Cảm quan Hậu Hiện Đại trong Truyện Ngắn Sương Nguyệt Minh - Luận Văn

Phân tích cảm quan hậu hiện đại trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh. Khám phá yếu tố mới lạ, độc đáo trong tác phẩm văn học Việt Nam đương đại.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2022

164
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU

1. KHÁI LƯỢC VỀ CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH

1.1. Cảm quan hậu hiện đại

1.2. Cảm quan hậu hiện đại trong văn học

1.3. Vấn đề cảm quan hậu hiện đại trong văn xuôi hiện đại Việt Nam

1.4. Sáng tác của Sương Nguyệt Minh – những tác phẩm mang cảm quan hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI

1.5. Sáng tác của Sương Nguyệt Minh trong công cuộc đổi mới văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XXI

1.6. Sáng tác của Sương Nguyệt Minh – những tác phẩm mang cảm quan hậu hiện đại

1.7. Hướng tiếp cận cảm quan hậu hiện đại trong truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH NHÌN TỪ NỘI DUNG TỰ SỰ

2.1. Cảm quan hậu hiện đại về hiện thực đời sống

2.2. Một thế giới “đảo lộn” các thang bảng giá trị truyền thống

2.3. Một thế giới chứa đầy cám dỗ của quá trình đô thị hóa nông thôn

2.4. Một thế giới phi lý, kì ảo, ma mị

2.5. Cảm quan hậu hiện đại về con người

2.6. Con người giải lịch sử, giải huyền thoại

2.7. Con người mang vẻ đẹp phồn thực

2.8. Con người bản năng

2.9. Con người “nửa quê nửa phố”

2.10. Con người nơi “bến nước mười ba”

2.11. Tiểu kết chương 2

3. CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI RONG TRUYỆN NGẮN CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ

3.1. Tổ chức cốt truyện và dựng nhân vật theo cảm quan hậu hiện đại

3.2. Cốt truyện phi trung tâm

3.3. Nhân vật bị mờ hóa

3.4. Xây dựng bối cảnh theo cảm quan hậu hiện đại

3.5. Không gian nghệ thuật mang màu sắc hậu hiện đại

3.6. Thời gian nghệ thuật mang màu sắc hậu hiện đại

3.7. Kiến tạo giọng điệu trần thuật theo cảm quan hậu hiện đại

3.8. Giọng điệu giễu nhại

3.9. Giọng điệu vô âm sắc

3.10. Sử dụng liên văn bản và cảm quan hậu hiện đại

3.11. Liên văn bản giữa các sáng tác của chính tác giả Sương Nguyệt Minh

3.12. Liên văn bản giữa sáng tác của Sương Nguyệt Minh với sáng tác của các tác giả khác

3.13. Liên văn bản giữa sáng tác của Sương Nguyệt Minh với các tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật khác

3.14. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giải Mã Hậu Hiện Đại Trong Truyện Ngắn Việt Nam Hiện Đại

Chủ đề hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam là một lĩnh vực phức tạp nhưng đầy hấp dẫn trong phê bình văn học. Không phải là một trào lưu được định hình rõ ràng như ở phương Tây, chủ nghĩa hậu hiện đại du nhập vào Việt Nam và biểu hiện dưới dạng một “cảm quan” đặc thù, phản ánh sự biến đổi sâu sắc của xã hội sau thời kỳ Đổi Mới. Sự sụp đổ của các mô hình giá trị cũ, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hóa đã tạo nên một “sinh quyển mới”, nơi các nhà văn cảm nhận thế giới một cách hỗn độn, đa chiều và đầy hoài nghi. Văn học không còn đóng vai trò minh họa cho các đại tự sự về lịch sử hay dân tộc. Thay vào đó, nó chuyển hướng sang các tiểu tự sự, khai thác những góc khuất của đời sống cá nhân, những thân phận bên lề và sự mong manh của tồn tại. Cảm quan này không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn bộc lộ qua những cách tân nghệ thuật táo bạo, phá vỡ các quy tắc tự sự truyền thống. Các nhà văn tiêu biểu như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, và sau này là Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương đã tiên phong trong việc sử dụng các kỹ thuật viết hậu hiện đại, tạo ra một bước ngoặt cho diện mạo văn học đương đại Việt Nam. Việc phân tích các tác phẩm này qua lăng kính hậu hiện đại giúp nhận diện những thay đổi trong tư duy nghệ thuật, đồng thời khẳng định sự hội nhập của văn học Việt Nam với dòng chảy chung của văn học thế giới. Đây là một quá trình tiếp biến văn hóa năng động, nơi các yếu tố ngoại lai được bản địa hóa để phản ánh tâm thức của con người Việt Nam trong một thời đại đầy biến động.

