên nhìn lên núi và đặc biệt vẫn hướng ra hải ngoại thông qua phức hợp các thủy lộ. Sự thịnh hành của từng tuyến đường thủy nối Đại La - Thăng Long với Biển Đông qua từng thời kỳ phụ thuộc nhiều vào những biến đổi địa chất ở đồng bằng, vào quá trình thành tạo của châu thổ Bắc Bộ, của sông Hồng và hệ thống các chi lưu của nó, đúng như GS Lê Bá Thảo đã chỉ ra [159]. Trong giới sử học Việt Nam, như cố Giáo sư Trần Quốc Vượng đã chủ trương, mọi hiện tượng văn hóa, kinh tế - xã hội đều phải được giải thích từ căn nguyên địa lý tự nhiên, mà Giáo sư thường kêu gọi cho sự 9 Các tư liệu cụ thể về các sản phẩm thủ công nghiệp, các lâm-thổ-thủy-hải sản hàng hóa Đàng Trong thế kỷ XVI-XVIII, xem Nguyễn Văn Kim (2011), “Các nguồn hàng và thương phẩm của Đàng Trong”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (420), tr.
10 Về các khái niệm người Việt, Bách Việt, Việt tộc, người Việt Nam, xem Đào Duy Anh (2010), Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Thơ (2011), “Nhận diện Văn hóa Lạc Việt”, Di sản Lịch sử và Những Hướng Tiếp cận Mới, Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr. 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gắn kết, liên ngành và đa ngành Sử và Địa, cho một “Triết lý Môi trường”, một “Cái nhìn sinh thái nhân văn” [217; 220].
Năm 1997, TS Đỗ Đức Hùng đã xuất bản cuốn sách Vấn đề Trị thủy ở Đồng bằng Bắc Bộ dưới thời Nguyễn (thế kỷ XIX) [58]. ở công trình này, tác giả đã tiếp cận vấn đề trị thủy ở châu thổ sông Hồng thế kỷ XIX dưới góc độ sinh thái học. Theo đó, tác giả đã vận dụng những tri thức địa lý, địa chất và thủy văn để giải thích căn nguyên vì sao vấn đề trị thủy lại được đặt ra gay gắt vào thời Nguyễn thế kỷ XIX; phân tích bản chất của quá trình thành tạo đồng bằng châu thổ sông Hồng, những biến đổi của sông ngòi, thổ nhưỡng Bắc Bộ cho đến cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX do tác động của hệ thống đê mà các triều đại quân chủ Việt Nam đã dày công vun đắp gần chục thế kỷ.