Luận văn hành vi nguy hiểm cho xã hội - Dấu hiệu mặt khách quan

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm theo BLHS 1999

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2010

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách Nhận Diện Hành Vi Nguy Hiểm Xã Hội Là Dấu Hiệu Tội Phạm

Hành vi nguy hiểm xã hội là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam. Đây là yếu tố then chốt để phân biệt giữa hành vi phạm pháp hình sự và các vi phạm hành chính, dân sự thông thường. Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi nó xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm nghiêm trọng đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Theo luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Linh (2010), hành vi nguy hiểm cho xã hội phải đáp ứng các tiêu chí: tính xâm phạm, tính đáng phạt và tính phản xã hội. Tính xâm phạm thể hiện ở mức độ tổn hại đến lợi ích cá nhân, tập thể hoặc nhà nước. Tính đáng phạt phản ánh mức độ nghiêm trọng đủ để bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, tính phản xã hội cho thấy hành vi đi ngược lại chuẩn mực đạo đức và trật tự xã hội. Việc xác định đúng hành vi nguy hiểm xã hội giúp tránh hai sai lầm nghiêm trọng: xử oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm. Do đó, cơ quan tố tụng cần dựa trên chứng cứ khách quan, bối cảnh xã hội và hệ quả thực tế để đánh giá chính xác mức độ nguy hiểm.

1.1. Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Hành Vi Nguy Hiểm Xã Hội

Theo Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi 2009), hành vi nguy hiểm xã hội là hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đặc điểm nổi bật bao gồm: (1) Tính khách quan – hành vi phải là hành động hoặc không hành động cụ thể; (2) Tính xã hội – gây tổn hại đến lợi ích chung; (3) Tính đáng phạt – mức độ tổn hại đủ để bị truy cứu hình sự. Không phải mọi hành vi gây hậu quả đều là tội phạm. Ví dụ, hành vi tự vệ chính đáng không bị coi là nguy hiểm dù có gây thương tích. Điều này cho thấy ranh giới giữa tội phạm và vi phạm pháp luật rất mong manh và cần được phân tích kỹ lưỡng.

1.2. Phân Biệt Hành Vi Nguy Hiểm Xã Hội Với Vi Phạm Pháp Luật Khác

Hành vi nguy hiểm xã hội khác với vi phạm hành chính hay dân sự ở mức độ và hậu quả. Vi phạm hành chính thường chỉ bị xử phạt hành chính, trong khi hành vi nguy hiểm xã hội có thể dẫn đến án tù. Ví dụ, đánh người gây thương tích dưới 11% là vi phạm hành chính; nhưng nếu từ 11% trở lên, hành vi này trở thành dấu hiệu tội phạm. Sự khác biệt này phụ thuộc vào mức độ tổn hại, động cơ, phương tiện và hoàn cảnh thực hiện. Việc phân biệt chính xác giúp đảm bảo công lý và tránh lạm dụng quyền truy tố.

II. Thách Thức Khi Xác Định Hành Vi Nguy Hiểm Là Dấu Hiệu Tội Phạm

Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy nhiều khó khăn trong việc xác định hành vi nguy hiểm xã hội là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm. Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu tiêu chí định lượng rõ ràng. Mức độ “nguy hiểm” thường được đánh giá chủ quan, dẫn đến tình trạng xử lý không thống nhất giữa các cơ quan tố tụng. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Linh (2010), có hai sai lầm phổ biến: (1) truy tố hành vi không nguy hiểm – gây oan sai; (2) bỏ qua hành vi nguy hiểm – dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Cả hai trường hợp đều làm suy giảm niềm tin vào hệ thống tư pháp. Nguyên nhân chính bao gồm: thiếu hướng dẫn áp dụng thống nhất, trình độ chuyên môn của cán bộ tư pháp chưa đồng đều, và sự thay đổi nhanh chóng của các hình thức phạm tội mới (như tội phạm mạng). Do đó, cần hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực đánh giá tính nguy hiểm xã hội dựa trên tiêu chí khoa học, khách quan.