1.1. Con đường du nhập của chủ nghĩa hậu hiện đại vào Việt Nam

Sự du nhập của chủ nghĩa hậu hiện đại vào Việt Nam không diễn ra như một cuộc cách mạng có tuyên ngôn, mà là một quá trình thẩm thấu tự nhiên qua nhiều kênh. Sau năm 1986, chính sách Đổi Mới đã mở ra một thời kỳ giao lưu văn hóa quốc tế mạnh mẽ. Các tác phẩm triết học và văn học phương Tây được dịch và giới thiệu rộng rãi, mang theo những lý thuyết mới về giải cấu trúc, phân tâm học, và thi pháp học hiện đại. Internet trở thành một điều kiện tiên quyết, phá vỡ rào cản thông tin, giúp các nhà văn và giới nghiên cứu tiếp cận trực tiếp với các trào lưu tư tưởng thế giới. Bối cảnh xã hội “hậu công nghiệp” chưa định hình rõ ở Việt Nam, nhưng tâm thức của con người đã tiệm cận với cảm giác bất an, hoài nghi và sự đổ vỡ niềm tin đặc trưng của thời đại hậu hiện đại. Chính những yếu tố nội sinh này, kết hợp với ảnh hưởng từ bên ngoài, đã tạo nên mảnh đất màu mỡ cho sự nảy sinh của các đặc điểm hậu hiện đại trong sáng tác văn chương.

1.2. Khái niệm cảm quan hậu hiện đại trong văn học đổi mới

Tại Việt Nam, thay vì một chủ nghĩa hậu hiện đại hoàn chỉnh, giới nghiên cứu thường sử dụng thuật ngữ “cảm quan hậu hiện đại”. Theo nhà nghiên cứu Phùng Gia Thế, đây là “một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại”. Cảm quan này bộc lộ qua việc nhà văn nhìn nhận thế giới như một thực tại hỗn độn, phân mảnh, và phi lý. Các thang bảng giá trị truyền thống bị đảo lộn, các phát ngôn lớn (đại tự sự) mất đi tính uy quyền. Con người hiện lên với tâm trạng bơ vơ, lạc loài và vong thân. Trong bối cảnh văn học Đổi Mới, cảm quan này thể hiện qua sự từ chối lối viết sử thi, minh họa. Thay vào đó, các nhà văn tập trung vào con người cá nhân với những bi kịch, ham muốn và bản năng sâu thẳm. Cảm quan hậu hiện đại không chỉ là một kỹ thuật, mà là một nguyên tắc nhìn đời, chấp nhận sự hỗn mang như một trạng thái tồn tại cố hữu của thế giới.

II. Thách Thức Khi Phân Tích Dấu Ấn Hậu Hiện Đại Trong Văn Học

Việc nhận diện và phân tích các dấu ấn hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam đặt ra nhiều thách thức cho công tác phê bình văn học. Thách thức lớn nhất đến từ sự thiếu vắng một hệ thống lý luận hậu hiện đại được xây dựng riêng cho bối cảnh Việt Nam. Các nhà nghiên cứu thường phải vay mượn và áp dụng các khái niệm từ phương Tây, đôi khi tạo ra sự khập khiễng khi soi chiếu vào thực tiễn sáng tác trong nước. Hơn nữa, ranh giới giữa chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại trong văn học Việt Nam khá mờ nhạt. Nhiều tác phẩm thể hiện sự đan xen giữa hai khuynh hướng, gây khó khăn trong việc phân loại và định vị. Một vấn đề khác là sự hoài nghi về tính xác thực của các đại tự sự. Khi nhà văn hậu hiện đại chủ trương phá vỡ các tự sự lớn về lịch sử, dân tộc, cách mạng, tác phẩm của họ có thể bị diễn giải sai lệch là hư vô chủ nghĩa hoặc phủ nhận quá khứ. Điều này đòi hỏi người đọc và nhà phê bình phải có một nhãn quan cởi mở, không bị trói buộc bởi các hệ quy chiếu truyền thống. Thêm vào đó, các kỹ thuật viết hậu hiện đại như phân mảnh, giễu nhại, liên văn bản đòi hỏi một trình độ tiếp nhận cao hơn. Người đọc phải chủ động tham gia vào quá trình kiến tạo ý nghĩa, thay vì thụ động tiếp nhận một câu chuyện có sẵn. Đây là một rào cản không nhỏ đối với đại bộ phận công chúng, vốn quen thuộc với lối tự sự tuyến tính, rõ ràng.

2.1. Sự hoài nghi các đại tự sự và sự sụp đổ giá trị cũ

Một trong những đặc điểm hậu hiện đại cốt lõi là sự hoài nghi đối với các đại tự sự (metanarrative) – những câu chuyện lớn mang tính hợp thức hóa cho các hệ tư tưởng, kiến thức và trật tự xã hội. J.F. Lyotard định nghĩa hậu hiện đại là “sự hoài nghi đối với các đại tự sự”. Trong văn học Việt Nam, điều này biểu hiện qua việc các nhà văn từ chối tái hiện lịch sử theo một diễn ngôn duy nhất, hào hùng. Thay vào đó, họ khám phá những góc khuất, những bi kịch cá nhân bị lịch sử bỏ quên. Các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp như Tướng về hưu, Kiếm sắc, Vàng lửa đã giải thiêng các hình tượng lịch sử, các giá trị vốn được xem là bất biến. Sự sụp đổ của các thang giá trị truyền thống về gia đình, đạo đức, lòng trung thành được mô tả một cách trần trụi. Thế giới trong truyện ngắn hậu hiện đại là một thế giới “đảo lộn”, nơi cái cao cả và cái thấp hèn, cái bi và cái hài tồn tại song song, không phân định rạch ròi.

