Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều" của tác giả Dương Thị Thúy Vinh được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Bùi Minh Toán và PGS.TS Nguyễn Văn Lộc. Luận án thuộc ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số 92 201 02), hoàn thành vào năm 2024.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ yêu cầu tiếp cận tác phẩm văn chương dưới góc độ ngữ dụng học. Lí thuyết hành động ngôn ngữ do John Langshaw Austin khởi xướng và John Searle phát triển đã mở ra hướng nghiên cứu ngôn ngữ gắn liền với mục đích phát ngôn và ngữ cảnh cụ thể. Mặc dù Truyện Kiều của Nguyễn Du đã được nghiên cứu từ nhiều bình diện ngôn ngữ và văn học, các công trình trước đây mới chỉ dừng lại ở phạm vi một số bài báo hoặc luận văn thạc sĩ khảo sát từng loại hành vi riêng lẻ (như hành động hỏi, hành động cầu khiến, hành động cảm thán) hoặc khảo sát các kiểu câu một cách sơ lược. Đến thời điểm tác giả triển khai nghiên cứu, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và chuyên sâu về toàn bộ hệ thống hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ đặc điểm của hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều trên các phương diện: tính chất, cách thức biểu hiện, các tiểu loại, mối quan hệ giữa hành động ngôn ngữ với các kiểu câu phân loại theo mục đích nói; phân tích vai trò của hành động ngôn ngữ trong việc khắc họa tính cách nhân vật và thể hiện tư tưởng của tác giả; qua đó đóng góp vào lí thuyết hành động ngôn ngữ và làm sáng tỏ tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm bốn nội dung cụ thể:

  1. Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, tạo tiền đề nhận diện, phân loại và miêu tả các hành động ngôn ngữ trong tác phẩm.
  2. Thống kê và phân loại các hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều theo những tiêu chí nhất định.
  3. Miêu tả các nhóm hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều theo cách thể hiện trực tiếp và gián tiếp trong lời kể chuyện của tác giả và lời thoại của nhân vật.
  4. Phân tích vai trò của các hành động ngôn ngữ đối với việc khắc họa tính cách nhân vật và thể hiện tư tưởng của tác giả.

Đối tượng nghiên cứu là hành động ngôn ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các hành động ở lời (illocutionary acts), bao gồm cả hành động trực tiếp và hành động gián tiếp.

Nguồn ngữ liệu chính được khảo sát từ văn bản Truyện Kiều do Đào Duy Anh phiên âm và chú giải trong cuốn Từ điển Truyện Kiều (Nhà xuất bản Khoa học, 1974). Để đối chiếu làm rõ nét sáng tạo của Nguyễn Du ở cách thể hiện gián tiếp, luận án sử dụng thêm ngữ liệu so sánh từ tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh, do Nguyễn Đăng Na hiệu đính, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2008).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo ba mảng nghiên cứu chính:

Thứ nhất là các nghiên cứu lí thuyết về hành động ngôn ngữ ở nước ngoài. Tác giả điểm lại công trình nền tảng của J.L. Austin (How to Do Things with Words, xuất bản bản dịch tiếng Pháp mang tên Quand dire, c'est faire), ghi nhận sự phân biệt giữa phát ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngữ vi, cùng hệ thống ba loại hành vi: hành vi tạo lời (locutionary act), hành vi ở lời (illocutionary act) và hành vi mượn lời (perlocutionary act). Hệ thống phân loại năm lớp của Austin gồm: Phán xét, Hành xử, Cam kết, Ứng xử và Bày tỏ. Tiếp đó, tác giả phân tích các phát triển của J. Searle (1969, 1979) với ba tiêu chí phân loại (đích tại lời, hướng ăn khớp, trạng thái tâm lí) tạo nên năm lớp: Biểu hiện (Trình bày), Chi phối (Điều khiển), Cam kết, Biểu cảm và Tuyên bố; đồng thời điểm lại các điều kiện sử dụng hành vi ở lời và khái niệm hành động gián tiếp của Searle. Luận án cũng trích dẫn quan điểm của George Yule (1996) về mối liên hệ cấu trúc - chức năng để phân định hành động trực tiếp và gián tiếp, cùng tiêu chí của F. Recanati về cơ chế suy luận hành vi gián tiếp dựa trên vi phạm phương châm hội thoại.

