Luận án tiến sĩ về hệ thống cảng thị trên sông Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII

Khám phá luận án tiến sĩ về hệ thống cảng thị trên sông Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII, phân tích vai trò và ảnh hưởng trong lịch sử.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Lịch Sử

2013

318
7
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3. Mục tiêu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu

4. Nguồn tài liệu

5. Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận

6. Đóng góp của luận án

1. CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG CẢNG THỊ TRẤN SỪNG ĐÀNG NGOÀI THẾ KỶ XVII-XVIII

1.1. Bối cảnh lịch sử thế kỷ XVII-XVIII

1.2. Điều kiện tự nhiên sông ngũi của châu thổ Bắc Bộ thế kỷ XVII-XVIII

1.3. Sông Đàng Ngoài và vị trí vùng cửa Sông Đàng Ngoài

2. CHƯƠNG 2: THĂNG LONG - KẺ CHỢ: CẢNG THỊ TRUNG TÂM

2.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

2.2. DIỆN MẠO CẢNG THỊ

2.2.1. Các bến cảng

2.2.2. Sự phát triển lệch Động của Thăng Long - Kẻ Chợ

2.2.3. Thương nhân ngoại quốc

2.2.3.1. Thương nhân Đông Bắc Á
2.2.3.2. Thương nhân Hoa kiều
2.2.3.3. Thương nhân Nhật Bản
2.2.3.4. Thương nhân Tây Âu

2.2.4. Các thương điếm phương Tây

2.3. CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

2.3.1. Nền tảng Thủ công nghiệp

2.3.2. Gốm sứ và Tơ lụa

2.3.3. Sự tiến triển mạnh mẽ của thủ công nghiệp từ Tứ trấn về Thăng Long

2.3.4. Các hoạt động ngoại thương

2.3.4.1. Xuất nhập khẩu hàng hóa
2.3.4.1.1. Kim loại tiền: Tiền đồng và Bạc
2.3.4.1.2. Vũ khí và các kho tài chiến tranh
2.3.4.1.3. Các mặt hàng xa xỉ
2.3.4.1.3.1. Vải ngoại nhập
2.3.4.1.3.2. Gốm sứ Đông Bắc Á
2.3.4.1.3.3. Tơ lụa Đàng Ngoài xuất khẩu
2.3.4.1.3.4. Gốm Đàng Ngoài
2.3.4.1.3.5. Quế các mặt hàng thủ công mỹ nghệ
2.3.4.2. Cảng trung chuyển giữa Nam Trung Quốc và Biển Đông
2.3.4.2.1. Hàng Trung Quốc nhập khẩu vào Thăng Long để tái xuất ra Biển Đông
2.3.4.2.2. Hàng hải ngoại nhập khẩu vào Thăng Long để xuất sang Trung Quốc
2.3.4.3. Các tuyến giao thương nội địa và hải ngoại

3. CHƯƠNG 3: PHỐ HIẾN: CẢNG THỊ TRUNG GIAN

3.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Lịch sử hình thành

3.1.3. Chính sách ngoại kiều của Nhà nước Lê - Trịnh

3.2. DIỆN MẠO CẢNG THỊ

3.2.1. Sự tập trung của thương nhân ngoại quốc

3.2.1.1. Thương nhân Trung Quốc
3.2.1.2. Sự tồn tại của thương điếm Hà Lan ở Phố Hiến thế kỷ XVII
3.2.1.3. Thương điếm Anh ở Phố Hiến (1672-1683)
3.2.1.4. Giáo sỹ Pháp và thương điếm Pháp ở Phố Hiến (1680-1682)

3.2.2. Bến - cảng sông và tập hợp chợ

3.2.3. Phố phường và nhà cửa

3.2.3.1. Phường và Phố
3.2.3.2. Vấn đề quy mô và diện mạo Phố Hiến qua các nguồn tư liệu

3.3. CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

3.3.1. Thủ công nghiệp và Nội thương

3.3.1.1. Thủ công nghiệp
3.3.1.2. Nội thương

3.3.2. Ngoại thương

3.3.2.1. Phố Hiến với hàng hóa nhập khẩu
3.3.2.2. Phố Hiến với hàng hóa xuất khẩu

4. CHƯƠNG 4: DOMEA VÀ CÁC CẢNG BẾN CỬA KHẨU

4.1. Domea trên bản đồ và thư tịch cổ phương Tây

4.2. Sự ra đời của Domea

4.3. Vai trò và quy mô của Domea

4.4. Vị trí của Domea

4.5. Các giả thuyết

4.6. Kết quả nghiên cứu thực địa

4.7. Kết quả nghiên cứu địa mạo và sử dụng công nghệ viễn thám

4.8. BATSHA VÀ CÁC CẢNG BẾN KHÁC

4.8.1. Batsha trong vùng cửa Sông Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII

4.8.2. Vai trò và chức năng của Batsha

4.8.3. Vị trí của Batsha

4.8.4. Mối liên hệ giữa Batsha với quê hương nhà Mạc

4.8.5. Andong và Ding Lack

4.8.5.1. Bến cảng Andong
4.8.5.2. Địa điểm Ding Lack

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục bảng

Phụ lục ảnh

Phụ lục bản đồ

Phụ lục sơ đồ

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống cảng thị Đàng Ngoài thế kỷ XVII XVIII