2.1. Xử Oan Do Đánh Giá Sai Về Mức Độ Nguy Hiểm

Nhiều vụ án oan xảy ra do cơ quan điều tra và xét xử quy kết hành vi nguy hiểm xã hội cho những hành động không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ví dụ, hành vi tranh chấp đất đai mang tính dân sự nhưng bị coi là “gây rối trật tự công cộng” do thiếu phân tích bối cảnh. Điều này vi phạm nguyên tắc “suy đoán vô tội” và làm tổn hại nghiêm trọng đến quyền con người. Việc thiếu tiêu chí rõ ràng về mức độ nguy hiểm khiến cán bộ tư pháp dễ bị ảnh hưởng bởi áp lực xã hội hoặc định kiến.

2.2. Bỏ Lọt Tội Phạm Vì Bỏ Qua Dấu Hiệu Nguy Hiểm

Ngược lại, nhiều hành vi có tính nguy hiểm xã hội cao lại không bị truy cứu do thiếu nhận thức hoặc do hành vi được che giấu tinh vi. Ví dụ, hành vi lạm dụng quyền lực trong doanh nghiệp nhà nước gây thiệt hại lớn nhưng không bị coi là tham nhũng do thiếu chứng cứ về “ý định chiếm đoạt”. Điều này cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện quy định pháp luật và tăng cường giám sát xã hội để phát hiện kịp thời các hành vi nguy hiểm tiềm ẩn.

III. Phương Pháp Đánh Giá Hành Vi Nguy Hiểm Trong Tố Tụng Hình Sự

Để xác định chính xác hành vi nguy hiểm xã hội, cần áp dụng phương pháp tiếp cận đa chiều, kết hợp giữa phân tích pháp lý và đánh giá thực tiễn. Trước hết, hành vi phải được xem xét trong bối cảnh cụ thể: thời gian, địa điểm, phương tiện, hậu quả và động cơ. Thứ hai, cần so sánh với các án lệ và hướng dẫn áp dụng của Tòa án nhân dân tối cao. Thứ ba, nên tham khảo ý kiến chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan (tâm lý, kinh tế, công nghệ) khi hành vi có tính chất phức tạp. Theo luận văn của Nguyễn Thị Ngọc Linh, tính nguy hiểm xã hội không chỉ nằm ở hậu quả đã xảy ra mà còn ở khả năng đe dọa tiềm tàng. Ví dụ, hành vi phát tán thông tin giả trên mạng có thể chưa gây hậu quả rõ rệt nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây rối loạn xã hội – vẫn đủ để cấu thành tội phạm. Phương pháp này giúp đảm bảo tính khách quan, công bằng và phù hợp với nguyên tắc pháp quyền.

3.1. Tiêu Chí Đánh Giá Tính Nguy Hiểm Xã Hội

Các tiêu chí bao gồm: (1) Mức độ tổn hại đến lợi ích được bảo vệ; (2) Phạm vi ảnh hưởng (cá nhân, nhóm hay toàn xã hội); (3) Khả năng lặp lại hoặc lan tỏa; (4) Mức độ vi phạm chuẩn mực đạo đức và pháp lý. Ví dụ, hành vi trộm cắp tài sản có giá trị nhỏ nhưng thực hiện nhiều lần cho thấy tính nguy hiểm xã hội cao do đe dọa an ninh tài sản cộng đồng. Việc lượng hóa các tiêu chí này giúp giảm thiểu đánh giá chủ quan.

3.2. Vai Trò Của Chứng Cứ Và Bối Cảnh Trong Đánh Giá

Chứng cứ không chỉ chứng minh hành vi xảy ra mà còn phản ánh mức độ nguy hiểm. Bối cảnh xã hội (như thời kỳ khủng hoảng, thiên tai) cũng làm thay đổi tính chất nguy hiểm. Ví dụ, đầu cơ tích trữ hàng hóa trong dịch bệnh được coi là hành vi nguy hiểm xã hội nghiêm trọng hơn so với thời bình. Do đó, cơ quan tố tụng phải xem xét toàn diện, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa trên hậu quả vật chất.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Dấu Hiệu Hành Vi Nguy Hiểm Trong Xét Xử

Trong thực tiễn xét xử, hành vi nguy hiểm xã hội đóng vai trò then chốt trong ba khâu: xác định tội phạm, định tội danh và quyết định hình phạt. Khi xác định tội phạm, nếu hành vi không đủ nguy hiểm, dù có vi phạm pháp luật, vẫn không bị truy cứu hình sự. Khi định tội danh, mức độ nguy hiểm giúp phân biệt giữa các tội gần giống nhau – ví dụ giữa “giết người” và “cố ý gây thương tích”. Khi quyết định hình phạt, tính nguy hiểm xã hội là căn cứ để áp dụng tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Theo nghiên cứu, nhiều bản án sai lệch xuất phát từ việc không đánh giá đúng yếu tố này. Ví dụ, hành vi bạo lực gia đình gây thương tích 15% có thể bị xử nhẹ nếu không xem xét đầy đủ tính chất lặp lại và đe dọa lâu dài – một biểu hiện rõ ràng của nguy hiểm xã hội tiềm ẩn. Do đó, cần tăng cường đào tạo cho thẩm phán và kiểm sát viên về phương pháp đánh giá khoa học.

