Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình đặc thù, giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và phản ánh trình độ sáng tạo tri thức của mỗi quốc gia. Trong môi trường kinh doanh hiện đại, việc khai thác tài sản trí tuệ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất sản xuất, tiết giảm chi phí vận hành và tạo dựng lợi thế cạnh tranh riêng biệt thông qua các sản phẩm mang tính đặc trưng.
Mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam (tiêu biểu là Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp) đã chính thức ghi nhận quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản được phép sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp, nhưng trên thực tế hoạt động này vẫn chưa đạt hiệu quả tương xứng. Thực tiễn áp dụng phát sinh nhiều vướng mắc liên quan đến tính chất vô hình của tài sản, cơ chế định giá, thủ tục chuyển giao quyền và rủi ro pháp lý. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận "Pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Bùi Thị Thủy tập trung phân tích toàn diện khung pháp lý và thực tiễn áp dụng nhằm tìm ra các giải pháp khắc phục những tồn tại hiện nay.
Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về góp vốn và góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ; phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn thi hành; từ đó chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả và đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng.
Nhiệm vụ nghiên cứu (theo văn bản):
- Nhiệm vụ thứ nhất: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về góp vốn và góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
- Nhiệm vụ thứ hai: Phân tích đánh giá pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật hiện hành.
- Nhiệm vụ thứ ba: Qua nghiên cứu, phân tích đánh giá pháp luật và thực tiễn hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ để đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ.
- Phạm vi nghiên cứu: Khái quát hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đồng thời có sự tham khảo, đối chiếu với các quy định tương đương tại một số quốc gia trên thế giới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu lý luận pháp lý kết hợp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật và khảo cứu thực tiễn áp dụng.
Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:
- Quan điểm lý luận: Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ theo quan điểm của các học giả (tiêu biểu như Lê Nết), định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), cùng các lý thuyết về bản chất kinh tế và bản chất pháp lý của hành vi góp vốn.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam:
- Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005.
- Luật Doanh nghiệp qua các thời kỳ: năm 1990, 1999, 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 (đặc biệt là Điều 4, Điều 35, Điều 37).
- Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 (Điều 4, Điều 19, Điều 20, Điều 37–44, Điều 76–79, Điều 84–85, Điều 130, Điều 158–163, Điều 211).
- Luật Thương mại và các văn bản điều chỉnh đầu tư trong lịch sử như Điều lệ đầu tư nước ngoài (ban hành kèm Nghị định số 115/NĐ-CP ngày 18/04/1977), Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987.
- Điều ước quốc tế và luật nước ngoài tham chiếu: Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV), Điều 1832 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; quán triệt các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp lý luận, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu giữa các thời kỳ lập pháp và tham khảo luật pháp quốc tế), phương pháp thống kê và đánh giá thực tiễn.
Nguồn dữ liệu: Các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành luật dân sự, luật thương mại, luật sở hữu trí tuệ; các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các tài liệu án lệ, vụ việc thực tế (như vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến công ty nệm Kim Đan).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Những vấn đề lý luận về góp vốn và góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận toàn diện về hành vi góp vốn, quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế đưa tài sản trí tuệ vào kinh doanh.
- Khái quát chung về góp vốn và tài sản góp vốn:
- Khái niệm và bản chất: Góp vốn là hành vi pháp lý chuyển giao tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty (theo khoản 13 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014) nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Về mặt kinh tế, góp vốn tạo lập thực thể kinh doanh và duy trì hoạt động; về mặt pháp lý, người góp vốn chuyển quyền sở hữu/sử dụng tài sản để nhận lại quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần vốn góp (khác với mua bán hoặc cho thuê tài sản).
- Phân loại tài sản góp vốn: Dựa trên quy định của Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014 và tham chiếu Điều 1832 BLDS Pháp, tài sản góp vốn được phân chia thành: góp vốn bằng tiền, góp vốn bằng vật chất liệu (hiện vật), và góp vốn bằng quyền (quyền hưởng dụng, sản nghiệp thương mại, quyền sở hữu trí tuệ).
- Bản chất và phân loại đối tượng quyền sở hữu trí tuệ:
- Khóa luận làm rõ quyền sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình, được bảo hộ theo 3 nhóm đối tượng chính quy định tại Điều 4 Luật SHTT 2005 (sửa đổi 2009):
- Quyền tác giả và quyền liên quan: Quyền tác giả bảo hộ hình thức sáng tạo (tính nguyên gốc, tính định hình), không bảo hộ nội dung, phát sinh tự động; quyền liên quan bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
- Quyền sở hữu công nghiệp: Gồm nhóm đối tượng sáng tạo (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh) và nhóm chỉ dẫn thương mại (nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh).
