Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH VÀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1. Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trƣờng – hình thức phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa - cạnh tranh đã trở thành quy luật then chốt và là một thuộc tính quan trọng.
Với tƣ cách là một trong những đặc trƣng cơ bản, đồng thời là động lực phát triển của kinh tế thị trƣờng, khái niệm cạnh tranh đã đƣợc hiểu từ nhiều góc nhìn khác nhau. Với tƣ cách là hiện tƣợng xã hội, P.Nordhaus – hai nhà kinh tế học Mỹ đã viết trong cuốn “Kinh tế học” (tái bản lần thứ 12) rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp nhằm cạnh tranh với nhau để giành giật một đối tượng khách hàng hay một thị trường trong lĩnh vực nào đó. Với tƣ cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cuốn “Black’Law Dictionary” diễn tả cạnh tranh là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba” [42, tr. Từ điển Kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992 cũng định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [15, tr.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa cạnh tranh là tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng nhƣ nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về phía mình [41, tr. Cạnh tranh cũng có thể đƣợc hiểu là hành vi của doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thủ của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo đƣợc hoặc để bị mất đi một lƣợng khách hàng thƣờng xuyên [16, tr. Theo các cách giải thích trên, nếu nhìn từ phía các chủ thể của hành vi thì cạnh tranh đƣợc coi là phƣơng thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của ngƣời tiêu dùng. Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xã hội thì cạnh tranh là phƣơng thức phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một cách tối ƣu, do đó là động lực bên trong của nền kinh tế phát triển.
Với những ý nghĩa quan trọng đó, thông qua việc đáp ứng các nhu cầu và đem lại lợi ích cho ngƣời tiêu dùng, cạnh tranh có vai trò điều tiết, phân phối thu nhập, đào thải tự nhiên đối với những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, dành lại chỗ đứng cho những doanh nghiệp giỏi, có tiềm năng. Cạnh tranh thúc đẩy phát triển các ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và sáng tạo, đồng thời đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả nhất, góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh cho mỗi doanh nghiệp trên thị trƣờng. Đặc điểm của cạnh tranh Đƣợc nhìn nhận dƣới những góc độ khác nhau, với tính chất đa dạng và phức tạp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế hiện đại, các định nghĩa về cạnh tranh nêu trên đều đƣợc mô tả bởi 3 đặc trƣng cơ bản sau đây: Thứ nhất, với tƣ cách là hiện tƣợng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại những tiền đề nhất định sau đây: - Có sự tồn tại của quan hệ thị trƣờng, trong đó có nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau. Bởi lẽ khi trong một thị trƣờng nhất định nào đó chỉ có một doanh nghiệp tồn tại thì chắc chắn nơi đó sẽ không có đất cho cạnh tranh nảy sinh và phát triển.
Mặt khác, khi có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp, song chúng chỉ thuộc về một 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành phần kinh tế duy nhất thì sự cạnh tranh chẳng còn ý nghĩa gì [22]. Cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh tốt hơn nếu các doanh nghiệp thuộc về các thành phần kinh tế khác nhau với những lợi ích và tính toán khác nhau. - Cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu nhƣ các chủ thể có quyền tự do hành xử trên thị trƣờng. Doanh nghiệp muốn chủ động tìm kiếm khả năng sinh tồn và phát triển trên thị trƣờng cần có sự tự do, sự độc lập và tự chủ.
Mọi kế hoạch để sắp đặt các hành vi ứng xử, cho dù đƣợc thực hiện với mục đích gì đi nữa, đều hạn chế khả năng sáng tạo trong kinh doanh. Thứ hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp. Mức lợi nhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với năng lực của bản thân họ trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, ngƣời tiêu dùng trong xã hội, do đó các doanh nghiệp sẽ đua nhau lấy lòng khách hàng. Từng thủ đoạn đƣợc sử dụng để ganh đua đƣợc gọi là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp.
Kết quả của cuộc cạnh tranh trên thị trƣờng làm cho ngƣời chiến thắng mở rộng đƣợc thị phần và tăng lợi nhuận, làm cho kẻ thua cuộc chịu mất khách hàng và phải rời khỏi thị trƣờng. Thứ ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị trƣờng mua hoặc bán sản phẩm. Trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thị trƣờng, là thƣớc đo sự thành đạt và là mục đích hƣớng đến của các doanh nghiệp. Do đó, khi tham gia vào thị trƣờng, doanh nghiệp luôn ganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trƣờng.