4.1. Phân Định Tội Phạm Dựa Trên Mức Độ Nguy Hiểm

Việc phân định giữa các tội danh như “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “vi phạm hợp đồng dân sự” phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm xã hội. Nếu hành vi có chủ đích lừa đảo, gây tổn hại rộng rãi, thì cấu thành tội phạm. Ngược lại, nếu chỉ là tranh chấp dân sự, dù gây thiệt hại, vẫn không đủ yếu tố nguy hiểm. Điều này đòi hỏi cơ quan tố tụng phải phân tích sâu về ý thức và mục đích của người thực hiện hành vi.

4.2. Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Hình Phạt

Tính nguy hiểm xã hội trực tiếp ảnh hưởng đến mức án. Hành vi có tính chất côn đồ, xảo quyệt hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng sẽ bị áp dụng khung hình phạt cao hơn. Ngược lại, nếu hành vi tuy vi phạm nhưng không đe dọa trật tự xã hội (ví dụ: tự thú, bồi thường đầy đủ), có thể được xem xét giảm nhẹ. Đây là biểu hiện của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong luật hình sự Việt Nam.

V. Hướng Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hành Vi Nguy Hiểm Xã Hội

Để khắc phục bất cập, cần hoàn thiện quy định pháp luật về hành vi nguy hiểm xã hội theo hướng rõ ràng, minh bạch và có thể áp dụng thống nhất. Trước hết, nên bổ sung định nghĩa chi tiết trong Bộ luật Hình sự, kèm theo tiêu chí định lượng (ví dụ: mức thiệt hại tối thiểu, số người bị ảnh hưởng). Thứ hai, cần ban hành hướng dẫn áp dụng thống nhất từ Tòa án nhân dân tối cao, dựa trên án lệ tiêu biểu. Thứ ba, nên mở rộng các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm – như hành vi vì lợi ích cộng đồng hoặc trong tình thế cấp thiết. Theo Nguyễn Thị Ngọc Linh (2010), việc hoàn thiện ranh giới giữa tội phạm và vi phạm sẽ giúp giảm oan sai và tăng hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm. Đồng thời, cần cập nhật các hình thức nguy hiểm mới như tội phạm mạng, lạm dụng dữ liệu cá nhân, vốn chưa được phản ánh đầy đủ trong luật hiện hành.

5.1. Đề Xuất Sửa Đổi Bộ Luật Hình Sự

Nên sửa đổi Điều 8 BLHS để làm rõ các yếu tố cấu thành hành vi nguy hiểm xã hội, bao gồm: hậu quả thực tế, khả năng gây hại tiềm tàng, và mức độ vi phạm chuẩn mực xã hội. Ngoài ra, cần phân loại rõ các nhóm tội phạm theo mức độ nguy hiểm để áp dụng quy trình tố tụng phù hợp – ví dụ, tội ít nguy hiểm có thể áp dụng hòa giải thay vì truy tố.

5.2. Tăng Cường Hướng Dẫn Áp Dụng Từ Tòa Án Tối Cao

Tòa án nhân dân tối cao nên ban hành nghị quyết hướng dẫn cụ thể về cách đánh giá tính nguy hiểm xã hội trong từng nhóm tội phạm. Điều này giúp thống nhất quan điểm giữa các địa phương, giảm tranh cãi và nâng cao chất lượng xét xử. Việc công bố án lệ điển hình cũng là công cụ hiệu quả để đào tạo cán bộ tư pháp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hành vi nguy hiểm cho x hội với tư cách là đầu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách. quan của tội phạm. Chương 2: Vai trỏ của hành vì nguy hiểm cho xã hội trong thực tiễn xác định tội phạm, định tội danh và quyết định hình phạt. Chương 3: Hoàn thiện một số quy định của BLHS có liên quan đến dẫu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội.