- Quyền đối với giống cây trồng: Điều kiện bảo hộ gồm tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và tên gọi phù hợp.
- Khóa luận làm rõ quyền sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình, được bảo hộ theo 3 nhóm đối tượng chính quy định tại Điều 4 Luật SHTT 2005 (sửa đổi 2009):
- Đặc trưng của tài sản sở hữu trí tuệ trong quan hệ góp vốn:
- (1) Là tài sản vô hình, không có tính chất vật lý; (2) Giới hạn về lãnh thổ và thời hạn bảo hộ; (3) Giá trị biến động và phụ thuộc vào năng lực khai thác, tâm lý xã hội và mức độ cạnh tranh; (4) Khả năng sử dụng đồng thời bởi nhiều chủ thể mà không bị hao mòn cơ học; (5) Tồn tại song song quyền nhân thân và quyền tài sản (chỉ quyền tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản mới được mang đi góp vốn).
- Tiến trình lịch sử quy định pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT tại Việt Nam:
| Giai đoạn lịch sử | Văn bản quy phạm tiêu biểu | Đặc điểm ghi nhận quyền góp vốn bằng SHTT |
|---|---|---|
| Trước 1945 | Các quy định thời kỳ thuộc địa | Chưa hình thành khung pháp lý chung về tài sản trí tuệ trong nước. |
| 1945 - trước 1995 | Nghị định 115/NĐ-CP (1977), Luật ĐTNN (1987) | Bắt đầu ghi nhận việc góp vốn bằng đối tượng SHTT trong xí nghiệp liên doanh, nhưng chỉ áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài. |
| 1995 - trước 2005 | BLDS 1995 (Phần IV, 61 điều), Luật Doanh nghiệp 1999 | Lần đầu tiên chính thức cho phép nhà đầu tư trong nước sử dụng quyền SHTT làm tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp. |
| 2005 - 2009 | BLDS 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật SHTT 2005 | Hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ, quy định cụ thể quyền tác giả, SHCN, giống cây trồng và thủ tục góp vốn. |
| Từ 2009 đến nay | Luật SHTT sửa đổi 2009, Luật Doanh nghiệp 2014 | Mở rộng thời hạn bảo hộ quyền tác giả (tăng lên 75-100 năm), kéo dài thời hạn thẩm định đơn SHCN, hoàn thiện quy định định giá. |
Chương II: Pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Chương 2 phân tích chuyên sâu các chế định pháp luật thực định điều chỉnh quan hệ góp vốn bằng quyền SHTT.
- Chủ thể trong quan hệ góp vốn:
- Bên góp vốn: Phải là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền SHTT. Khóa luận phân định chi tiết các trường hợp xác lập chủ sở hữu: tác giả đồng thời là chủ sở hữu; đồng tác giả; tổ chức/cá nhân giao nhiệm vụ hoặc ký hợp đồng sáng tạo; người thừa kế; người nhận chuyển giao quyền (Điều 37–41 Luật SHTT). Đối với quyền SHCN, chủ sở hữu là người được cấp văn bằng bảo hộ (trừ bí mật kinh doanh phát sinh hợp pháp và được bảo mật, tên thương mại xác lập qua sử dụng, và nhãn hiệu nổi tiếng).
- Bên nhận vốn góp: Các loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp (CTCP, Công ty TNHH 1TV, Công ty TNHH 2TV trở lên, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp Nhà nước, HTX, DN liên doanh). Lưu ý: Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân nên không tiếp nhận vốn góp bằng quyền SHTT để hình thành vốn điều lệ theo cơ chế này. Ngoài ra, việc góp vốn vào dự án liên doanh theo hợp đồng (không thành lập pháp nhân) hiện vẫn thiếu vắng quy định cụ thể.
- Đối tượng và điều kiện góp vốn:
- Đối tượng: Chỉ bao gồm quyền tài sản và quyền nhân thân gắn liền với quyền tài sản (như quyền công bố tác phẩm). Quyền nhân thân không gắn liền với tài sản (đặt tên tác phẩm, đứng tên thật/bút danh, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm theo Điều 19 Luật SHTT) không được phép chuyển giao hay đem góp vốn.
- Điều kiện tài sản: (1) Được bảo hộ hợp pháp tại Việt Nam (có văn bằng bảo hộ hoặc giấy chứng nhận/đáp ứng điều kiện tự động bảo hộ); (2) Đang còn trong thời hạn bảo hộ hiệu lực; (3) Không có tranh chấp, khiếu nại, không bị phong tỏa hay thế chấp/cầm cố.