2.2. Vấn đề phi trung tâm hóa trong cấu trúc truyện ngắn Việt Nam

Kỹ thuật phi trung tâm hóa là một biểu hiện rõ nét của tư duy hậu hiện đại, chống lại cấu trúc quyền lực và trật tự thứ bậc. Trong văn chương, nó thể hiện ở việc phá vỡ cốt truyện tuyến tính, xóa bỏ nhân vật trung tâm, và sử dụng nhiều điểm nhìn trần thuật. Cốt truyện không còn vận hành theo logic nhân quả mà trở nên phân mảnh, đứt gãy. Các sự kiện được lắp ghép một cách ngẫu hứng, mô phỏng dòng chảy hỗn loạn của ý thức và thực tại. Nhân vật không còn là một điển hình cho một tầng lớp hay một hệ tư tưởng, mà bị “mờ hóa”, thiếu thông tin lý lịch, thậm chí không có tên. Họ là những mảnh vỡ của bản thể, tồn tại trong một thế giới không có tâm điểm, không có phương hướng. Sự phi trung tâm hóa này thách thức thói quen đọc truyền thống, buộc người đọc phải từ bỏ việc tìm kiếm một ý nghĩa duy nhất, toàn vẹn và chấp nhận tính đa nghĩa, bất định của văn bản.

III. Top Đặc Điểm Hậu Hiện Đại Qua Nội Dung Tự Sự Truyện Ngắn

Nội dung tự sự trong các truyện ngắn mang cảm quan hậu hiện đại Việt Nam phản ánh một cái nhìn mới mẻ và táo bạo về hiện thực và con người. Thay vì một thế giới có trật tự, lý tưởng, các nhà văn kiến tạo nên một không gian nghệ thuật hỗn độn, phi lý và đầy rẫy những nghịch cảnh. Hiện thực không còn là một thực thể khách quan, có thể nắm bắt trọn vẹn. Nó bị bóp méo, phân mảnh qua lăng kính chủ quan của nhân vật, trở thành một mê cung của những ảo ảnh, giấc mơ và ký ức rời rạc. Các tác giả như Sương Nguyệt Minh trong tập Dị hương đã đưa người đọc vào một thế giới ma mị, nơi ranh giới giữa thực và ảo, người và ma, tỉnh và mơ bị xóa nhòa. Bên cạnh đó, quan niệm về con người cũng có sự thay đổi căn bản. Con người hậu hiện đại không còn là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội, mà là một sinh thể phức tạp, bị chi phối bởi vô thức, bản năng và những ham muốn nguyên thủy. Họ được giải phóng khỏi các chuẩn mực đạo đức, các huyền thoại và lịch sử. Con người hiện lên với vẻ đẹp phồn thực, trần trụi, đôi khi dị biệt và lạc loài. Đây là một nỗ lực khám phá con người ở tầng sâu nhất, con người-bản thể, thay vì con người-chức năng xã hội. Cách tiếp cận này giúp văn học đương đại Việt Nam chạm đến những vấn đề phổ quát của nhân loại trong thế kỷ XXI.

3.1. Tái hiện một hiện thực phân mảnh hỗn độn và đầy phi lý

Hiện thực trong truyện ngắn hậu hiện đại không được tái hiện một cách toàn vẹn. Nó là tập hợp của những mảnh vỡ, những lát cắt rời rạc, mô phỏng trạng thái phân mảnh (fragmentation) của đời sống đương đại. Các nhà văn không có tham vọng vẽ lại bức tranh toàn cảnh xã hội, mà chỉ tập trung vào những khoảnh khắc, những chi tiết vụn vặt. Sự hỗn độn, phi lý trở thành bản chất của thế giới. Trong truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, các sự kiện như đám ma, đám cưới, việc nấu thai nhi cho chó ăn... được đặt cạnh nhau một cách phi logic, tạo ra cảm giác ghê rợn về sự băng hoại của các giá trị. Hiện thực này không nhằm phản ánh xã hội một cách hiện thực chủ nghĩa, mà là một cách “kiến tạo” lại thế giới theo cảm quan hoài nghi, chối bỏ mọi trật tự vốn có. Thế giới đó phi lý, kì ảo và đôi khi ma mị, thách thức nhận thức thông thường của độc giả.

3.2. Chân dung con người bản năng giải huyền thoại và dị biệt

Con người trong văn học hậu hiện đại Việt Nam được “giải lịch sử”, “giải huyền thoại”. Họ không còn mang gánh nặng của quá khứ hay những vai trò xã hội được định sẵn. Thay vào đó, họ được trả về với bản thể nguyên sơ, với những hành động và suy nghĩ xuất phát từ bản năng. Các nhân vật của Sương Nguyệt Minh trong Dị hương mang vẻ đẹp phồn thực, hành động theo dục vọng một cách tự nhiên. Con người không còn được lý tưởng hóa mà được mô tả với tất cả sự phức tạp, đa diện, thậm chí dị biệt. Họ có thể là những con người “nửa quê nửa phố”, lạc lõng trong quá trình đô thị hóa; những con người bị đẩy ra bên lề xã hội. Việc tập trung vào con người bản năng và dị biệt là một cách phản kháng lại quan niệm con người vị tập thể, con người công cụ của giai đoạn văn học trước đó.