Thứ hai là các nghiên cứu về lí thuyết hành động ngôn ngữ tại Việt Nam. Luận án điểm luận các công trình tiêu biểu:

  • Cao Xuân Hạo trong Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng (2004) và Câu trong tiếng Việt (2007) vận dụng lí thuyết lực ngôn trung để phân loại câu tiếng Việt, phân biệt động từ trình bày và động từ ngôn hành.
  • Đỗ Hữu Châu trong Đại cương ngôn ngữ học, tập hai - Ngữ dụng học (2003) phân tích biểu thức ngữ vi, cấu trúc ngữ nghĩa hai thành phần của phát ngôn (hiệu lực ở lời và nội dung mệnh đề), đồng thời chỉ ra sáu vấn đề mở của lí thuyết hành vi ngôn ngữ.
  • Nguyễn Đức Dân trong Ngữ dụng học, tập một (2000) trình bày sâu về biểu thức ngữ vi, hành vi gián tiếp và cấu trúc hai mặt gồm hành vi chính yếu và hành vi thứ yếu trong phát ngôn.
  • Nguyễn Thiện Giáp trong Dụng học Việt ngữ (2000), Từ điển khái niệm ngôn ngữ học (2016) và Ngữ dụng học - Từ lí thuyết đến thực tiễn tiếng Việt (2020) giới thiệu hệ thống khái niệm hành động tại lời, ngoài lời, sau lời và phân tích động từ ngôn hành trong tiếng Việt.
  • Các công trình chuyên khảo và luận án nghiên cứu từng hành vi cụ thể: Hà Thị Hải Yến (2006) về hành vi cảm thán; Hà Thị Hồng Mai (2013) về hành động hỏi trong ca dao; Nguyễn Thị Hài (2012) về hành động cầu khiến trong ca dao; Nguyễn Thị Thanh Ngân (2016, 2019) về hành động cầu khiến và lời cảnh cáo; Cao Xuân Hải (2011) về hành động trần thuật; Trần Phúc Trung (2011) về hành động hỏi trong phỏng vấn truyền hình; Nguyễn Thị Thu Nga (2013) về hành vi thề; cùng các bài báo của Nguyễn Thị Bích Hằng (2019) và Nguyễn Thu Hạnh (2020).

Thứ ba là các nghiên cứu về hành động ngôn ngữ trong văn bản Truyện Kiều:

  • Quách Thị Bình Thọ (2005) trong luận văn thạc sĩ Cách sử dụng trực tiếp và gián tiếp các kiểu câu trong Truyện Kiều bước đầu khảo sát bốn kiểu câu, trong đó tập trung nhiều hơn vào câu hỏi, các kiểu câu khác mới chỉ liệt kê sơ lược.
  • Đặng Thị Thu Hương (2006) trong luận văn thạc sĩ Tìm hiểu các phương tiện thể hiện hành động cầu khiến trong "Truyện Kiều" khảo sát phương tiện ngôn ngữ biểu hiện hành động cầu khiến.
  • Phạm Kim Thoa (2009) trong luận văn thạc sĩ Hành động cảm thán trong Truyện Kiều nghiên cứu phương tiện và vai trò của hành vi cảm thán trực tiếp và gián tiếp.
  • Bùi Minh Toán (2010) với bài báo Lí thuyết "hành động ngữ" với đoạn thơ "Trao duyên" trong Truyện Kiều phân tích chuỗi hành vi bộc bạch nội tâm, thỉnh cầu, trình bày, than vãn, xin lỗi của nhân vật Thúy Kiều.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Các công trình đi trước chủ yếu dừng ở từng hành vi đơn lẻ hoặc nghiên cứu hình thức câu ở mức độ mô tả sơ lược; chưa có công trình nào bao quát trọn vẹn cả hai hệ thống hành động ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp trong toàn bộ văn bản Truyện Kiều, chưa làm rõ mối liên hệ giữa các hành động đó với việc phân loại câu theo mục đích nói, cũng như chưa tiến hành đối chiếu phương thức thể hiện gián tiếp giữa thể loại truyện thơ của Nguyễn Du với tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung lí thuyết dựa trên các trụ cột sau:

  • Khái niệm hành động ngôn ngữ: Hành động ngôn ngữ là hành động thực hiện bằng lời nói. Trong ba loại hành vi (hành động tạo lời, hành động ở lời, hành động mượn lời), luận án lấy hành động ở lời làm trung tâm nghiên cứu.
  • Khung phân loại hành động ở lời: Luận án kế thừa phân loại của J. Searle. Tại Chương 2, tác giả nghiên cứu năm nhóm hành động ngôn ngữ trực tiếp: Trình bày, Điều khiển, Biểu cảm, Cam kết, Tuyên bố. Tại Chương 3, nhóm hành động điều khiển được tách thành hai nhóm độc lập là hành động hỏi và hành động cầu khiến do số lượng ngữ liệu lớn và có tính chất phức tạp trong biểu hiện gián tiếp.
  • Điều kiện sử dụng hành vi ở lời: Tuân thủ năm điều kiện của J. Searle gồm điều kiện chung (general condition), điều kiện nội dung mệnh đề (content condition), điều kiện ban đầu (preparatory condition), điều kiện chân thực (sincerity condition) và điều kiện thiết yếu (essential condition).
  • Hành động trực tiếp và gián tiếp: Phân định theo quan điểm của George Yule và J. Searle. Khi có quan hệ trực tiếp giữa cấu trúc và chức năng thì đó là hành động trực tiếp; khi có quan hệ gián tiếp giữa cấu trúc và chức năng thì đó là hành động gián tiếp (hành vi chính yếu được thực hiện thông qua một hành vi thứ yếu).
  • Tiêu chí nhận diện động từ ngữ vi và câu ngữ vi: Động từ ngữ vi biểu thị hành động được thực hiện ngay tại thời điểm nói; chủ ngữ ở ngôi thứ nhất; bổ ngữ ở ngôi thứ hai; không kết hợp với các từ chỉ thời gian, tình thái hoặc hoàn thành (đã, đang, sẽ, vừa, mới, rồi). Câu không dùng động từ ngữ vi nhưng mang chức năng tương đương được quy ước là câu nguyên cấp.
  • Đề xuất phân loại câu tiếng Việt theo mục đích nói: Tác giả bổ sung hai kiểu câu cam kết và câu tuyên bố vào bốn kiểu câu truyền thống (trình bày, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán), tạo thành hệ thống sáu loại câu tương ứng với các nhóm hành động ở lời. Hệ thống này được phân thành dạng điển hình (hành động trực tiếp) và dạng không điển hình (hành động gián tiếp).

Về phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đặt phát ngôn trong mối liên kết văn bản, ngữ cảnh giao tiếp và lập luận để xác định cấu trúc, mục đích phát ngôn và hiệu lực ở lời.
  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả số lượng, tính chất, hình thức biểu hiện và chức năng của từng nhóm hành động ngôn ngữ trong văn bản.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp ngôn ngữ học với tri thức thi pháp học, văn học, văn hóa học và bối cảnh lịch sử thời đại Nguyễn Du.
  • Phương pháp so sánh: Dùng làm phương pháp bổ trợ nhằm đối chiếu cách biểu hiện gián tiếp các hành động ngôn ngữ giữa Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện.
  • Các thủ pháp hỗ trợ gồm: Thống kê, phân loại; Hệ thống; Tổng hợp.

