Chương I: Những vấn đề lý luận về góp vốn và góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Khái quát chung về góp vốn 1. Khái niệm góp vốn Trên thực tế, vốn là điều kiện và phương tiện để kinh doanh. Thông qua hành vi góp vốn, người góp vốn cũng có lợi ích và trách nhiệm nhất định gắn liền với doanh nghiệp.
Có thể thấy góp vốn là một nội dung quan trọng để thành lập cũng như duy trì hoạt động của một doanh nghiệp. Vậy có thể hiểu đầy đủ về hành vi góp vốn này như thế nào? Theo khoản 13, điều 4, Luật Doanh Nghiệp 2014, vốn được hiểu là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm: góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập. Từ khái niệm trên, có thể hiểu góp vốn là hành vi pháp lý nhằm đưa tài sản của mình vào một hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm kiếm lời.
Trong mối quan hệ góp vốn, gồm có bên góp vốn, bên nhận góp vốn và tài sản góp vốn. Việc góp vốn nhằm tạo ra cơ sở đầu tiên cho bất kỳ một hoạt động sản xuất, kinh doanh nào. Vì chỉ khi có vốn, một doanh nghiệp hay một cá nhân mới có thể tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo pháp luật; vốn là điều kiện bắt buộc để một cá nhân, tổ chức được phép tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hệ quả pháp lý của hành vi này sẽ hình thành pháp nhân mới (tức trường hợp góp vốn thành lập doanh nghiệp) và không hình thành pháp nhân mới(tức trường hợp góp vốn vào doanh nghiệp đang hoạt động).
Như vậy, góp vốn đã được ấn định như nghĩa vụ căn bản của mỗi thành viên công ty. Đặc biệt đối với công ty có nhiều thành viên, khi mỗi thành viên cam kết thực hiện nghĩa vụ góp vốn thì cũng đồng nghĩa với việc khi đó mỗi thành 10 Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com Dịch vụ viết luận văn trọn gói website: luanvantot.com Zalo/tele 0934573149 viên đã tự ràng buộc mình trở thành con nợ của công ty. Và hiển nhiên phần vốn góp của các thành viên đều trở thành tài sản của công ty. Bản chất pháp lý của hành vi góp vốn Khi ta xem xét công ty, ta thấy công ty được xem xét trên hai phương diện là phương diện kinh tế và pháp lý.
Trên phương diện kinh tế, công ty được xem như là một thực thể kinh doanh mà được tạo lập trên cơ sở sự góp vốn của thành viên hoặc các thành viên; còn trên phương diện pháp lý, công ty được xem là hành vi pháp lý. Do đó khi ta xem xét bản chất của hành vi góp vốn, ta cũng phải xem xét chúng trên cả hai phương diện kinh tế và pháp lý. Xét trên phương diện kinh tế, góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty hay là việc tạo tài sản cho công ty đảm bảo duy trì hoạt động của công ty và đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ. Xét trên phương diện kinh tế là vậy còn xét trên phương diện pháp lý thì góp vốn là hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sản cho công ty để đổi lại có được quyền lợi và trách nhiệm nhất định đối với công ty.
Hành vi chuyển giao để nhận lại quyền lợi và nghĩa vụ nhất định này khác với hành vi mua bán hay cho thuê tài sản. Trong hành vi mua bán hay cho thuê tài sản, khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hay quyền hưởng dụng đối với tài sản thì người chuyển giao sẽ nhận lại được một khoản tiền từ giá bán hay giá cho thuê tài sản. Còn trong hành vi góp vốn, người chuyển giao tài sản góp vốn cho công ty sẽ không được nhận lại một khoản tiền tương ứng với giá trị tài sản mà chỉ nhận lại được quyền lợi của công ty tương ứng với phần vốn góp có thể quy đổi ra thành tiền, tuy nhiên còn phụ thuộc vào điều lệ và quy chế của từng công ty khác nhau. Tài sản góp vốn Theo Bộ Luật dân sự của nước Cộng hòa Pháp: “Doanh nghiệp do hai hay nhiều người thành lập trên cơ sở thỏa thuận bằng hợp đồng về việc đóng 11 Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com Dịch vụ viết luận văn trọn gói website: luanvantot.com Zalo/tele 0934573149 góp, sử dụng tài sản hoặc công sức của họ vào hoạt động kinh doanh chung nhằm chia lãi hoặc thu lợi.
Trong những trường hợp do pháp luật quy định, doanh nghiệp có thể do một người thành lập. Các thành viên doanh nghiệp cam kết cùng chịu lỗ” [5, Điều 1832]. Với quy định này, có thể thấy có nhiều hình thức góp vốn khác nhau. Hiện nay, người ta phân ra ba hình thức góp vốn: góp vốn bằng tài sản; góp vốn bằng tri thức; góp vốn bằng hoạt động hay công việc.