Hệ thống cảng thị trên sông Đàng Ngoài trong thế kỷ XVII-XVIII đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và thương mại của khu vực Bắc Bộ Việt Nam. Thời kỳ này chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế, với sự xuất hiện của nhiều cảng thị lớn như Thăng Long - Kẻ Chợ, Phố Hiến và Domea. Những cảng thị này không chỉ là trung tâm giao thương mà còn là nơi giao thoa văn hóa giữa các thương nhân trong và ngoài nước. Hệ thống cảng thị này đã tạo ra một mạng lưới thương mại sôi động, kết nối Đàng Ngoài với các thị trường quốc tế.

1.1. Đặc điểm địa lý và lịch sử hình thành cảng thị

Địa lý của sông Đàng Ngoài với các nhánh sông và cửa biển đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các cảng thị. Thăng Long - Kẻ Chợ, với vị trí trung tâm, đã trở thành cảng thị lớn nhất, nơi tập trung thương nhân từ nhiều quốc gia. Phố Hiến và Domea cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các tuyến thương mại nội địa và quốc tế.

1.2. Vai trò của cảng thị trong phát triển kinh tế

Cảng thị Đàng Ngoài không chỉ là nơi giao thương hàng hóa mà còn là trung tâm văn hóa, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế đa dạng. Sự phát triển của cảng thị đã thúc đẩy nền kinh tế Đàng Ngoài, tạo ra nhiều cơ hội cho thương nhân và người dân địa phương. Các mặt hàng như tơ lụa, gốm sứ và gia vị đã được xuất khẩu qua các cảng này, góp phần nâng cao giá trị kinh tế của khu vực.

II. Thách thức trong việc phát triển hệ thống cảng thị Đàng Ngoài

Mặc dù hệ thống cảng thị Đàng Ngoài phát triển mạnh mẽ, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Các yếu tố như thiên tai, chiến tranh và sự cạnh tranh từ các cảng khác đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của hệ thống này. Đặc biệt, sự xâm nhập của các thương nhân nước ngoài đã tạo ra áp lực lớn lên các cảng thị nội địa.

2.1. Thiên tai và ảnh hưởng đến hoạt động cảng

Thiên tai như lũ lụt và bão đã gây ra nhiều thiệt hại cho các cảng thị. Những sự kiện này không chỉ làm gián đoạn hoạt động thương mại mà còn ảnh hưởng đến đời sống của người dân địa phương. Việc khắc phục hậu quả thiên tai là một thách thức lớn đối với sự phát triển của hệ thống cảng.

2.2. Cạnh tranh từ các cảng khác

Sự xuất hiện của các cảng mới và sự phát triển của các tuyến đường thương mại khác đã tạo ra sự cạnh tranh gay gắt. Các cảng thị Đàng Ngoài cần phải cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ để thu hút thương nhân và hàng hóa, nhằm duy trì vị thế trong hệ thống thương mại khu vực.

III. Phương pháp nghiên cứu hệ thống cảng thị Đàng Ngoài

Nghiên cứu hệ thống cảng thị Đàng Ngoài đòi hỏi một phương pháp tiếp cận đa chiều, kết hợp giữa lịch sử, địa lý và kinh tế. Việc phân tích các tài liệu lịch sử, bản đồ cổ và các nguồn tư liệu từ nước ngoài là rất cần thiết để hiểu rõ hơn về vai trò và chức năng của từng cảng thị.

3.1. Phân tích tài liệu lịch sử

Các tài liệu lịch sử từ các nhà nghiên cứu nước ngoài và trong nước cung cấp cái nhìn sâu sắc về hoạt động thương mại và vai trò của các cảng thị. Việc phân tích các tài liệu này giúp xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống cảng.