IV. Bí Quyết Nhận Diện Kỹ Thuật Viết Hậu Hiện Đại Tinh Tế

Để thể hiện cảm quan về một thế giới phân mảnh và phi lý, các nhà văn Việt Nam đã vận dụng nhiều kỹ thuật viết hậu hiện đại một cách sáng tạo. Đây không chỉ là sự vay mượn hình thức mà là một yêu cầu tự thân của nội dung. Một trong những thủ pháp nổi bật nhất là giễu nhại (parody). Kỹ thuật này được sử dụng để lật đổ tính nghiêm trang của các phong cách, thể loại, hay diễn ngôn quyền lực. Bằng cách nhại lại giọng điệu của văn chính luận, văn sử thi hay truyện cổ tích, các tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh tạo ra một tiếng cười lưỡng trị: vừa hài hước, vừa chua chát, qua đó chất vấn các giá trị cố hữu. Bên cạnh đó, thủ pháp liên văn bản (intertextuality) được khai thác triệt để. Tác phẩm không còn là một thế giới khép kín mà trở thành một không gian đối thoại với vô số văn bản khác, từ văn học kinh điển, ca dao, tục ngữ đến các loại hình nghệ thuật khác như phim ảnh, âm nhạc. Điều này tạo ra một mạng lưới ý nghĩa chằng chịt, đòi hỏi người đọc phải có một vốn văn hóa sâu rộng để giải mã. Cấu trúc tự sự cũng bị phá vỡ. Cốt truyện phi tuyến tính, kết cấu lắp ghép, và sự đa dạng của điểm nhìn trần thuật là những đặc điểm phổ biến. Tất cả những kỹ thuật này góp phần tạo nên một lối viết bất định, đa thanh, phản ánh đúng tinh thần của chủ nghĩa hậu hiện đại.

4.1. Thủ pháp giễu nhại và trò chơi liên văn bản đặc sắc

Giọng điệu giễu nhại là vũ khí sắc bén của văn chương hậu hiện đại. Nó không chỉ gây cười mà còn mang chức năng phê phán, giải thiêng. Các nhà văn nhại lại các văn bản kinh điển, các công thức thể loại quen thuộc để bóc trần tính ước lệ, sáo rỗng của chúng. Sương Nguyệt Minh trong các tác phẩm của mình cũng sử dụng giọng điệu giễu nhại để nhìn vào hiện thực đầy nghịch lý. Song song đó, kỹ thuật liên văn bản biến văn bản thành một cuộc đối thoại bất tận. Một tác phẩm có thể viện dẫn, vay mượn, ám chỉ đến vô số tác phẩm khác, tạo ra một chiều sâu văn hóa và thách thức khả năng diễn giải của người đọc. Ví dụ, trong truyện ngắn của Phạm Thị Hoài hay Nguyễn Bình Phương, người đọc có thể nhận ra sự hiện diện của các triết thuyết phương Tây, các điển cố văn học cổ điển, hay những yếu tố của văn hóa đại chúng. Đây là một trò chơi trí tuệ giữa tác giả và độc giả.

4.2. Nghệ thuật trần thuật và sự kiện cái chết của tác giả

Lý thuyết hậu hiện đại tuyên bố về “cái chết của tác giả” (the death of the author), một khái niệm do Roland Barthes khởi xướng. Điều này có nghĩa là quyền diễn giải văn bản không còn thuộc về tác giả mà được trao hoàn toàn cho người đọc. Ý nghĩa của tác phẩm không cố định, mà được sản sinh trong quá trình đọc. Để thực hành nguyên tắc này, các nhà văn sử dụng các kỹ thuật trần thuật phức tạp. Người kể chuyện thường không đáng tin cậy, điểm nhìn liên tục thay đổi, tạo ra sự bất định. Giọng điệu trần thuật cũng đa dạng, có khi là giọng giễu nhại, có khi lại là giọng “vô âm sắc”, lạnh lùng, khách quan. Việc xóa bỏ vai trò của người kể chuyện toàn tri, toàn năng giúp tác phẩm trở nên dân chủ hơn, mời gọi sự đồng sáng tạo từ phía độc giả. Mỗi người đọc, với trải nghiệm và vốn văn hóa của riêng mình, sẽ kiến tạo nên một phiên bản ý nghĩa khác nhau cho tác phẩm.