Trên thị trƣờng, cạnh tranh chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp có chung lợi ích tiềm năng về nguồn nguyên liệu đầu vào (cạnh tranh mua); hoặc về thị trƣờng đầu ra của sản phẩm (cạnh tranh bán) của quá trình sản xuất. Việc có chung khách hàng hoặc đối tác để tranh giành, có chung một nguồn lợi ích để hƣớng đến làm cho các doanh nghiệp có cùng mục đích và trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm và đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh 1.
Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh Trƣớc hết, cạnh tranh không lành mạnh là một khái niệm bắt nguồn từ những quy định mang tính nguyên tắc trong pháp luật dân sự, theo đó, các chủ thể trong giao dịch (dân sự hay thƣơng mại) phải đảm bảo tôn trọng thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội ở mỗi quốc gia. Với những quy định nhƣ vậy, giao dịch thƣơng mại trên thị trƣờng cũng phải đảm bảo tôn trọng những quy tắc trong xã hội về đạo đức kinh doanh. Sự phát triển đa dạng của các quan hệ thƣơng mại trong điều kiện tự do cạnh tranh ở các nền kinh tế theo cơ chế thị trƣờng đã kéo theo những hành vi cạnh tranh đa dạng, phức tạp nhằm giành đƣợc lợi thế nhất định cho mình, thậm chí gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khác, trong đó, có hành vi CTKLM. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Hiểu theo nghĩa rộng, hành vi CTKLM bao gồm tất cả hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trƣờng, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doanh nghiệp. Theo cách quan niệm này, lƣợng hành vi bị coi là hành vi CTKLM sẽ rộng lớn nhất bởi các hành vi hạn chế cạnh tranh cũng thuộc vào phạm trù “cạnh tranh không lành mạnh" [32]. Tuy nhiên, điều này sẽ tạo ra sự lẫn lộn trong cơ chế xử lý giữa hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi CTKLM, bởi lẽ, hai loại hành vi trên có những đặc điểm khác biệt về bản chất rất khó trộn lẫn với nhau. Công ƣớc Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp quy định về “cạnh tranh không lành mạnh” (Điều 10bis – bổ sung vào Công ƣớc từ năm 1900), theo đó bất cứ hành vi nào trái với tập quán trung thực trong hoạt động thƣơng mại và công nghiệp đều bị coi là hành vi CTKLM [10, tr.
Nhƣ vậy, quan niệm nhƣ trong Công ƣớc Paris có phần hẹp hơn, chủ yếu hƣớng tới 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hành vi mang tính chất gian dối trong hoạt động thƣơng mại, không bao hàm một số hành vi thƣờng cũng đƣợc coi là các hành vi CTKLM trong pháp luật của nhiều quốc gia nhƣ hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, xâm phạm bí mật kinh doanh. Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 đƣa ra khái niệm hành vi CTKLM nhƣ sau: “Hành vi CTKLM là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thƣờng về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc ngƣời tiêu dùng”. Theo đó, nguyên tắc để xác định một hành vi đƣợc coi là CTKLM cụ thể nhƣ sau: (i) Hành vi trái với chuẩn mực thông thƣờng về đạo đức kinh doanh, và (ii) Gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại tới lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác hoặc ngƣời tiêu dùng. Theo các quan niệm trên, khi đề cập đến hành vi CTKLM ngƣời ta thƣờng nhấn mạnh đến tính “không lành mạnh” của hành vi cạnh tranh, tức là những hành vi trái với các chuẩn mực trung thực và lành mạnh trong quan hệ thƣơng mại, mà hệ quả của những hành vi này có thể sẽ dẫn đến gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc ngƣời tiêu dùng, làm thay đổi tƣơng quan cạnh tranh trên thị trƣờng.
Nhƣ vậy, các dấu hiệu để nhận biết hành vi CTKLM đó là: (i) Hành vi cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhằm tới những đối thủ cạnh tranh cụ thể, xác định đƣợc trên cùng một phân khúc thị trƣờng; (ii) Hành vi trái với các chuẩn mực thông thƣờng về đạo đức kinh doanh; và (iii) hành vi gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc ngƣời tiêu dùng. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.