3.2. Khảo sát thực địa và thu thập dữ liệu

Khảo sát thực địa tại các cảng thị như Thăng Long, Phố Hiến và Domea giúp thu thập dữ liệu thực tế về tình hình hiện tại và các dấu tích lịch sử. Dữ liệu này sẽ hỗ trợ cho việc phân tích và đánh giá sự phát triển của hệ thống cảng trong bối cảnh lịch sử.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu hệ thống cảng thị

Nghiên cứu hệ thống cảng thị Đàng Ngoài không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có thể áp dụng vào việc phát triển kinh tế hiện đại. Các bài học từ quá khứ có thể giúp các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng và phát triển các cảng biển hiện nay.

4.1. Bài học từ sự phát triển cảng thị

Các cảng thị Đàng Ngoài đã cho thấy tầm quan trọng của việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và dịch vụ. Việc cải thiện các điều kiện giao thông và logistics là cần thiết để thu hút thương nhân và hàng hóa, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế.

4.2. Tính bền vững trong phát triển cảng

Bài học về tính bền vững từ hệ thống cảng thị Đàng Ngoài có thể được áp dụng vào việc phát triển các cảng hiện đại. Cần chú trọng đến việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong các hoạt động thương mại.

V. Kết luận và tương lai của hệ thống cảng thị Đàng Ngoài

Hệ thống cảng thị Đàng Ngoài trong thế kỷ XVII-XVIII đã để lại nhiều bài học quý giá cho sự phát triển kinh tế và thương mại hiện nay. Việc nghiên cứu và bảo tồn các giá trị lịch sử của hệ thống này là cần thiết để phát huy tiềm năng của khu vực trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản

Bảo tồn các di sản văn hóa và lịch sử liên quan đến hệ thống cảng thị Đàng Ngoài là rất quan trọng. Điều này không chỉ giúp gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn thu hút du lịch và đầu tư.

5.2. Triển vọng phát triển hệ thống cảng trong tương lai

Triển vọng phát triển hệ thống cảng thị Đàng Ngoài trong tương lai phụ thuộc vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ từ chính phủ. Cần có những chiến lược dài hạn để phát triển bền vững và nâng cao vị thế của khu vực trong thương mại quốc tế.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề nghiên cứu ở cả chiều ngang (đồng đại) và chiều dọc (lịch đại) để có sự đánh giá một cách toàn diện nhất. Ví dụ, khi đánh giá về vị trí của Vịnh Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII, không thể không quay ngược lại thời Bắc thuộc và thời Lý - Trần để thấy được một Giao Chỉ Dương sôi động của Hoa thương và Việt thương; khi nói về hoạt động xuất khẩu gốm sứ Đàng Ngoài thế kỷ XVII không thể không nhắc đến giai đoạn hoàng kim của gốm Chu Đậu thế kỷ XIV-XV; Thứ hai, phương pháp so sánh đang là một phương pháp nghiên cứu thịnh hành để đạt đến một kết quả nghiên cứu khách quan và toàn diện. Luận án cũng sẽ áp dụng phương pháp này nhằm làm nổi bật những đặc tính của đối tượng nghiên cứu. Ví dụ, khi trình bày về hệ thống cảng thị Thăng Long - Phố Hiến - Domea dọc Sông Đàng Ngoài, luận án cũng hướng tới so sánh với trường hợp Quảng Châu - Macao ở hạ lưu sông Châu (Pearl River), duyên hải đông nam Trung Quốc, trường hợp Hội An và hệ thống sông Thu Bồn - Cổ Cò, và so sánh với mô hình khái quát sự trao đổi giữa trung tâm (miền núi và đồng bằng) và ngoại vi (biển và duyên hải) thông qua hệ thống sông của các quốc gia ven biển Đông Nam á đã được Bennet Bronson vạch ra từ năm 1977 [236; 290; 291].

Cũng vì sử dụng phương pháp so sánh mà một phương pháp nghiên cứu khác cũng được luận án đặc biệt coi trọng. Đó là phương pháp thứ ba, phương pháp khu vực học. Nghiên cứu về hệ thống cảng thị Sông Đàng Ngoài hay ngoại thương Bắc Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, tức là nghiên cứu các mối liên hệ thương mại của Đàng Ngoài với hải ngoại, với các quốc gia láng giềng và trong khu vực. Có nhiều khái niệm về “khu vực” (area) và “khu vực học” (area studies), đó có thể là một khu vực rộng lớn với nhiều quốc gia liền kề, gắn kết với nhau, nhưng cũng có thể chỉ là một không gian nhỏ hẹp của một làng, một châu thổ.