V. Phân Tích Các Tác Giả Tiêu Biểu Của Văn Học Hậu Hiện Đại

Nền văn học hậu hiện đại Việt Nam, dù chưa thành một trào lưu, đã ghi nhận sự xuất hiện của nhiều cây bút xuất sắc với những đóng góp quan trọng. Nguyễn Huy Thiệp được xem là người mở đầu và là gương mặt tiêu biểu nhất. Các truyện ngắn của ông như Tướng về hưu, Không có vua, Phẩm tiết đã gây một cú sốc lớn trên văn đàn những năm cuối thập niên 80. Ông đã sử dụng một lối viết sắc lạnh, trần trụi cùng thủ pháp giải thiêng, giễu nhại để phơi bày sự khủng hoảng giá trị trong xã hội đương thời. Phạm Thị Hoài, với các tác phẩm như truyện ngắn Thiên sứ, lại mang đến một tiếng nói khác biệt, tập trung vào thân phận con người, đặc biệt là phụ nữ, trong một thế giới vô hồn, mất phương hướng. Lối viết của bà giàu tính triết lý, kết hợp giữa sự sắc sảo của trí tuệ và sự nhạy cảm của nữ tính. Tạ Duy AnhNguyễn Bình Phương là những tên tuổi nối tiếp, đẩy các thử nghiệm nghệ thuật đi xa hơn. Họ khám phá sâu vào thế giới vô thức, tâm linh, sử dụng kỹ thuật dòng ý thức và cấu trúc phân mảnh một cách điêu luyện. Gần đây hơn, các tác giả như Sương Nguyệt Minh cho thấy sự vận động không ngừng của cảm quan này, khi ông chuyển từ bút pháp hiện thực-lãng mạn sang lối viết kỳ ảo, ma mị, đào sâu vào bản năng và những khao khát nguyên thủy của con người. Mỗi tác giả, với phong cách riêng, đã góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học đương đại Việt Nam.

5.1. Dấu ấn Nguyễn Huy Thiệp qua truyện ngắn Tướng về hưu

Nguyễn Huy Thiệp là hiện tượng nổi bật nhất của văn học Đổi Mới. Tác phẩm của ông, đặc biệt là truyện ngắn Tướng về hưu, đã tạo ra một cuộc đối thoại gay gắt về các giá trị. Truyện kể về sự lạc lõng và sụp đổ của một vị tướng khi trở về với cuộc sống đời thường. Ông không thể chấp nhận được thực tại nơi các giá trị đạo đức truyền thống bị đồng tiền chi phối. Thế giới trong truyện là một thế giới hỗn loạn, phi trung tâm hóa, nơi cái thiêng liêng và cái phàm tục tồn tại song hành. Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng một giọng văn khách quan, lạnh lùng để mô tả những sự thật trần trụi, phá vỡ mọi ảo tưởng về một xã hội lý tưởng. Tác phẩm là một lời ai điếu cho một hệ giá trị đã qua và một cái nhìn đầy hoài nghi vào tương lai.

5.2. Phạm Thị Hoài và những cách tân trong truyện ngắn Thiên sứ

Phạm Thị Hoài mang đến cho văn đàn một lối viết đầy trí tuệ và đậm chất nữ tính. Truyện ngắn Thiên sứ là một ví dụ tiêu biểu cho phong cách của bà. Tác phẩm không có một cốt truyện rõ ràng mà là dòng suy tư của nhân vật “tôi” về cuộc đời, tình yêu và sự tồn tại. Thế giới nghệ thuật của Phạm Thị Hoài là thế giới của những con người cô đơn, vô hồn, lạc lõng trong chính cuộc sống của mình. Bà sử dụng kỹ thuật liên văn bản, kết hợp nhiều loại diễn ngôn khác nhau để tạo ra một văn bản đa tầng nghĩa. Ngôn ngữ trong truyện của bà được trau chuốt, giàu hình ảnh và mang tính triết luận sâu sắc, thể hiện một tư duy nghệ thuật hiện đại, tiếp cận với các trào lưu văn học thế giới.

5.3. Sương Nguyệt Minh Sự vận động từ truyền thống đến dị biệt

Sương Nguyệt Minh là một trường hợp đặc biệt, cho thấy sự vận động và “lột xác” trong chính sự nghiệp của một nhà văn. Nếu tập Người ở bến sông Châu vẫn mang âm hưởng của bút pháp truyền thống, trữ tình, thì đến tập Dị hương, ông đã có một bước chuyển ngoạn mục sang lối viết đậm chất hậu hiện đại. Ông kiến tạo một thế giới kỳ ảo, ma mị, nơi con người hành động theo bản năng và dục vọng. Các truyện ngắn như Đồi con gái, Dị hương khám phá những miền sâu thẳm trong tâm hồn con người, những vùng cấm kỵ của đạo đức xã hội. Sự vận động này cho thấy khả năng làm mới mình và sự nhạy bén của nhà văn trước những biến chuyển của thời đại, góp phần khẳng định sự tồn tại của một cảm quan hậu hiện đại nội sinh trong văn học đương đại Việt Nam.