- Nhiệm vụ nghiên cứu: 1) Đưa ra được khái niệm. đặc điểm hành vi phạm pháp luật và hành vi nguy hiểm cho xã hội; 2) Làm rõ vai trò của hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tôi phạm trong thực tiễn xác dịnh tội phạm va định tôi danh, quyết định hinh phạt; đặc biệt là chỉ ra được những bât cập, hạn chế, thiêu sót trong các quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc mặt khách quan - nguyên. nhân chủ yếu dẫn đến hiểu sai, hiểu không thống nhất về cách xác dịnh tdi phạm, định tội danh, quyết định hình phạt dẫn đến hiện tượng bỏ lọt tội phạm hoặc xử oan người về tội. 3) Đưa ra được một số giải pháp khả thì nhằm hoản thiện các quy định của BLHS có liên quan đến dấu hiệu hành vị nguy hiểm cho xã hội 5, Cơ sỡ lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 5.

Cơ sở lý luận Cơ sở lý luận của để tải này là các thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: luật hình sự, tôi phạm học, luật tố tụng hỉnh sự trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài đăng trên tạp chí của các nhà khoa học - luật gia Việt Nam. Ngoài ra để góp phần phân tích khoa học nhằm làm sáng tỏ những vấn để lý luận và vai trò của hành vi nguy hiểm cho xã hội trong thực tiễn xác định tội phạm, định tội danh và quyết dịnh hình phạt nêu trên tác giá dã nghiên cứu nhiều văn bản pháp luật, cũng như những giải thích thông nhật có tính chất chi dạo thực Liễn xét xử trong các văn bắn Lhuộc lĩnh vực PLHS do TANDTC va các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương ban hành mà ở các mức đô khác nhau các văn bản này đều có liên quan đến đề tài cần nghiên cửu. Phương pháp nghiên cửu của dé tai Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin để nghiên cứu sâu DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TAT CHU VIET TAT TIENG VIET BLHS Bộ luật hình sự PLIIS Tháp luật hình sự TMIIS Trách nhiệm hình sự TANDTC ‘Téa án nhân dân tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa - Nhiệm vụ nghiên cứu: 1) Đưa ra được khái niệm. đặc điểm hành vi phạm pháp luật và hành vi nguy hiểm cho xã hội; 2) Làm rõ vai trò của hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tôi phạm trong thực tiễn xác dịnh tội phạm va định tôi danh, quyết định hinh phạt; đặc biệt là chỉ ra được những bât cập, hạn chế, thiêu sót trong các quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc mặt khách quan - nguyên.

nhân chủ yếu dẫn đến hiểu sai, hiểu không thống nhất về cách xác dịnh tdi phạm, định tội danh, quyết định hình phạt dẫn đến hiện tượng bỏ lọt tội phạm hoặc xử oan người về tội. 3) Đưa ra được một số giải pháp khả thì nhằm hoản thiện các quy định của BLHS có liên quan đến dấu hiệu hành vị nguy hiểm cho xã hội 5, Cơ sỡ lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 5. Cơ sở lý luận Cơ sở lý luận của để tải này là các thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: luật hình sự, tôi phạm học, luật tố tụng hỉnh sự trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài đăng trên tạp chí của các nhà khoa học - luật gia Việt Nam. Ngoài ra để góp phần phân tích khoa học nhằm làm sáng tỏ những vấn để lý luận và vai trò của hành vi nguy hiểm cho xã hội trong thực tiễn xác định tội phạm, định tội danh và quyết dịnh hình phạt nêu trên tác giá dã nghiên cứu nhiều văn bản pháp luật, cũng như những giải thích thông nhật có tính chất chi dạo thực Liễn xét xử trong các văn bắn Lhuộc lĩnh vực PLHS do TANDTC va các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương ban hành mà ở các mức đô khác nhau các văn bản này đều có liên quan đến đề tài cần nghiên cửu.

Phương pháp nghiên cửu của dé tai Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin để nghiên cứu sâu MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của để tài Luật hình sự là một trong những ngành luật ra đời sớm nhất rong hệ thống pháp luật thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng, Ngay từ khi Nhà nước ta mới được thành lập cho đến nay, luật hình sự luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân bởi PI.H§ là một trong những công, cụ quan trọng và hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ chế độ XHƠN, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bảo các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyên, lợi ích hợp pháp của công. dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, chống mọi hành vì phạm tội; đồng thời giáo duc moi người ÿ thức tuân theo pháp luật, dấu tranh phòng ngừa vả chống tội phạm. Dổể luật hình sự ngày càng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình, việc hoàn thiện BLIIS là một đòi hồi tất yêu khách quan.

