Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH 1. Cảm quan hậu hiện đại 1. Cảm quan hậu hiện đại trong văn học 1. Điều kiện ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism) là một trào lưu văn hóa rộng lớn, ra đời khoảng những năm 70 của thế kỷ XX, bao gồm nhiều lĩnh vực triết học, văn hóa, giáo dục, khoa học, chính trị, xã hội, nghệ thuật… Nó xuất phát từ nước Pháp, sau đó lan sang các nước như Italia, Đức, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Thụy Sĩ, Hà Lan, Anh, Nga, Mỹ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và trong luận văn này chúng tôi góp tiếng nói, góp dẫn chứng rằng nó đã có ở Việt Nam, dù chưa đầy đủ một chủ nghĩa trọn vẹn tạo thành một trào lưu hoàn chỉnh nhưng là lối tư duy trong xã hội hậu hiện đại và thành quả mang những dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại, hay nói cách khác là cảm quan hậu hiện đại.
Sau đây chúng tôi điểm qua những điều kiện hình thành chủ nghĩa hậu hiện đại. Trước hết là điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, kinh tế được khôi phục và đạt mức tăng trưởng đáng kể, mạnh mẽ. Sự tăng trưởng ấy đã làm xuất hiện lối tiêu dùng đại chúng, các trung tâm mua sắm khổng lồ, các tòa nhà chọc trời, các đại lộ thênh thang,.
tất cả góp phần thay đổi sinh hoạt xã hội. Song song đó là sự ra đời của phương tiện truyền thông công nghệ cao như máy tính, truyền hình, phim ảnh, tri thức mới. Kéo theo đó là sự ra đời của nhạc rock and roll, nhạc pop, trào lưu hippies. Đang ở ngưỡng phát triển đỉnh điểm như vậy, bất ngờ những năm 70 mức độ tăng trưởng chậm lại, lạm phát cao, có dấu hiệu của khủng hoảng kinh tế.
Con người đang hình thành lối sống dư giả, đầy đủ vật chất, với thần thái lạc quan, tự tin. Sự suy thoái kia đã khiến con người đánh mất niềm tin, lo âu, sợ hãi, thái độ bi quan, đổ vỡ bao trùm lên toàn xã hội. Cũng từ đó tạo nên cách nhìn nhận mới về cuộc sống, xã hội, con người. Đó chính là bối cảnh ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại.
15 Bên cạnh đó là điều kiện khoa học. Mảng khoa học giai đoạn này có nhiều phát minh mới. Các lý thuyết mới này đã tác động một cách gián tiếp đến sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại. Chẳng hạn như lý thuyết hỗn độn (1960) của Edward Lorentz, lý thuyết này cho rằng trong sự vận hành của hệ động học những khác biệt không đáng kể ở trạng thái ban đầu có thể dẫn tới những khác biệt to lớn về sau.
Đối với chủ nghĩa hậu hiện đại, lý thuyết này đã đưa yếu tố bất định vào sự vận hành của thế giới vật chất, là một trong những cơ sở chống lại các phán quyết được xem như là chân lý kiên cố, bất biến của khoa học hiện đại. Hay là lý thuyết điều khiển học (1946) của Norbert Wiener. Điều khiển học nghiên cứu cơ chế vận hành, xử lý thông tin của bộ não người, động vật, máy móc, các tổ chức và mô hình chúng dưới dạng ký hiệu toán học. Từ đó thiết kế ra máy tính mô phỏng cơ chế vận hành, xử lý thông tin của não bộ, đó là thành tựu lớn lao về mặt ứng dụng của điều khiển học.