ở đây, chúng tôi dùng khái niệm khu vực để chỉ khu vực Đông á8 và đặt hệ thống cảng thị Sông Đàng Ngoài và sự phát triển ngoại thương Bắc Đại Việt không nằm ngoài nhịp độ chung mạng lưới thương mại khu vực đó. Thứ tư, phương pháp tập hợp và phân tích tư liệu vì đây là một vấn đề nghiên cứu mang tính tổng hợp, khái quát, và sử dụng đa dạng các nguồn sử liệu từ chính sử, tư liệu chữ Hán, tư liệu lưu trữ phương Tây (chủ yếu là tiếng Anh), đến 8 Đông á nằm ở phía đông châu á và phía bắc của miền Tây châu Đại Dương, bao gồm Đông Bắc á và Đông Nam á. Đông Bắc á bao gồm Trung Quốc, Bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản, miền Đông nước Nga, và Mông Cổ. Tuy nhiên, phạm vi của Đề tài chỉ đặt Đàng Ngoài và ngoại thương Đàng Ngoài trong khu vực Đông á gồm Đông Nam á và Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, vốn là những quốc gia, quốc đảo liên quan mật thiết đến sự thăng trầm của thương mại Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII.

24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước; Thứ năm là phương pháp thống kê, vì luận án tập trung vào vấn đề ngoại thương, do đó việc thống kê định lượng hàng hoá, tiền tệ, giá cả, tàu thuyền… là rất cần thiết; Phương pháp lôgíc, phương pháp thứ sáu, được sử dụng để trình bày, phân tích khi viết luận án, để vấn đề nghiên cứu được sáng rõ, chặt chẽ, liền mạch và hợp lý. Nghiên cứu về lịch sử Việt Nam cho đến gần đây xuất hiện nhiều cách tiếp cận mới. Từ năm 2006, trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, Đại học Quốc gia Singapore, ba nhà Việt Nam học nổi tiếng là John K. Whitmore, Li Tana và Charles Wheeler [242, 281, 290-292, 294] đã đưa ra một cái nhìn mới về lịch sử và sử liệu học Việt Nam với cái tên “Một góc nhìn từ Biển” (A View from the Sea).

Sử dụng các nguồn tư liệu hải ngoại, đặc biệt là việc “đặt mình giữa biển khơi để nhìn nhận các khu vực cận duyên”, “nhìn từ biển và bờ, chứ không phải từ bờ ra biển” [226, tr. 30], các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được vị trí quan trọng của Việt Nam trong hệ thống hải thương Biển Đông từ thời cổ và trong suốt thời trung đại, trong đó, Vịnh Bắc Bộ và các vùng duyên hải nổi lên như những vùng kinh tế năng động, đóng vai trò nhất định trong sự hình thành các thế chế chính trị sớm của Đại Việt [294, tr. Vịnh Bắc Bộ, thậm chí được Li Tana và các “sử gia chuyên về hải sử” coi như một “Tiểu Địa Trung Hải” (A Mini Mediterranean Sea), bao gồm phức hợp biển và duyên hải Quảng Tây (Trung Quốc), đảo Hải Nam và Bắc Bộ Việt Nam, nơi có những tương đồng về địa lý tự nhiên, về nhân chủng học tộc người, về các mối giao thoa văn hóa, giao lưu kinh tế thương mại. Việt Nam, vì vậy, không còn chỉ được nhìn nhận như là một quốc gia Đông Nam á lục địa thuần túy, với các thể chế chính trị nông nghiệp đồng bằng nội địa.

Vương quốc Đại Việt thời trung đại, do đó, cũng có những biến đổi trùng khớp với nhịp độ phát triển của khu vực và quốc tế, hòa điệu cùng hải thương Đông á, Đông Nam á theo gió mùa và luồng hải lưu từ ngoài viễn dương [281, tr. Chịu ảnh hưởng của cách tiếp cận này, giới khoa học trong nước cũng đã và đang có cái nhìn mới về biển đảo Việt Nam [93]. Bản thân chúng tôi, một cách vô thức, cũng đã sử dụng cách tiếp cận này khi đặt mình ở giữa biển khơi, sử dụng các hải trình của người Bồ Đào Nha, Hà Lan thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII để tìm ra những cửa ngõ chính yếu để từ Biển Đông đi vào lục địa Đàng Ngoài giai đoạn này. Bên cạnh cách tiếp cận từ Biển và Duyên hải, một số nhà nghiên cứu lại đặt mình ở “vùng cao”, chủ trương đưa ra một “Góc nhìn từ Núi” trong sử liệu học và nghiên cứu dân tộc về Việt Nam [142, tr.