VI. Tương Lai Nào Cho Văn Học Hậu Hiện Đại Việt Nam Đương Đại

Cảm quan hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam không phải là một khuynh hướng nhất thời, mà đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sống văn học. Nó mở ra những không gian sáng tạo mới, cho phép các nhà văn thoát khỏi những lối mòn tư duy và hình thức. Tương lai của nó gắn liền với sự phát triển của xã hội và các thế hệ nhà văn kế cận. Trong kỷ nguyên số, khi thực tại ngày càng trở nên “ảo hóa” và thông tin trở nên phân mảnh, cảm quan hậu hiện đại càng có cơ sở để tồn tại và phát triển. Các nhà văn trẻ, lớn lên cùng Internet và văn hóa toàn cầu, sẽ tiếp nhận và vận dụng các kỹ thuật viết hậu hiện đại một cách tự nhiên hơn. Tuy nhiên, thách thức đặt ra là làm thế nào để tránh rơi vào chủ nghĩa hình thức, chỉ chạy theo kỹ thuật mà thiếu đi chiều sâu tư tưởng. Văn học hậu hiện đại Việt Nam cần tiếp tục quá trình bản địa hóa, tìm ra một con đường riêng để vừa hội nhập với thế giới, vừa nói lên được những vấn đề cốt lõi của con người và xã hội Việt Nam. Công tác phê bình văn học cũng cần được đẩy mạnh, xây dựng một hệ thống lý luận vững chắc để định hướng và đánh giá các sáng tác một cách xác đáng, giúp công chúng tiếp cận và thấu hiểu hơn những giá trị mà khuynh hướng văn học này mang lại. Đây là một hành trình dài, đòi hỏi sự nỗ lực từ cả người sáng tác, người nghiên cứu và độc giả.

6.1. Xu hướng tiếp nhận và phê bình văn học trong kỷ nguyên số

Kỷ nguyên số vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho việc tiếp nhận văn học hậu hiện đại Việt Nam. Cơ hội nằm ở chỗ các tác phẩm có thể được phổ biến rộng rãi hơn, và các diễn đàn trực tuyến tạo ra không gian cho những cuộc thảo luận đa chiều, dân chủ, phá vỡ sự độc quyền diễn giải của giới phê bình chuyên nghiệp. Người đọc có thể thực hành “cái chết của tác giả” một cách triệt để hơn. Tuy nhiên, thách thức là sự đọc lướt, đọc nhanh của văn hóa mạng có thể làm giảm khả năng cảm thụ những văn bản phức tạp, đa nghĩa. Công tác phê bình văn học cần có những hình thức mới, linh hoạt hơn để thích ứng, chẳng hạn như các bài điểm sách trên blog, podcast, video review, để có thể tiếp cận và định hướng cho thế hệ độc giả mới.

6.2. Cơ hội và thách thức cho các nhà văn thế hệ mới

Các nhà văn thế hệ mới của văn học đương đại Việt Nam có nhiều thuận lợi khi tiếp cận với các tư tưởng và kỹ thuật viết hậu hiện đại. Họ không bị trói buộc bởi những hệ hình tư duy cũ và có thể tự do thử nghiệm. Tuy nhiên, cái bóng của những người đi trước như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài là rất lớn. Thách thức đối với họ là phải tạo ra được dấu ấn riêng, vượt qua sự bắt chước về kỹ thuật để tìm ra một tiếng nói độc đáo, phản ánh được tâm trạng và những vấn đề của thế hệ mình. Họ cần đào sâu vào vốn sống và văn hóa dân tộc để làm giàu cho các thử nghiệm hình thức, tạo ra những tác phẩm vừa có tính cách tân, vừa bám rễ sâu vào thực tại Việt Nam. Sự thành công của họ sẽ quyết định sức sống và tương lai của cảm quan hậu hiện đại trong văn chương nước nhà.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH 1. Cảm quan hậu hiện đại 1. Cảm quan hậu hiện đại trong văn học 1. Điều kiện ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism) là một trào lưu văn hóa rộng lớn, ra đời khoảng những năm 70 của thế kỷ XX, bao gồm nhiều lĩnh vực triết học, văn hóa, giáo dục, khoa học, chính trị, xã hội, nghệ thuật… Nó xuất phát từ nước Pháp, sau đó lan sang các nước như Italia, Đức, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Thụy Sĩ, Hà Lan, Anh, Nga, Mỹ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và trong luận văn này chúng tôi góp tiếng nói, góp dẫn chứng rằng nó đã có ở Việt Nam, dù chưa đầy đủ một chủ nghĩa trọn vẹn tạo thành một trào lưu hoàn chỉnh nhưng là lối tư duy trong xã hội hậu hiện đại và thành quả mang những dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại, hay nói cách khác là cảm quan hậu hiện đại.

Sau đây chúng tôi điểm qua những điều kiện hình thành chủ nghĩa hậu hiện đại. Trước hết là điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, kinh tế được khôi phục và đạt mức tăng trưởng đáng kể, mạnh mẽ. Sự tăng trưởng ấy đã làm xuất hiện lối tiêu dùng đại chúng, các trung tâm mua sắm khổng lồ, các tòa nhà chọc trời, các đại lộ thênh thang,.

tất cả góp phần thay đổi sinh hoạt xã hội. Song song đó là sự ra đời của phương tiện truyền thông công nghệ cao như máy tính, truyền hình, phim ảnh, tri thức mới. Kéo theo đó là sự ra đời của nhạc rock and roll, nhạc pop, trào lưu hippies. Đang ở ngưỡng phát triển đỉnh điểm như vậy, bất ngờ những năm 70 mức độ tăng trưởng chậm lại, lạm phát cao, có dấu hiệu của khủng hoảng kinh tế.