Chiếc máy tính ra đời khiến cho cách cảm nhận của con người về thế giới hiện thực bên ngoài, ranh giới giữa thực và ảo trở nên mập mờ, việc đắm mình trên không gian điều khiển đã tạo nên hiện tượng cảm nhận thực tế ảo. Nhìn chung việc sử dụng thành tựu của điều khiển học đã tác động trực tiếp đến sự hình thành của văn hóa hậu hiện đại. Ngoài ra, có thể kể tới những tiền đề lý luận của chủ nghĩa cấu trúc, triết học Marx, Phân tâm học Freud và triết học ngôn ngữ Wittgenstein. Dựa trên tất cả các căn cứ từ thực tiễn đến lý luận, các nhà tư tưởng J.Foucault là những người trực tiếp sáng lập nên chủ nghĩa hậu hiện đại.
Lyotard đã hoài nghi một vài nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Marx. Ông cho rằng chủ nghĩa Marx vốn là một tự sự đặc thù về lịch sử nhân loại, tự phong cho mình tính đúng đắn tuyệt đối. Còn ông, ông cổ xúy cho các tiểu tự sự. Lyotard xem các tiểu tự sự như một phương pháp sáng tạo trong việc phổ biến tri thức.
Ở một phương diện khác, J.Derrida đưa ra cách hiểu mới về ngôn ngữ. Ông cho rằng ý nghĩa ngôn ngữ không có tính bất biến, cố định như quan điểm của giải cấu trúc, chúng luôn trong tiến trình biến đổi, trượt nghĩa.Derrida đã tiến đến lý thuyết giải cấu trúc. Vậy là từ điểm xuất phát khác nhau nhưng cả J. Lyotard đều gặp nhau trong tinh thần phản kháng ảnh hưởng bao trùm của ý chí quyền lực, khai mở 16 lối đi mới cho sự sáng tạo.
Người thứ ba chính là M. Ông là một trong nhiều nhà hậu cấu trúc, bên cạnh J. Họ phê phán chủ nghĩa cấu trúc với những nhìn nhận mang tính hình thức, bất biến và siêu hình về ngôn ngữ. Bằng những đặt nền móng như vậy chủ nghĩa hậu hiện đại đã ra đời.
Biểu hiện của cảm quan hậu hiện đại trong văn học Chủ nghĩa hậu hiện đại không thể gọi tắt là hậu hiện đại cho ngắn gọn được. Đó là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau. Phương Lựu đã từng phân biệt hai thuật ngữ này như sau: “Hậu hiện đại là một khái niệm lịch sử xã hội, có ý kiến cho đó là xã hội hậu công nghiệp hoặc xã hội thông tin xuất hiện sau thế chiến thứ II, có người cho đó là một giai đoạn mới của chủ nghĩa tư bản phát triển” (Phương Lựu, 2012). Thời kì hậu hiện đại sẽ có những đặc trưng riêng tạo thành tính hậu hiện đại.
Và theo Phương Lựu những đặc trưng ấy kết tinh tạo thành một trào lưu văn hóa, ấy là chủ nghĩa hậu hiện đại. Cả hậu hiện đại, tính hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại là “đồng đại” nhưng không đồng thời xuất hiện, nó so le nhau và cái này là điều kiện của cái kia. “Chỉ khi nào xã hội hậu hiện đại đã hình thành tương đối hoàn chỉnh, thì đặc trưng của nó mới bộc lộ rõ nét và tính hậu hiện đại mới được khái quát toàn diện. Và với tư cách là kết tinh của nó trên bình diện văn hóa, chủ nghĩa hậu hiện đại mới dần dần hình thành cả một trào lưu mạnh mẽ”(Nguyễn Văn Long, 2012).
Cảm quan hậu hiện đại là một trong các thuật ngữ của chủ nghĩa hậu hiện đại. Cảm quan hậu hiện đại (tiếng anh: postmodern sensibility; tiếng Pháp: sensibilité postmoderne) “là một kiểu cảm nhận thế giới đặc biệt, là sự phản ánh tâm thức (mentality) thời đại hậu hiện đại” (Đào Tuấn Ảnh, 2003). Phùng Gia Thế, nhà nghiên cứu người Việt cũng cho rằng: nổi bật nhất của “cái hậu hiện đại” là cảm quan hậu hiện đại. Vì theo ông, một xã hội lịch sử cụ thể tất yếu sẽ nảy sinh những kiểu tâm trạng tương ứng.