- Quy định về định giá tài sản góp vốn: Khóa luận phân tích sự chuyển biến tích cực trong quy định định giá giữa Luật Doanh nghiệp 2005 (Điều 30) và Luật Doanh nghiệp 2014 (Điều 37):
| Tiêu chí so sánh | Luật Doanh nghiệp 2005 (Điều 30) | Luật Doanh nghiệp 2014 (Điều 37) |
|---|---|---|
| Thẩm quyền định giá khi thành lập DN | Thành viên/cổ đông sáng lập tự định giá theo nguyên tắc nhất trí; chưa quy định việc thuê tổ chức chuyên nghiệp khi thành lập. | Bổ sung quyền thuê tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp; kết quả phải được đa số thành viên/cổ đông sáng lập chấp thuận. |
| Thẩm quyền định giá trong quá trình hoạt động | Doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận hoặc do tổ chức chuyên nghiệp định giá; chưa rõ ai đại diện DN thực hiện quyền này. | Quy định rõ ràng hơn về cơ chế thỏa thuận giữa tổ chức chuyên nghiệp, người đại diện theo pháp luật của DN và người góp vốn. |
| Trách nhiệm pháp lý khi định giá cao hơn giá trị thực tế | Các thành viên/cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với toàn bộ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty. | Quy định rõ ràng, cụ thể: các thành viên/cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm số tiền bằng đúng mức chênh lệch giữa giá trị định giá và giá thực tế. |
- Hợp đồng, chuyển giao và hậu quả pháp lý:
- Hợp đồng góp vốn phải tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và các quy định riêng của Luật SHTT về chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng.
- Khi chuyển quyền sở hữu đối với các đối tượng SHCN đã đăng ký, bắt buộc phải thực hiện thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển nhượng tại cơ quan quản lý nhà nước về SHTT (Cục Sở hữu trí tuệ).
- Đánh giá hạn chế: Pháp luật còn thiếu các tiêu chí định lượng chuẩn hóa để định giá tài sản trí tuệ; thiếu quy định điều chỉnh trường hợp văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ hiệu lực trong thời gian doanh nghiệp đang hoạt động.
Chương III: Thực trạng và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và đề xuất các nhóm giải pháp.
- Đánh giá thực trạng:
- Hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT tại Việt Nam còn hạn chế về số lượng và quy mô, chủ yếu diễn ra dưới hình thức thỏa thuận nội bộ. Các bên thường e ngại rủi ro pháp lý do thiếu các quy định chi tiết về thủ tục đăng ký biến động tài sản và định giá.
- So sánh quốc tế: Một số quốc gia phát triển đã xây dựng hệ thống thẩm định giá tài sản trí tuệ chuyên nghiệp, có cơ sở dữ liệu định giá chuẩn và thị trường giao dịch quyền SHTT tập trung.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Xây dựng thông tư liên tịch hoặc nghị định hướng dẫn chuyên sâu về điều kiện, trình tự và phương pháp định giá quyền sở hữu trí tuệ dùng để góp vốn vào doanh nghiệp.
- Bổ sung quy định xử lý hệ quả pháp lý khi quyền SHTT đem góp vốn bị chấm dứt/hủy bỏ hiệu lực trước thời hạn thỏa thuận góp vốn.
- Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động góp vốn bằng quyền sử dụng tài sản trí tuệ trong các dự án hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân mới.
- Nhóm kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi:
- Nâng cao năng lực chuyên môn của các tổ chức thẩm định giá và xây dựng mạng lưới chuyên gia thẩm định tài sản vô hình.
- Tối ưu hóa quy trình thủ tục đăng ký chuyển giao quyền SHTT tại Cục Sở hữu trí tuệ nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ.
- Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư về giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả pháp lý chính được đúc kết:
- Hệ thống hóa các quy định từ Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật SHTT sửa đổi 2009: Xác định rõ thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng đã công bố là 75 năm (chưa công bố trong 25 năm thì được bảo hộ 100 năm kể từ ngày định hình); thời hạn thẩm định đơn sáng chế không quá 18 tháng, đơn nhãn hiệu không quá 9 tháng, đơn kiểu dáng không quá 7 tháng.
- Phân tích chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền SHTT: Quy định bổ sung hành vi xâm phạm gây thiệt hại không bắt buộc phải qua bước khuyến cáo trước bằng văn bản, với mức xử phạt hành chính tối đa theo luật định có thể lên tới 500 triệu đồng.
- Làm rõ phạm vi bảo hộ giống cây trồng theo chuẩn UPOV chuyển từ "giống cây trồng và vật liệu nhân giống" thành "vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch" (Điều 4, Điều 186 Luật SHTT sửa đổi 2009).
- Hệ thống giải pháp và kiến nghị:
- Đề xuất mô hình định giá kết hợp giữa thỏa thuận nội bộ và thẩm định chuyên nghiệp có bảo hiểm rủi ro.