Chia sẻ góc nhìn của Oscar Salemink, trong một nghiên cứu khác cũng của học giả nước ngoài, nhưng ngược 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời gian trở về hai thế kỷ XVII-XVIII, Andrew Hardy với ““Nguồn” trong Kinh tế Hàng hóa ở Đàng Trong” cũng đặt mình ở “miền Thượng” (vùng trung du hoặc chân núi) để xem xét các mô hình kinh tế Đàng Trong thời các chúa Nguyễn (mà tác giả gọi là “Mô hình Kinh tế lai tạp”) [46, tr.9 Có thể nói, các cách tiếp cận này đều có những ưu việt nhất định và mang lại những nhận thức mới mẻ về các hiện tượng kinh tế - xã hội tưởng chừng như quá quen thuộc hay khá cũ trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, với cách tiếp cận từ Biển và Duyên hải, ngoài việc phải cẩn trọng trong việc tách biệt các khái niệm “người Việt”, “người Việt Nam”10 hay “Việt Nam/Đại Việt” như Hoàng Anh Tuấn [286, tr. 54-64] đã chỉ ra sự lẫn lộn trong nghiên cứu của Wang Gungu [289], chúng tôi cho rằng Cái nhìn từ Biển không thể lý giải được hiện tượng các cảng thị trên Sông Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII, về sự định vị trường tồn của Thăng Long mà không phải “chạy ra duyên hải” như các thương cảng Đông Nam á khác; về sự yếm thế của Domea; cũng như sự hưng thịnh hay quá trình lụi tàn của hệ thống này. Theo chúng tôi, sẽ là khả thi, hợp lý và giải quyết được vấn đề thấu triệt hơn khi áp dụng cách tiếp cận sinh thái học (Ecological View) vào nghiên cứu hệ thống cảng thị trên Sông Đàng Ngoài.

ở đây, chúng tôi đi sâu vào một khía cạnh của sinh thái học, đó là căn cứ vào đặc điểm địa lý tự nhiên (Geographical Features), hay nói như GS Trần Quốc Vượng là áp dụng cái nhìn “địa - văn hóa” trong nghiên cứu các vấn đề lịch sử, văn hóa, kinh tế của Việt Nam. Và như vậy, chúng ta vẫn đứng ở đồng bằng (mà không phải là từ biển hay ở tận trung du), nhưng không quên nhìn lên núi và đặc biệt vẫn hướng ra hải ngoại thông qua phức hợp các thủy lộ. Sự thịnh hành của từng tuyến đường thủy nối Đại La - Thăng Long với Biển Đông qua từng thời kỳ phụ thuộc nhiều vào những biến đổi địa chất ở đồng bằng, vào quá trình thành tạo của châu thổ Bắc Bộ, của sông Hồng và hệ thống các chi lưu của nó, đúng như GS Lê Bá Thảo đã chỉ ra [159]. Trong giới sử học Việt Nam, như cố Giáo sư Trần Quốc Vượng đã chủ trương, mọi hiện tượng văn hóa, kinh tế - xã hội đều phải được giải thích từ căn nguyên địa lý tự nhiên, mà Giáo sư thường kêu gọi cho sự 9 Các tư liệu cụ thể về các sản phẩm thủ công nghiệp, các lâm-thổ-thủy-hải sản hàng hóa Đàng Trong thế kỷ XVI-XVIII, xem Nguyễn Văn Kim (2011), “Các nguồn hàng và thương phẩm của Đàng Trong”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (420), tr.

10 Về các khái niệm người Việt, Bách Việt, Việt tộc, người Việt Nam, xem Đào Duy Anh (2010), Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Thơ (2011), “Nhận diện Văn hóa Lạc Việt”, Di sản Lịch sử và Những Hướng Tiếp cận Mới, Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr. 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gắn kết, liên ngành và đa ngành Sử và Địa, cho một “Triết lý Môi trường”, một “Cái nhìn sinh thái nhân văn” [217; 220].

Năm 1997, TS Đỗ Đức Hùng đã xuất bản cuốn sách Vấn đề Trị thủy ở Đồng bằng Bắc Bộ dưới thời Nguyễn (thế kỷ XIX) [58]. ở công trình này, tác giả đã tiếp cận vấn đề trị thủy ở châu thổ sông Hồng thế kỷ XIX dưới góc độ sinh thái học. Theo đó, tác giả đã vận dụng những tri thức địa lý, địa chất và thủy văn để giải thích căn nguyên vì sao vấn đề trị thủy lại được đặt ra gay gắt vào thời Nguyễn thế kỷ XIX; phân tích bản chất của quá trình thành tạo đồng bằng châu thổ sông Hồng, những biến đổi của sông ngòi, thổ nhưỡng Bắc Bộ cho đến cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX do tác động của hệ thống đê mà các triều đại quân chủ Việt Nam đã dày công vun đắp gần chục thế kỷ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