Về quy trình thu thập và xử lý ngữ liệu: Tác giả coi tác phẩm là một sản phẩm giao tiếp hoàn chỉnh. Ngữ liệu thơ được phân tách thành các phát ngôn dựa trên hình thức ngữ pháp là các dấu kết thúc câu (dấu chấm, dấu chấm than, dấu chấm hỏi). Mỗi phát ngôn được quy ước tương ứng với một hành động ngôn ngữ; trường hợp phát ngôn thực hiện đồng thời nhiều hành vi, luận án căn cứ vào vị từ ngôn hành, các điều kiện thích hợp và ngữ cảnh để xác định hành động chính yếu có hiệu lực ở lời rõ rệt nhất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận, thực tiễn

Chương 1 triển khai hệ thống hóa tình hình nghiên cứu lí thuyết hành vi ngôn ngữ ở nước ngoài và trong nước, tổng thuật các công trình nghiên cứu hành vi ngôn ngữ cụ thể và các nghiên cứu về Truyện Kiều. Tác giả xác lập hệ thống khái niệm công cụ phục vụ việc phân tích ngữ liệu, gồm: khái niệm hành động ngôn ngữ, ba cấp độ hành vi, năm lớp hành động theo Searle, các điều kiện thích hợp, động từ ngữ vi và câu ngữ vi, đơn vị phát ngôn trong quan hệ với câu.

Một nội dung lí luận trọng tâm của chương là việc xem xét mối quan hệ giữa phân loại hành động ở lời với phân loại câu theo mục đích nói trong ngữ pháp truyền thống. Phản biện lại quan điểm phủ nhận cách phân loại câu theo mục đích nói của một số tác giả ngữ pháp chức năng, tác giả luận án khẳng định cách phân loại truyền thống về thực chất đã phản ánh mục đích phát ngôn, song còn khiếm khuyết do chưa bao quát hành vi cam kết và tuyên bố. Tác giả đề xuất bảng phân loại câu sáu thành phần (trình bày, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán, cam kết, tuyên bố) ở hai trạng thái điển hình và không điển hình.

Về cơ sở thực tiễn, chương 1 phân tích tác động của bối cảnh lịch sử, biến động xã hội cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX và các tầng văn hóa tư tưởng (Nho, Phật, Đạo) đến nội dung, nghệ thuật ngôn từ trong Truyện Kiều. Đồng thời, tác giả khảo sát vị trí, thời lượng và cách thức khai thác các trích đoạn Truyện Kiều trong chương trình Ngữ văn cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, khẳng định cơ sở ứng dụng thực tiễn của đề tài trong việc dạy học đọc hiểu văn bản văn học và dạy học tiếng Việt.

Chương 2: Hành động ngôn ngữ trực tiếp trong Truyện Kiều

Chương 2 khảo sát toàn bộ các phát ngôn có mối quan hệ trực tiếp giữa cấu trúc hình thức và chức năng hành động ở lời trong Truyện Kiều. Tác giả phân chia các hành động trực tiếp thành năm nhóm:

  1. Nhóm hành động trình bày: Chiếm số lượng áp đảo trong toàn bộ tác phẩm, chủ yếu xuất hiện dưới dạng lời kể chuyện của tác giả thực hiện chức năng dẫn chuyện, miêu tả không gian, thời gian, ngoại hình và diễn biến tâm lý nhân vật. Ngoài ra, hành động trình bày trực tiếp còn xuất hiện trong phát ngôn của nhân vật khi trần thuật lại sự việc hoặc bộc bạch tâm trạng. Luận án thống kê các trường hợp lời người kể chuyện trùng với suy nghĩ của nhân vật (lời nửa trực tiếp).
  2. Nhóm hành động điều khiển: Gồm hành động hỏi trực tiếp và hành động cầu khiến trực tiếp. Hành động hỏi trực tiếp dùng các phương tiện nghi vấn chuyên dụng hướng tới người đối thoại. Hành động cầu khiến trực tiếp được nhận diện thông qua các phụ từ, động từ tình thái cầu khiến và các vị từ ngôn hành cầu khiến (như bảo, xin, mời, cậy, nhờ).
  3. Nhóm hành động biểu cảm: Thực hiện chức năng bộc lộ trực tiếp trạng thái cảm xúc (than thở, đau đớn, mừng rỡ, ngợi ca) thông qua các từ ngữ cảm thán, hô ngữ và kết cấu than gọi.
  4. Nhóm hành động cam kết: Xuất hiện trong các bối cảnh nhân vật thề nguyền, hứa hẹn, cam đoan (tiêu biểu như lời thề nguyền giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, cam kết của Mã Giám Sinh, Thúc Sinh, Từ Hải).
  5. Nhóm hành động tuyên bố: Xuất hiện hạn chế, gắn liền với các ngữ cảnh có tính pháp lí hoặc nghi thức quyền lực (như hành vi xử án, báo ân báo oán của Từ Hải và Thúy Kiều).

