CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN DE LÝ LUẬNVẺ HẬU QUA PHAP LÝ CỦALY HON 1. Khai niệm ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn 111.Khái niệm ly hôn Theo quan điển của chủ ngiĩa Méc-Lénin, hôn nhân là cơ sé cia gia định- tế bao zã hôi. Trong zã hội có giai cấp, các quan hệ HN&GĐ được điền chỉnh bang pháp luật của nha nước, thể hiệný chi của nha nước. Bởi lễ, trong.
các quan hệ HN&GB, bên cạnh lợi ich riêng tư của vơ, chẳng và các thành viên của ga đình, thì còn luôn ẩn chứa trong đó lợi ích của zã hội, của nhả nước, thể hiện qua các chức năng cơ ban cia gia đình đổi với nha nước và zã hội Trong nhiễu bản hiển pháp của các nước và của nha nước ta đều ghi nhân. gia đình là nên ting của 2 hội, ga đình tốt thì xã hội mới ốt, xã hội tốt thì gia định cảng tốt, nba nước thực hiện bao hộ các quan hệ HN&GĐ; hôn. nhân theo nguyên tắc tử nguyện, tiên bộ, một vợ mét chẳng, vợ chẳng binh. đẳng Đối với hé thông pháp luật của các nước XHCN, nhà nước thực hiến.
tôn trong và bảo đâm quyển tư do hôn nhân, trong đó có quyển từ do ly hôn. của vợ chồng Với quan điểm Nha nước không thé bằng pháp luật bắt buộc nam nữ phải kết hôn với nhau, phải chung sống với nhau thì cũng không thé bằng phép hột bắt buộc vợ chồng phải duy tì quan hệ hôn nhân khi giữa vo chẳng đã có miu thuẫn sâu sắc không mong muốn va cũng không thể tiếp tục cuộc sông chung giữa vơ ching được nữa. Quyén từ do ly hôn của vơ, chẳng 4 quyển nhân thân, gắn liên với cá nhân vợ, chồng được hiến pháp và pháp uật HN&GD bảo hồ Quan điểm của học thuyết Mác - Lénin vẻ ly hôn cho rằng Ly hôn là mét mit của quan hệ hôn nhân, là mất trái, mat bắt bình thường nhưng lä mat không thể thiếu của quan hệ hôn nhân, khi hôn nhân tôn tai chỉ là hình thức, in phípnm 1959 Eu 29; Hin pháp năm 1980, 1992 Gu 6h; Là nótdẫn của ậthônnhậnvà gà đồNnấm 1986, 2000, Bu 35 Hn plup aim 2011, 9 tinh cảm yêu thương gắn bó giữa vợ chồng đã thực sư tan vỡ. Các Mac đã chỉ rõ: Ly hôn chỉ là việc xác nhân mét sự kiện, rằng đó la cuộc hôn nhân đã chết, sự tổn tại của nó chỉ là bé ngoài và gã dối.
Đương nhiên, Không phải su tủy, tiên của nha lập pháp, cũng không phải sự tủy tiên của mỗi cả nhân, ma chỉ ban chất của sự kiến mới quyết định được rằng cuôc hôn nhân nảy là đã chết hay chưa chết. Bởi vì, việc xác định sự Jaén chết của quan hé hôn nhân la ty quan Nha lập pháp chỉ có thé zác định những điều kiện trong đó hôn nhân. được pháp tan vỡ; nghĩa là vẻ thực chat, hôn nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi, việc Tòa án cho phép phá bé hôn nhân chẳng qua chỉ la việc ghi biển bản công nhân sự tan rã bên trong của nó ma thôi” Theo quan điểm này, hệ thông pháp luật về HN&GĐ của Nhà nước ta từ năm 1959 đến nay đã ghỉ nhên và bảo đảm quyển tự do ly hôn của vợ chồng, quy định nội dung căn cứ ly hôn dựa vào bản chat của hôn nhân tan võ, không dựa vào lỗi của vợ, chồng Khi Tòa án gãi quyết ly hôn va hậu quả pháp lý của ly hôn phải bao dim các nguyên tắc chung bao vệ quyển và lợi ích hợp pháp của vợ chẳng trong dé quan tâm chính đáng đền quyên và lợi ích hợp pháp của người vợ và các con chưa thánh niên, dù đã ly hôn thì vợ chông với tư cách lả cha mẹ van có moi quyền va nghĩa vụ đổi với các con, khi ly hôn, nêu một bên vợ, chẳng có khó khăn túng thiểu mà có lý do chính. đáng thì có quyển yên câu người chẳng, vợ bên kia phải thực hiện ngiĩa vụ cấp dưỡng cho mình.