Đứng trên góc độ lý thuyết, các hình thức này đều có vai trò như nhau nhưng trên thực tế, góp vốn bằng tài sản là hình thức phổ biến và quan trọng nhất. Nếu như góp gốn bằng tri thức, người góp vốn phải mang tri thức của mình ra để phục vụ cho lợi ích công ty. Còn nếu góp vốn bằng hoạt động hay công việc,người góp vốn cũng phải lao động một cách cần mẫn và trung thực vì sự phát triển của công ty. Hai hình thức góp vốn này khó có thể đem đi xác định giá trị dẫn đến việc tính giá trị phần vốn góp của người góp vốn dưới hai hình thức này là không dễ dàng.
Việc góp vốn vào các doanh nghiệp chủ yếu là dưới hình thức góp vốn bằng tài sản.Nếu không có tài sản thì công ty không thể hoạt động được. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, tài sản góp vốn bao gồm: “1. Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.” [Điều 35] Pháp luật Việt Nam sử dụng cách thức liệt kê những đối tượng có thể góp vốn vào doanh nghiệp. Và để tránh trường hợp liệt kê thiếu tài sản có thể mang 12 Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com Dịch vụ viết luận văn trọn gói website: luanvantot.com Zalo/tele 0934573149 đi góp vốn, Luật Doanh nghiệp còn quy định tài sản góp vốn thêm trường hợp bao gồm các tài sản khác có thể định giá được bằng tiền Việt Nam. Như vậy, tài sản có thể đem góp vốn theo quy định của pháp luật cũng rất đa dạng. Tuy nhiên, chúng ta có thể phân chia tài sản góp vốn vào doanh nghiệp thành ba loại: góp vốn bằng tiền, góp vốn bằng vật chất liệu, góp vốn bằng quyền.
Góp vốn bằng tiền: Góp vốn bằng tiền là việc cá nhân hay tổ chức đem chuyển một khoán tiền (Việt Nam đồng, ngoại tệ) hay những giấy tờ có giá trị như ngân phiếu, trái phiếu của mình để góp vốn vào công ty và được hưởng quyền lợi tương ứng với phần vốn đã góp. Góp vốn bằng tiền này có tính chất giống như việc bỏ tiền ra mua quyền lợi công ty. Khi đã cam kết góp vốn bằng tiền mà không góp hay góp không đúng hạn thì người cam kết bị coi như nợ công ty môt khoản tiền cam kết. Góp vốn bằng vật chất liệu hay hiện vật hoặc đồ vật thực chất là góp vốn bằng quyền sở hữu đồ vật hay vật phẩm mà có thể là bất động sản hữu hình, hoặc động sản hữu hình.
Việc góp vốn này gần giống với việc bán hay đổi hiện vật để lấy quyền lợi của công ty, hay nói cách khác là người góp vốn có được lợi ích từ công ty; còn công ty có được quyền sở hữu với hiện vật, vật chất liệu đó. Góp vốn bằng quyền: Đây là hình thức góp vốn phức tạp hơn góp vốn bằng tiền hay góp vốn bằng hiện vật, vật chất liệu. Góp vốn bằng quyền có thể được chia thành góp vốn bằng quyền hưởng dụng, góp vốn bằng sản nghiệp thương mại và góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Về nguyên tắc thì mọi tài sản đều có thể đem làm vốn góp của công ty, tuy nhiên để tài sản đó có đem góp vốn vào công ty hay không thì còn phải lệ thuộc vào sự thỏa thuận, điều lệ và quy chế của từng công ty.
Tài sản góp vốn có thể thuộc bất kể dạng nào như vật chất liệu hay các quyền vô hình, với điều kiện là các tài sản này phải là các tài sản có thể được chuyển giao trong dân sự một cách hợp pháp, bởi lẽ bản chất hành vi góp vốn đã là hành vi chuyển giao tài 13 Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com Dịch vụ viết luận văn trọn gói website: luanvantot.com Zalo/tele 0934573149 sản nên cần phải tuân theo các nguyên tắc chung liên quan đến chuyển giao tài sản. Quyền sở hữu trí tuệ và góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ Ngày nay,với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các tài sản sở hữu trí tuệ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế và xã hội. Vì thế, lĩnh vực này càng đòi hỏi người dân đặc biệt là nhóm chủ thể là tác giả, chủ sở hữu của tài sản sở hữu trí tuệ có sự hiểu biết đầy đủ về quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ, đảm bảo quyền và lợi ích của chính họ cũng như đồng thời đảm bảo được lợi ích của cộng đồng. Những vấn đề cơ bản về quyền sở hữu trí tuệ 1.
Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ Muốn hiểu được khái niệm thế nào là quyền sở hữu trí tuệ thì trước tiên ta nên đi từ khái niệm về trí tuệ. “Trí tuệ” là thuật ngữ chỉ khả năng nhận thức lý tính của con người đạt đến một trình độ nhất định về một sự vật hay hiện tượng nào đó.