Về mặt vai trò nghệ thuật, chương 2 chứng minh hành động ngôn ngữ trực tiếp đóng vai trò thể hiện thái độ đồng cảm, trân trọng hoặc phê phán của tác giả đối với hiện thực đời sống; đồng thời trực tiếp khắc họa diện mạo, hành vi và bản chất xã hội của từng tuyến nhân vật (nhân vật chính diện như Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải; nhân vật phản diện như Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh).

Chương 3: Hành động ngôn ngữ gián tiếp trong Truyện Kiều

Chương 3 tập trung phân tích các phát ngôn có mối liên hệ gián tiếp giữa cấu trúc và chức năng, nơi hành vi tại lời thứ yếu biểu hiện bề mặt nhằm thực hiện một hành vi tại lời chính yếu khác. Luận án phân tách hệ thống hành động gián tiếp thành hai khu vực:

  1. Hành động ngôn ngữ gián tiếp trong lời của tác giả:
  • Hành động trình bày trong lời tác giả gián tiếp thể hiện các hành động ngôn ngữ khác: Dùng hình thức trần thuật, miêu tả bề ngoài để gián tiếp biểu cảm, gián tiếp khuyên răn, nhận định triết lí hoặc gián tiếp đánh giá nhân vật.
  • Hành động hỏi trong lời tác giả gián tiếp thể hiện các hành động khác: Dùng hình thức câu hỏi (tự vấn, hỏi tu từ có dấu hỏi hoặc không có dấu hỏi) để gián tiếp bộc lộ cảm xúc xót thương, than vãn hoặc khẳng định số phận oan nghiệt của con người.
  1. Hành động ngôn ngữ gián tiếp trong lời của nhân vật:
  • Hành động trình bày gián tiếp thực hiện hành vi cầu khiến, từ chối, than trách, biểu cảm hoặc thề bồi.
  • Hành động hỏi gián tiếp: Câu hỏi dùng để cầu khiến (nhờ cậy, khuyên can, ra lệnh), câu hỏi dùng để biểu cảm (than thở, đau đớn), câu hỏi dùng để khẳng định, phủ định hoặc chất vấn, đe dọa (như phát ngôn của Hoạn Thư, Thúy Kiều, Giác Duyên).
  • Hành động cầu khiến gián tiếp thể hiện hành động biểu cảm hoặc cảnh cáo.
  • Hành động biểu cảm gián tiếp thể hiện hành động cầu khiến, khuyên can hoặc kết án.

Vai trò của hành động gián tiếp được luận án làm rõ qua việc diễn tả chiều sâu tâm lí phức tạp, sự giằng xé nội tâm của Thúy Kiều, sự khôn ngoan giảo quyệt của Hoạn Thư, vẻ trượng phu của Từ Hải và sự yếu mềm của Thúc Sinh.

Chương 3 còn thực hiện nội dung so sánh đối chiếu giữa Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân về cách thể hiện gián tiếp. Kết quả đối chiếu chỉ ra những điểm giống nhau về cấu trúc cốt truyện và mục đích hành động của nhân vật; đồng thời chỉ rõ sự khác biệt: Trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân (văn xuôi chương hồi), các hành động giao tiếp thiên về trực ngôn, bộc lộ sự kiện cụ thể; trong khi ở Truyện Kiều của Nguyễn Du (truyện thơ lục bát), tác giả tăng cường mật độ các hành động gián tiếp, đặc biệt là gián tiếp biểu cảm và gián tiếp nhận định triết lí, tạo nên tính đa nghĩa và chất trữ tình sâu sắc.