Ly hôn l một hiện tương 24 hội được điều chỉnh bằng pháp luật của nha nước. Ở các quốc gia, do khác nhau vẻtỉ _hế chính trị, phong tục, tập quán, văn hóa, sự phát triển của các điều kiến vẻ kinh tế - zã hội ma vẫn dé ly hôn được quy định trong hé thống pháp luật của mỗi quốc ga là khác nhau. Một số nước cấm ly hôn nhưng da số pháp luật nhiễu nước công nhân quyên. `tác Mic ~ Angghen,Toin tp, ip 1 Hi Nột 178, 110121 10 tự do ly hôn cia vợ ching Đôi với những nước cấm ly hôn, hầu hết do sự tác đông của tôn giáo, theo đó, hôn nhân được xác lập và được duy tì mang tính.
chất "vĩnh viễn", không thé chia cất. Đối với pháp luật của các nước cảm ly hôn, thường chỉ quy định cho pháp hai vợ chồng được sông ly thân khi có các bằng chứng luật đính ma vợ chồng không thể duy tì cuộc sông chưng Ly thần một thời han nhất định, nêu quan hệ mâu thuẫn giữa vợ chong được cải thiên, Tòa án hủy án ly thân theo yêu cẩu của vợ ching để vợ chồng trở vẻ cuộc sống chung như ban đâu hôn nhân được sác lập. Quan niệm này được chấp nhân trong rất nhiêu hệ thống pháp luật và được coi lä một trong những quan niệm nén tang của luật giáo hội vé gia định. Không ít các nước ở Châu Âu chỉ mới từ bỏ quan niêm này cách đây không lâu ở Ý từ năm 1975, ở Tây Ban Nha từ năm 1982.
Trai ngược với các nước có quy định cắm ly hôn, các nước có quan điểm tự do ly hôn cho rằng hôn nhân không t được duy trì, một khi vơ, chồng hoặc cả hai không còn muôn chung sông với nhau Mỗi người phải có quyển tự do cham đút quan hệ hôn nhãn, như đã có quyển tự do zác lập quan hệ đó. Quyên tự do ly hôn được thiết ip trong luật La Mã thời kỹ cuối Trong luật đương đại của nhiễu nước theo hệ thông Common law hoặc của các nước Bắc Âu, ly hôn theo ý chí đơn phương được thừa nhân. dưới hình thức “ly hôn do vợ chẳng không hop nhau", hoặc do một bên vợ chẳng có hảnh vi ngoại tình, vi pham nghĩa vụ chung thủy giữa vo chẳng Khi yêu câu ly hôn, vợ, chẳng (nguyên don) chỉ cẩn chứng minh rằng giữa vợ và chẳng có sự khác biết vẻ tinh tinh hoặc bên người chẳng, vợ kia có hành vi ngoại tình và những lý do, nguyên nhân này dẫn đền những xung đột gay git, sâu sắc giữa hai vợ chồng khiến cho cuộc sống chung không thé chịu đựng, được thì Tòa án phi gãi quyết cho vợ chồng ly hôn Pháp luật của một số quốc ga lai quy định không cầm vợ chủng ly hôn và cũng không cho vo, chẳng được tự do ly hôn mà việc xin ly hôn của vợ ching phải được đất dưới sự kiểm soát bằng pháp luật của Nhà nước: ly " hôn van nằm trong nội dung quyển dân sự của cả nhân, nhưng yêu câu ly hôn chỉ được Tòa án chấp nhận trong những trường hợp pháp hit có quy định vẻ các trường hop, lý do ma vo, chẳng được thực hiện quyển ly hôn của mình. ‘Yéu cầu ly hôn có thể do vợ hoặc chẳng hoặc cả bai vợ chẳng thực hiện.