Con người đang hình thành lối sống dư giả, đầy đủ vật chất, với thần thái lạc quan, tự tin. Sự suy thoái kia đã khiến con người đánh mất niềm tin, lo âu, sợ hãi, thái độ bi quan, đổ vỡ bao trùm lên toàn xã hội. Cũng từ đó tạo nên cách nhìn nhận mới về cuộc sống, xã hội, con người. Đó chính là bối cảnh ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại.

15 Bên cạnh đó là điều kiện khoa học. Mảng khoa học giai đoạn này có nhiều phát minh mới. Các lý thuyết mới này đã tác động một cách gián tiếp đến sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại. Chẳng hạn như lý thuyết hỗn độn (1960) của Edward Lorentz, lý thuyết này cho rằng trong sự vận hành của hệ động học những khác biệt không đáng kể ở trạng thái ban đầu có thể dẫn tới những khác biệt to lớn về sau.

Đối với chủ nghĩa hậu hiện đại, lý thuyết này đã đưa yếu tố bất định vào sự vận hành của thế giới vật chất, là một trong những cơ sở chống lại các phán quyết được xem như là chân lý kiên cố, bất biến của khoa học hiện đại. Hay là lý thuyết điều khiển học (1946) của Norbert Wiener. Điều khiển học nghiên cứu cơ chế vận hành, xử lý thông tin của bộ não người, động vật, máy móc, các tổ chức và mô hình chúng dưới dạng ký hiệu toán học. Từ đó thiết kế ra máy tính mô phỏng cơ chế vận hành, xử lý thông tin của não bộ, đó là thành tựu lớn lao về mặt ứng dụng của điều khiển học.

Chiếc máy tính ra đời khiến cho cách cảm nhận của con người về thế giới hiện thực bên ngoài, ranh giới giữa thực và ảo trở nên mập mờ, việc đắm mình trên không gian điều khiển đã tạo nên hiện tượng cảm nhận thực tế ảo. Nhìn chung việc sử dụng thành tựu của điều khiển học đã tác động trực tiếp đến sự hình thành của văn hóa hậu hiện đại. Ngoài ra, có thể kể tới những tiền đề lý luận của chủ nghĩa cấu trúc, triết học Marx, Phân tâm học Freud và triết học ngôn ngữ Wittgenstein. Dựa trên tất cả các căn cứ từ thực tiễn đến lý luận, các nhà tư tưởng J.Foucault là những người trực tiếp sáng lập nên chủ nghĩa hậu hiện đại.

Lyotard đã hoài nghi một vài nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Marx. Ông cho rằng chủ nghĩa Marx vốn là một tự sự đặc thù về lịch sử nhân loại, tự phong cho mình tính đúng đắn tuyệt đối. Còn ông, ông cổ xúy cho các tiểu tự sự. Lyotard xem các tiểu tự sự như một phương pháp sáng tạo trong việc phổ biến tri thức.

Ở một phương diện khác, J.Derrida đưa ra cách hiểu mới về ngôn ngữ. Ông cho rằng ý nghĩa ngôn ngữ không có tính bất biến, cố định như quan điểm của giải cấu trúc, chúng luôn trong tiến trình biến đổi, trượt nghĩa.Derrida đã tiến đến lý thuyết giải cấu trúc. Vậy là từ điểm xuất phát khác nhau nhưng cả J. Lyotard đều gặp nhau trong tinh thần phản kháng ảnh hưởng bao trùm của ý chí quyền lực, khai mở 16 lối đi mới cho sự sáng tạo.

Người thứ ba chính là M. Ông là một trong nhiều nhà hậu cấu trúc, bên cạnh J. Họ phê phán chủ nghĩa cấu trúc với những nhìn nhận mang tính hình thức, bất biến và siêu hình về ngôn ngữ. Bằng những đặt nền móng như vậy chủ nghĩa hậu hiện đại đã ra đời.

Biểu hiện của cảm quan hậu hiện đại trong văn học Chủ nghĩa hậu hiện đại không thể gọi tắt là hậu hiện đại cho ngắn gọn được. Đó là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau. Phương Lựu đã từng phân biệt hai thuật ngữ này như sau: “Hậu hiện đại là một khái niệm lịch sử xã hội, có ý kiến cho đó là xã hội hậu công nghiệp hoặc xã hội thông tin xuất hiện sau thế chiến thứ II, có người cho đó là một giai đoạn mới của chủ nghĩa tư bản phát triển” (Phương Lựu, 2012). Thời kì hậu hiện đại sẽ có những đặc trưng riêng tạo thành tính hậu hiện đại.