Hệ thống bảng số liệu thống kê được tác giả xây dựng trong luận án phản ánh toàn bộ các phân loại nêu trên:

STT bảng Tên bảng thống kê trong luận án Nội dung phản ánh
Bảng 1 Sự thể hiện các hành động ở lời qua các loại câu Mối quan hệ giữa cấu trúc các loại câu với hiệu lực ở lời
Bảng 2, 7 Phân loại HĐNN theo chức năng của hành động Thống kê số lượng, tỉ lệ các nhóm HĐNN theo chức năng
Bảng 3 Phân loại HĐNN trực tiếp theo lời tác giả trùng với suy nghĩ nhân vật Tần số xuất hiện của hình thức lời nửa trực tiếp trong văn bản
Bảng 4 Phân loại HĐ cầu khiến có phụ từ, động từ tình thái Các phương tiện hình thức biểu thị hành động cầu khiến
Bảng 5 Phân loại HĐNN cầu khiến theo vị từ ngôn hành Thống kê các vị từ ngôn hành cầu khiến cụ thể trong văn bản
Bảng 6 Hành động hỏi trực tiếp trong lời tác giả và lời nhân vật Phân bố hành động hỏi trực tiếp theo chủ thể phát ngôn
Bảng 8 Phân loại HĐNN GT theo chủ thể phát ngôn Phân bố hành động gián tiếp giữa lời người kể và lời nhân vật
Bảng 9 Phân loại HĐ trình bày trong lời tác giả GT thể hiện các HĐNN khác Các đích tại lời gián tiếp được biểu hiện qua hành vi trình bày
Bảng 10 Phân loại HĐ hỏi trong lời tác giả gián tiếp thể hiện các HĐNN khác Các chức năng gián tiếp được thực hiện qua câu hỏi của người kể
Bảng 11 Phân loại HĐ hỏi trong câu có dấu hỏi cuối câu GT thể hiện các HĐNN khác Hành động hỏi gián tiếp có dấu hiệu dấu chấm hỏi hình thức
Bảng 12 Phân loại HĐ hỏi trong câu có dấu hỏi cuối câu GT thể hiện HĐNN khác theo chủ thể phát ngôn Phân bố chủ thể sử dụng câu hỏi có dấu hỏi mang nghĩa gián tiếp
Bảng 13 Phân loại HĐ hỏi trong câu không có dấu hỏi cuối câu GT thể hiện HĐNN khác Các phát ngôn nghi vấn gián tiếp không dùng dấu hỏi kết thúc
Bảng 14 Phân loại HĐNN GT thể hiện HĐNN khác trong hai tác phẩm Đối chiếu tổng thể hành động gián tiếp giữa Kiều và Kim Vân Kiều truyện
Bảng 15 Phân loại HĐ trình bày GT thể hiện HĐNN khác trong hai tác phẩm Đối chiếu hành vi trình bày gián tiếp giữa hai tác phẩm
Bảng 16 Phân loại HĐ hỏi GT thể hiện HĐNN khác trong hai tác phẩm Đối chiếu hành vi hỏi gián tiếp giữa hai tác phẩm
Bảng 17 Phân loại HĐNN GT theo chủ thể phát ngôn trong hai tác phẩm So sánh tỉ lệ sử dụng hành động gián tiếp theo chủ thể giữa hai tác phẩm

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lí luận:

  • Luận án góp phần hệ thống hóa các vấn đề lí thuyết về hành động ngôn ngữ ở lời, đặc biệt là tiêu chí nhận diện và phân loại hành vi ở lời trực tiếp và gián tiếp.
  • Làm rõ mối quan hệ giữa phân loại hành động ở lời và phân loại câu theo mục đích nói; đề xuất mô hình phân loại câu tiếng Việt sáu thành phần (bổ sung kiểu câu cam kết và câu tuyên bố) nhằm bao quát đầy đủ các đích ngữ dụng trong giao tiếp.
  • Xác lập khung miêu tả hành động ngôn ngữ chuyên biệt cho thể loại truyện thơ tiếng Việt, chỉ rõ đặc trưng phân biệt giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện trong văn vần so với văn xuôi.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống dữ liệu định lượng, định tính về các hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều thông qua việc thống kê, phân loại, bóc tách các biểu thức ngôn hành và phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung.
  • Khẳng định giá trị nghệ thuật ngôn từ của Nguyễn Du thông qua việc khai thác linh hoạt mối quan hệ cấu trúc - chức năng, chứng minh hiệu quả của hành động trực tiếp và gián tiếp trong việc khắc họa tính cách nhân vật và bộc lộ tư tưởng nhân đạo của tác giả.
  • Phát hiện những nét sáng tạo riêng biệt của Nguyễn Du khi chuyển hóa tác phẩm văn xuôi chương hồi của Thanh Tâm Tài Nhân thành truyện thơ lục bát, thể hiện qua sự thay đổi tần suất và phương thức sử dụng các hành vi ngôn ngữ gián tiếp.
  • Đề xuất giải pháp vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giáo dục: cung cấp ngữ liệu, bài tập và phương pháp tiếp cận ngữ dụng học cho giáo viên, tác giả sách giáo khoa và các nhà biên soạn tài liệu bồi dưỡng môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu do tác giả xác định, luận án chỉ tập trung khảo sát các hành động ở lời (hành động trực tiếp và hành động gián tiếp), chưa mở rộng khảo sát hành vi mượn lời (hiệu lực sau lời tác động đến tâm lí, hành vi ngoài ngôn ngữ của người tiếp nhận).

Nội dung so sánh đối chiếu với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mới chỉ dừng lại ở phạm vi hành động ngôn ngữ gián tiếp như một thao tác bổ trợ, chưa tiến hành đối chiếu toàn diện hệ thống hành động trực tiếp giữa hai văn bản. Đồng thời, nguồn ngữ liệu khảo sát mới căn cứ trên một văn bản phiên âm duy nhất là bản của Đào Duy Anh (1974).

Hướng phát triển tiếp theo được tác giả gợi mở là mở rộng quy trình phân tích hành động ngôn ngữ sang các thể loại văn học khác trong văn học trung đại và hiện đại Việt Nam (như kịch bản tuồng, chèo, tiểu thuyết văn xuôi), cũng như đào sâu hơn việc ứng dụng lí thuyết ngữ dụng học vào thiết kế các hoạt động dạy học tích hợp Ngữ văn trong nhà trường.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Việt Nam và Văn học Việt Nam trong việc tiếp cận phương pháp phân tích diễn ngôn tác phẩm văn chương bằng công cụ ngữ dụng học.
  • Giáo viên môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông khi giảng dạy các đoạn trích Truyện Kiều và các bài học về hành động nói, hội thoại, phong cách học.
  • Các chuyên gia phát triển chương trình giáo dục, tác giả biên soạn sách giáo khoa và sách tham khảo môn Ngữ văn trong việc khai thác ngữ liệu Truyện Kiều để xây dựng hệ thống bài tập thực hành giao tiếp tiếng Việt.

Phần có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là hệ thống tiêu chí nhận diện phát ngôn, mô hình phân loại sáu kiểu câu theo mục đích phát ngôn tại Chương 1 và toàn bộ phương pháp xử lý hành vi gián tiếp cùng hệ thống bảng số liệu tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án căn cứ vào tiêu chí hình thức nào để nhận diện đơn vị một hành động ngôn ngữ trong văn bản Truyện Kiều?

Luận án coi văn bản Truyện Kiều là một chỉnh thể giao tiếp. Tác giả quy ước mỗi câu (phát ngôn) tương ứng với một hành động ngôn ngữ. Dấu hiệu hình thức để phân định các phát ngôn là dấu kết thúc câu trong văn bản phiên âm, bao gồm dấu chấm, dấu chấm than và dấu chấm hỏi. Sau đó, tác giả dựa vào vị từ ngôn hành, các từ chuyên dụng và ngữ cảnh giao tiếp để xác định hành động ngôn ngữ chính yếu của phát ngôn.