"Thẩm phán, về phn mảnh, có quyên quyết định cho phép hay không cho phép vợ chẳng được ly hôn, trên cơ sở đánh giá mức độ chỉnh đáng, hợp lý, hợp tinh của yêu cẩu ly hôn theo những căn cứ luật định và cân nhắc đến quyền. lợi của vợ chẳng và các con 'Nhữ vay, ly hôn Jd một hiện tượng xã hôi được điều chỉnh bằng pháp, luật của nhả nước. Pháp luật ở các quốc gia khác nhau thì có quan điểm và quy định vé ly hôn, gai quyết ly hôn khác nhau. Tuy nhiên, xét vẻ bản chất pháp lý thì khái niệm vẻ ly hôn là như nhau.
Ly hôn thực chất lã việc chim đứt quan hệ vợ chẳng trước pháp luật theo yêu câu của một bên vơ, chẳng (một bên yêu cẩu ly hôn) hay của cả hai vợ chẳng (thuận tỉnh ly hôn), được Téa án nhên dên công nhân bằng bản án xử cho ly hôn hoặc quyết định thuận tinh ly hôn. Trước đây, nhà làm Luật HN&GĐ năm 1959 ở nước ta đã gãi thích “ly hôn là việc vợ chẳng bỏ nhau trước pháp ludt”. Cách gi thích bằng, ngôn ngữ “bình dan” nay rat dé hiểu, thuận lợi trong công tác tuyên truyền, phổ biển, gáo dục pháp hết. Hiện nay, theo Luật HNđ&GĐ năm 2014, thuật ngữ ly hôn được hiểu là “việc chấm đứt quan hệ vợ chông theo bản án, quyét inh có hiệu ác pháp luật cia Tòa ân “® Mặc dù có các cách hiéu và sử dụng thuật ngữ khác nhau, nhưng vé bản chất thì giỗng nhau, ly hôn là việc chim đứt quan hé vợ chẳng trước pháp luật.
Sau khi phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hai bên được châm dứt quan hệ hôn nhân mả cụ thé là chấm dứt các quyển va nghĩa vụ vẻ nhên thên va tài sản giữa vợ ching Trường hợp Tòa án gãi quyết chấp nhân vẫn để cấp dưỡng giữa vợ chẳng sau khi ly hôn có thể được coi là ngoại lê, với thời hạn nhất định Bởi lễ, vợ chồng “ain 1 bike 3 Lait hãnnhân vì gh đồn năm 20M. nD đã ly hôn rồi nhưng có thé vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cắp dưỡng cho nhau theo quyết định của Tòa an. Khái niệm hậu quả pháp lý củaly hôn 'Nhữ trên đã phân tích, khi vợ chẳng có yêu cầu ly hôn, sau khi Tòa án thu lý gi quyết việc ly hôn, néu hoa gi đoàn thụ không thành và có đủ căn cử theo luật định thi Tòa án sẽ gi quyết cho vợ chẳng được ly hôn. Đông thời Tòa án cũng gãi quyết những hệ quả pháp lý từ việc ly hôn của vợ chẳng về các vấn để chia tai sản chung của vợ chồng (nếu vợ chẳng không thöa thuận được với nhau và có yêu cấu Toa án gi quyết), van dé cấp dưỡng gữa vợ ching và quan hé giữa cha mẹ và con chung chưa thánh niên hoặc con đã thành niên mà mắt năng lực bảnh vi dân sự, không có khả năng lao đồng và không có tải sẵn để tự nuôi mình.
at vé thực tế va pháp lý, khi phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp uật, quan hệ vợ chồng được chấm dút. Hai bên không còn cùng chung sống với nhau va cùng có trách nhiêm, nghĩa vụ đối với nhau như trong thời kỳ hôn nhân (khoảng thời gan tổn tại quan hệ vợ chẳng trước pháp luật).