Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 1. Khái luận về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào công ty cổ phần 1. Khái niệm, đặc điểm của quyền sử dụng đất và giá trị quyền sử dụng đất - Khái niệm, đặc điểm của quyền sử dụng đất Trước khi Hiến pháp năm 1980 ra đời, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm “quyền sử dụng đất” chưa được sử dụng để chỉ những quyền năng của cá nhân, hộ gia đình, tổ chức đối với đất đai mà là khái niệm “quyền sở hữu” được sử dụng. Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá VI đã thông qua Hiến pháp năm 1980.
Một chế độ sở hữu duy nhất đối với đất đai ở nước ta đã được xác lập, đó là chế độ công hữu dưới tên gọi “sở hữu toàn dân”. Trên cơ sở đó, Luật Đất đai năm 1987 được ban hành và khái niệm “quyền sử dụng đất” chính thức được sử dụng. Dưới góc độ khoa học pháp lý, QSDĐ là một quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Quyền sử dụng đất là một sáng tạo pháp lý nhằm thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta, là một công cụ pháp lý để giúp Nhà nước thực hiện được chức năng đại diện chủ sở hữu của mình, đồng thời, cũng là một phương tiện pháp lý để ghi nhận và bảo đảm thực hiện một cách có hiệu quả các quyền của người trực.
Về góc độ này, “QSDĐ là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước”. Điều 189 Bộ luật dân sự năm 2015 định nghĩa: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”. Tìm hiểu về bản chất pháp lý, quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho. BLDS năm 2015 khi quy định về quyền tài sản: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, QSDĐ và các quyền tài sản khác” đã ghi nhận QSDĐ là một loại quyền tài sản hay nói cách khác QSDĐ là quyền có thể trị giá 1 được bằng tiền.
Như vậy, QSDĐ có thể được hiểu là quyền tài sản của chủ thể sử dụng đất thể hiện quyền năng đối với đất đai có thể trị giá bằng tiền và được lưu thông dân sự. Tóm lại: Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho Đặc điểm của quyền sử dụng đất: Thứ nhất, quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản: Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Thứ hai, quyền sử dụng đất là một vật quyền hạn chế: Quyền sử dụng đất tồn tại dưới dạng đất đai.
Do đặc tính có ích của đất nên mọi hoạt động của con người đều phải thực hiện trên đất và tác động vào đất nên tính chất đối vật của quyền sử dụng đất là không thể phủ nhận. Điều 166 Luật đất đai năm 2013 quy định các quyền năng chung của quyền sử dụng đất bao gồm: Quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.; những quyền năng riêng phụ thuộc vào từng loại đất cụ thể và hình thức làm phát sinh quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất. Ba là, quyền sở hữu toàn dân về đất đai có tính vĩnh viễn, trong khi đó quyền sử dụng đất thì không. Tính vĩnh viễn của quyền sở hữu toàn dân về đất đai là không bị giới hạn về mặt thời gian, còn quyền sử dụng đất lại bị giới hạn trong thời hạn sử dụng đất đối với từng loại đất cụ thể khi hết thời hạn sử dụng đất mà không được Nhà nước gia hạn thì quyền sử dụng đất của các chủ thể bị chấm dứt.
Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phần Theo quy định tại Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020, Công ty cổ phần (Công ty CP) là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối 2 thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này. Công ty cp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. Những đặc điểm cơ bản của Công ty cổ phần gồm có: Về tính chất khi thành lập, Công ty cổ phần là loại công ty đối vốn.
Điều đó có nghĩa là khi thành lập công ty chủ yếu quan tâm đến vốn góp, còn việc ai góp vốn không quan trọng. Vì vậy Công ty cổ phần có cấu trúc vốn mở. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giạ trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu.
Về thành viên công ty: Là loại hình công ty đối vốn nên theo truyền thống pháp luật về công ty của các quốc gia trên thế giới, việc quy định số thành viên tối thiểu phải có khi thành lập cũng như trong suốt quá trình hoạt động đã trở thành thông lệ quốc tế trong suốt mấy trăm năm tồn tại của Công ty cổ phần. Pháp luật chỉ quy định số thành viên tối thiểu mà không giới hạn số thành viên tối đa. Khái niệm, đặc điểm góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào công ty cổ phần - Khái niệm: Theo Từ điển Tiếng Việt, “vốn” là “tổng thể nói chung những tài sản bỏ ra lúc đầu thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất, kinh doanh nói chung, trong hoạt động sinh lợi”. Ở góc độ kinh tế, “vốn” là giá trị tư bản hay tài sản tài chính được sử dụng vào mục đích kinh doanh và góp vốn được hiểu là những đóng góp mà tổng cộng các phần đóng góp ấy trở thành một dấu hiệu đại diện cho số vốn của công ty.
Số vốn góp này được sử dụng nhằm bảo đảm các chi phí cho hoạt động của doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ. Còn ở góc độ pháp lý thì góp vốn được hiểu là hành vi pháp lý nhằm đưa tài sản của mình vào một hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đổi lấy quyền lợi từ công ty. Mối quan hệ này gồm có tài sản góp vốn, bên góp vốn và bên nhận góp vốn. Bên góp vốn không nhận được bất kỳ khoản tiền nào từ việc góp vốn vào công ty nhưng sẽ nhận được các giá trị khác là 3 quyền lợi trong công ty.
Vốn góp là yếu tố vô cùng quan trọng không thể bỏ qua khi thành lập bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào. Đây là yếu tố không chỉ quyết định sự sống còn của một doanh nghiệp mà còn phản ánh khả năng thực hiện nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp đó, xác định quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, nhà đầu tư của công ty. Từ điển Luật học định nghĩa, góp vốn là việc nhà đầu tư đưa tài sản dưới các hình thức khác nhau vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu công ty. Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 định nghĩa góp vốn như sau: “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm góp vốn để thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập”.
Bên cạnh đó, Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Từ đó, có thể hiểu một cách chung nhất, góp vốn là một hành vi pháp lý nhằm đưa tài sản của một cá nhân, tổ chức vào làm vốn để tiến hành sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận. Theo khoản 18 Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2020 giải thích thuật ngữ góp vốn. Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm góp vốn để thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập.
Theo Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về tài sản góp vốn như sau: Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Góp vốn bằng quyền sử dụng đất, thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, góp vốn bằng quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của mình cho công ty mình tham gia góp vốn. Tuỳ vào từng loại hình doanh nghiệp mà pháp luật quy định khác nhau về các vấn đề xoay quanh việc góp vốn.
Như vậy, góp vốn bằng quyền sử dụng đất là việc người góp vốn chuyển quyền sử dụng đất của mình cho công ty mình tham gia góp vốn.