Chúng tôi cho rằng lời nhận định đó là hợp lí. Ở một giai đoạn xã hội sau khi trải qua một biến cố lớn, một sự thay đổi vượt bậc thì tư duy con người sẽ thay đổi rõ rệt sau đó. Chẳng hạn, hiện tại chúng ta đang cùng “vào sinh ra tử” với đại dịch Covid 19 đã kéo dài gần 2 năm. Mọi trật tự thế giới phải thay đổi, mọi lĩnh vực phải tìm cách làm khác đi để được tồn tại.
Trên trang https://www.de/ có bài viết “Những suy tư sau này - Suy tư thời hậu Corona”. Bài báo tổng hợp những 17 nhận định của nhiều tên tuổi ở các lĩnh vực khác nhau nhận định về thời đại sau thời Corona. Georgi Gospodinov là một nhà văn Bulgaria đã nhận định: “Các nghi thức của sự cận kề giữa chúng ta sẽ thay đổi ra sao? Chúng ta sẽ đụng chạm nhau, ôm nhau, xích lại gần nhau lần nữa ra sao? Một chặng đường dài đợi chúng ta, từng phân một, giữa các cơ thể của chính chúng ta”. Ở một tờ báo khác “Thế giới hậu Covid - 19 sẽ thay đổi như thế nào?” từ nguồn https://thitruongtaichinhtiente.
Bài viết đưa ra những định hình tương lai, cụ thể như thị trường lao động thế giới sẽ biến động đáng kể, chỉ tính riêng thị trường Mỹ sẽ có khoảng hơn 7,4 triệu người trong ngành giải trí và khách sạn thất nghiệp; Những quy tắc xã hội mới hình thành trong đại dịch COVID-19 như: không bắt tay, không ôm hôn, không khạc nhổ nơi công cộng, đeo khẩu trang, ăn uống chín… sẽ giúp giảm việc lây lan dịch bệnh, giảm gánh nặng cho các bệnh viện, và vì thế, giảm các chi phí chăm sóc sức khỏe trong xã hội; Gia tăng hoạt động trực tuyến, làm việc tại nhà. Trước đây, người ta thường phải ra khỏi nhà để đi làm, đi học, thăm viếng, hay đi xem phim, giải trí; COVID-19 bùng phát, điều này đã đưa phụ huynh và giáo viên vào một kỷ nguyên giáo dục hoàn toàn mới. Giới chuyên gia cho rằng, dịch COVID-19 không phải là nguyên nhân dẫn đến những thay đổi này, mà là tác nhân đẩy nhanh quá trình đó,. Như vậy đó, cảm quan hậu hiện đại cũng tương tự, dù không muốn nó cũng hình thành, bám rễ và lớn dần nếu như xã hội đó vượt qua một biến động lớn.
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, hội nhập mạnh mẽ, chúng tôi đồng ý rất khó để thấy những tiêu chí đầy đủ của chủ nghĩa hậu hiện đại nhưng hơn ba thập kỷ qua những biến đổi to lớn đã đưa con người Việt Nam đến rất gần tâm thức hậu hiện đại, tạo nên cảm quan hậu hiện đại. Phùng Gia Thế một lần nữa cất công định nghĩa cảm quan hậu hiện đại “đó là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại: nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của cái chính thống, của các phát ngôn lớn, sự đảo lộn trong các thang bảng giá trị đời sống, sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hồ nghi tồn tại và tình trạng bất an của con người. Đấy là tinh thần chung nhất” (Phùng Gia Thế, 2008). Qua hai trích dẫn về định nghĩa cảm quan hậu hiện đại của nhà nghiên cứu người Nga với phần dịch của Đào Tuấn Ảnh và nhà nghiên cứu người Việt Phùng 18 Gia Thế.