2. Vì sao luận án đề xuất bổ sung hai kiểu câu cam kết và câu tuyên bố vào hệ thống phân loại câu theo mục đích nói?

Ngữ pháp truyền thống thường chia câu theo mục đích nói thành bốn loại: trình bày, nghi vấn, cầu khiến và cảm thán. Tác giả luận án cho rằng cách chia này chưa bao quát được các phát ngôn mang hiệu lực cam kết (hứa, thề, cam đoan) và tuyên bố (tuyên án, kết tội). Do đó, dựa trên khung phân loại năm lớp hành vi ở lời của J. Searle, luận án đề xuất bổ sung kiểu câu cam kết và câu tuyên bố để thiết lập hệ thống sáu loại câu tương ứng với các nhóm hành động ở lời trong thực tế hành ngôn.

3. Sự khác nhau giữa việc phân loại nhóm hành động ở Chương 2 và Chương 3 trong luận án là gì?

Tại Chương 2 (Hành động ngôn ngữ trực tiếp), tác giả khảo sát năm nhóm hành động theo đúng phân loại của J. Searle gồm: Trình bày, Điều khiển, Biểu cảm, Cam kết, Tuyên bố (nhóm điều khiển gồm cả hỏi và cầu khiến trực tiếp). Tại Chương 3 (Hành động ngôn ngữ gián tiếp), do số lượng ngữ liệu lớn và tính chất biểu hiện gián tiếp rất đa dạng, tác giả tách nhóm điều khiển thành hai nhóm riêng biệt là nhóm hành động hỏi và nhóm hành động cầu khiến để khảo sát chi tiết.

4. Luận án sử dụng những văn bản ngữ liệu cụ thể nào để khảo sát và đối chiếu?

Ngữ liệu chính của Truyện Kiều được trích xuất từ văn bản do Đào Duy Anh khảo cứu và chú giải trong cuốn Từ điển Truyện Kiều do Nhà xuất bản Khoa học ấn hành năm 1974. Ngữ liệu so sánh đối chiếu được lấy từ tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân theo bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh, do Nguyễn Đăng Na hiệu đính, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm ấn hành năm 2008.

5. Luận án dựa trên những tiêu chí cấu trúc - ngữ pháp nào để phân biệt động từ ngữ vi với động từ trình bày?

Luận án xác định động từ ngữ vi (performative verb) dựa trên ba tiêu chí nghiêm ngặt: chủ ngữ của phát ngôn phải ở ngôi thứ nhất; bổ ngữ của động từ vị ngữ phải ở ngôi thứ hai; động từ vị ngữ thể hiện hành động xảy ra ngay tại thời điểm nói (ở thời hiện tại) và không kết hợp với các phụ từ chỉ thời gian hay thể tình thái như đã, sẽ, đang, vừa, mới, rồi. Nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn này, động từ chỉ hành vi nói năng sẽ hoạt động như một động từ trình bày thông thường.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều" của tác giả Dương Thị Thúy Vinh là công trình nghiên cứu hệ thống về các hành vi ở lời trực tiếp và gián tiếp trong kiệt tác của Nguyễn Du trên nền tảng ngữ dụng học. Bằng việc phân tách phát ngôn qua tiêu chí ngữ pháp và ngữ cảnh, tác giả đã thống kê, phân loại và miêu tả đặc điểm của từng nhóm hành động trong lời kể chuyện và lời thoại nhân vật, đồng thời chỉ ra tính độc lập của các kiểu câu cam kết và tuyên bố trong tiếng Việt. Kết quả đối chiếu với Kim Vân Kiều truyện đã làm sáng tỏ nét sáng tạo riêng biệt của Nguyễn Du trong nghệ thuật tổ chức phát ngôn gián tiếp ở thể loại truyện thơ lục bát. Công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật và gợi mở các giải pháp ứng dụng thiết thực cho hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ, giảng dạy Ngữ văn và biên soạn sách giáo khoa phổ thông.