BLH§ Việt Nam năm 1999 hiện hành tay đã có những bước phát triển vượt bậc so với văn bản PLHS trước nó, nhưng đo sự thay đổi nhanh chóng của kinh tế - xã hội, sự hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đòi hỏi gắt gao của cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền nên không tránh khỏi những bất cập, hạn chế, thiếu sót cần sớm được hoàn thiện. Một trong những. bất cập, hạn chế, thiếu sót đó chính là các quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm, mả cụ thể là còn thiếu quy định hoặc quy định chưa rõ về: khái niệm hành vi nguy hiểm cho xã hội, các tỉnh tiết piảm nhẹ, tăng nặng 'FNH§ có liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội của BLHS. Diễu này khiến thực tiễn xác định tội phạm, định tội đanh và quyết định hình phạt côn chưa thống nhất và có nhiều điểm bắt cập dẫn đến hiện tương bỏ lọt tôi phạm hoặc xử oan người vô tội.

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TAT CHU VIET TAT TIENG VIET BLHS Bộ luật hình sự PLIIS Tháp luật hình sự TMIIS Trách nhiệm hình sự TANDTC ‘Téa án nhân dân tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa về những vấn dé lương ứng đưới các luân điểm tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyên, cải cách tư pháp, củng cố pháp chế, tính tối thượng của pháp luật và bảo vệ một cách hữu hiệu các quyền tự do của công dân bằng hệ thống tư pháp hình sự ở Việt Nam với tính chất là các giá trị xã hội cao quý nhất của loài người và của nên văn minh nhân loại đã được thừa nhận chung. Bén cạnh dé trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng dồng bộ các phương pháp khoa học như. Phương pháp phân tích, phương pháp logic, phương pháp thống kê hình sự, phương pháp tổng hợp, phương pháp đối chiếu, phương pháp sơ sánh, phương pháp chứng mình. Trong dá dặc biệt coi trọng các phương pháp hệ thống, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn, điều tra xã hội học.

để rút ranhững kết luận, đề xuất phủ hợp nhằm hoàn thiện các quy dịnh của BI.HB có liên quan đến hành VI nguy hiểm cho xã hội với tư cách 14 dau hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm. Đăng gúp mới của dễ tài Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ thạc sĩ, trong đó lần đầu tiên bằng việc phân tích khoa học đã giải quyết đồng bộ tương đối có hệ thông 03 vấn đề lớn sau: - Mật số vấn để lý luận về hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dẫu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm - Vai trò của hành vi nguy hiểm cho xã hội trong thực tiễn xác định tội phạm dịnh lội danh và quyết định hình phạt - Đề xuất giái pháp hoàn thiện một số quy dịnh của B1.H8 có liên quan đến dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội. Ý nghĩa cửa đề tài - lmận vẫn này là tải liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, và nghiên cửu khoa học đối với học viên chuyên ngành tư pháp hình sự. - Nội dung luận văn sẽ có ý nghĩa thiết thực, bố ích, cần thiết khi tìm hiểu về những dẫu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm nói chung và dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là đầu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm nói riêng, - Tác giả mong rằng, những kiến nghị khoa học trong luận văn sẽ được sử dựng trong việu pháp diễn hoả luật hình sự của Nhà nước, dồng thời đóng góp có ý nghĩa thiết thực cho những cán bộ áp dụng pháp luật trong việc phát hiện kịp thời và xử lý nhanh chóng, công mỉnh các hành vi phạm tội theo dũng quy dịnh của pháp luật, nhằm báo vệ vững chắc các quyền tự do cua công dân với phương châm "không bỏ lợi kế phạm tội, tránh làm oan người tô lội ”- 8.

Kế cầu của luận văn Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và 3 chương, Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hành vi nguy hiểm cho x hội với tư cách là đầu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách. quan của tội phạm. Chương 2: Vai trỏ của hành vì nguy hiểm cho xã hội trong thực tiễn xác định tội phạm, định tội danh và quyết định hình phạt. Chương 3: Hoàn thiện một số quy định của BLHS có liên quan đến dẫu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