Và theo Phương Lựu những đặc trưng ấy kết tinh tạo thành một trào lưu văn hóa, ấy là chủ nghĩa hậu hiện đại. Cả hậu hiện đại, tính hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại là “đồng đại” nhưng không đồng thời xuất hiện, nó so le nhau và cái này là điều kiện của cái kia. “Chỉ khi nào xã hội hậu hiện đại đã hình thành tương đối hoàn chỉnh, thì đặc trưng của nó mới bộc lộ rõ nét và tính hậu hiện đại mới được khái quát toàn diện. Và với tư cách là kết tinh của nó trên bình diện văn hóa, chủ nghĩa hậu hiện đại mới dần dần hình thành cả một trào lưu mạnh mẽ”(Nguyễn Văn Long, 2012).

Cảm quan hậu hiện đại là một trong các thuật ngữ của chủ nghĩa hậu hiện đại. Cảm quan hậu hiện đại (tiếng anh: postmodern sensibility; tiếng Pháp: sensibilité postmoderne) “là một kiểu cảm nhận thế giới đặc biệt, là sự phản ánh tâm thức (mentality) thời đại hậu hiện đại” (Đào Tuấn Ảnh, 2003). Phùng Gia Thế, nhà nghiên cứu người Việt cũng cho rằng: nổi bật nhất của “cái hậu hiện đại” là cảm quan hậu hiện đại. Vì theo ông, một xã hội lịch sử cụ thể tất yếu sẽ nảy sinh những kiểu tâm trạng tương ứng.

Chúng tôi cho rằng lời nhận định đó là hợp lí. Ở một giai đoạn xã hội sau khi trải qua một biến cố lớn, một sự thay đổi vượt bậc thì tư duy con người sẽ thay đổi rõ rệt sau đó. Chẳng hạn, hiện tại chúng ta đang cùng “vào sinh ra tử” với đại dịch Covid 19 đã kéo dài gần 2 năm. Mọi trật tự thế giới phải thay đổi, mọi lĩnh vực phải tìm cách làm khác đi để được tồn tại.

Trên trang https://www.de/ có bài viết “Những suy tư sau này - Suy tư thời hậu Corona”. Bài báo tổng hợp những 17 nhận định của nhiều tên tuổi ở các lĩnh vực khác nhau nhận định về thời đại sau thời Corona. Georgi Gospodinov là một nhà văn Bulgaria đã nhận định: “Các nghi thức của sự cận kề giữa chúng ta sẽ thay đổi ra sao? Chúng ta sẽ đụng chạm nhau, ôm nhau, xích lại gần nhau lần nữa ra sao? Một chặng đường dài đợi chúng ta, từng phân một, giữa các cơ thể của chính chúng ta”. Ở một tờ báo khác “Thế giới hậu Covid - 19 sẽ thay đổi như thế nào?” từ nguồn https://thitruongtaichinhtiente.

Bài viết đưa ra những định hình tương lai, cụ thể như thị trường lao động thế giới sẽ biến động đáng kể, chỉ tính riêng thị trường Mỹ sẽ có khoảng hơn 7,4 triệu người trong ngành giải trí và khách sạn thất nghiệp; Những quy tắc xã hội mới hình thành trong đại dịch COVID-19 như: không bắt tay, không ôm hôn, không khạc nhổ nơi công cộng, đeo khẩu trang, ăn uống chín… sẽ giúp giảm việc lây lan dịch bệnh, giảm gánh nặng cho các bệnh viện, và vì thế, giảm các chi phí chăm sóc sức khỏe trong xã hội; Gia tăng hoạt động trực tuyến, làm việc tại nhà. Trước đây, người ta thường phải ra khỏi nhà để đi làm, đi học, thăm viếng, hay đi xem phim, giải trí; COVID-19 bùng phát, điều này đã đưa phụ huynh và giáo viên vào một kỷ nguyên giáo dục hoàn toàn mới. Giới chuyên gia cho rằng, dịch COVID-19 không phải là nguyên nhân dẫn đến những thay đổi này, mà là tác nhân đẩy nhanh quá trình đó,. Như vậy đó, cảm quan hậu hiện đại cũng tương tự, dù không muốn nó cũng hình thành, bám rễ và lớn dần nếu như xã hội đó vượt qua một biến động lớn.

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, hội nhập mạnh mẽ, chúng tôi đồng ý rất khó để thấy những tiêu chí đầy đủ của chủ nghĩa hậu hiện đại nhưng hơn ba thập kỷ qua những biến đổi to lớn đã đưa con người Việt Nam đến rất gần tâm thức hậu hiện đại, tạo nên cảm quan hậu hiện đại. Phùng Gia Thế một lần nữa cất công định nghĩa cảm quan hậu hiện đại “đó là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại: nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của cái chính thống, của các phát ngôn lớn, sự đảo lộn trong các thang bảng giá trị đời sống, sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hồ nghi tồn tại và tình trạng bất an của con người. Đấy là tinh thần chung nhất” (Phùng Gia Thế, 2008). Qua hai trích dẫn về định nghĩa cảm quan hậu hiện đại của nhà nghiên cứu người Nga với phần dịch của Đào Tuấn Ảnh và nhà nghiên cứu người Việt Phùng 18 Gia Thế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