- Đề xuất bổ sung quy chế đăng ký phần vốn góp bằng quyền SHTT trong sổ đăng ký thành viên/cổ đông nhằm bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba.
- Đóng góp của khóa luận: Khóa luận đã tiếp cận vấn đề góp vốn bằng quyền SHTT dưới góc nhìn giao thoa giữa Luật Doanh nghiệp và Luật Sở hữu trí tuệ; chỉ rõ điểm bất cập của cơ chế định giá theo quy định cũ (Luật Doanh nghiệp 2005) và làm nổi bật tính ưu việt của Luật Doanh nghiệp 2014 trong việc xác định trách nhiệm liên đới nộp bù giá trị chênh lệch.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc phân tích các quy phạm pháp luật thành văn; nguồn số liệu thực tế về các thương vụ góp vốn bằng quyền SHTT tại các doanh nghiệp Việt Nam chưa được thống kê định lượng đầy đủ do tính chất bảo mật kinh doanh của các bên tham gia.
- Các so sánh với pháp luật nước ngoài mới dừng lại ở mức độ khảo cứu nguyên tắc chung, chưa đi sâu vào từng án lệ cụ thể tại các hệ thống thông luật (Common Law).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc góp vốn bằng quyền sử dụng quyền SHTT khi doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản.
- Xây dựng các mô hình toán học và kinh tế lượng ứng dụng trong việc định giá tài sản vô hình tại thị trường Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Luật Thương mại và Quản trị kinh doanh.
- Các luật sư, chuyên viên tư vấn pháp lý doanh nghiệp và cán bộ thẩm định giá tài sản.
- Các nhà sáng chế, chủ sở hữu nhãn hiệu và các nhà khởi nghiệp (startup) có nhu cầu sử dụng tài sản trí tuệ để thành lập hoặc tăng vốn điều lệ công ty.
- Nội dung giá trị nhất để tra cứu:
- Bảng tổng hợp điều kiện bảo hộ và khả năng chuyển giao của từng đối tượng quyền SHTT (Chương I).
- Phân tích chi tiết trách nhiệm pháp lý và cơ chế định giá tài sản góp vốn theo Luật Doanh nghiệp 2014 so với Luật Doanh nghiệp 2005 (Chương II).
Câu hỏi thường gặp
1. Quyền nhân thân đối với tác phẩm có được dùng để góp vốn vào doanh nghiệp không?
Không. Về nguyên tắc, quyền nhân thân không gắn liền với tài sản (như quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên thật/bút danh, bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm quy định tại Điều 19 Luật SHTT) gắn liền với bản thân tác giả và không thể chuyển giao. Do đó, chủ sở hữu chỉ có thể dùng quyền tài sản hoặc quyền nhân thân gắn liền với tài sản (như quyền công bố tác phẩm) để thực hiện việc góp vốn.
2. Khi các thành viên định giá tài sản trí tuệ cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn, trách nhiệm pháp lý theo Luật Doanh nghiệp 2014 được xử lý như thế nào?
Theo Điều 37 Luật Doanh nghiệp 2014, các thành viên hoặc cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm một khoản tiền đúng bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm kết thúc định giá. Quy định này khắc phục điểm bất cập của Luật Doanh nghiệp 2005 (trước đây bắt liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với toàn bộ các khoản nợ của công ty).
3. Doanh nghiệp tư nhân có được tiếp nhận vốn góp bằng quyền sở hữu trí tuệ để thành lập không?
Không. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam, nên vấn đề nhận vốn góp bằng quyền sở hữu trí tuệ để xác lập phần vốn điều lệ độc lập không được đặt ra đối với loại hình này.
4. Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 đã thay đổi thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh và mỹ thuật ứng dụng như thế nào?
Khoản 2 Điều 27 Luật SHTT sửa đổi 2009 đã nâng thời hạn bảo hộ từ 50 năm lên 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Đối với tác phẩm chưa được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi được định hình, thời hạn bảo hộ sẽ là 100 năm kể từ ngày định hình.
5. Người được cấp chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý có được mang chỉ dẫn địa lý đó đi góp vốn vào doanh nghiệp không?
Không. Chỉ dẫn địa lý là tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng/nhà nước. Tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký chỉ dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu độc quyền đối với chỉ dẫn địa lý đó; do vậy quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý không được phép chuyển giao hay mang đi góp vốn như các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp khác.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Bùi Thị Thủy đã phân tích có hệ thống nền tảng lý luận và quy định pháp luật thực định về việc đưa quyền sở hữu trí tuệ vào làm vốn điều lệ doanh nghiệp tại Việt Nam. Công trình chỉ rõ những bước chuyển biến quan trọng của Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009, đồng thời nhận diện chính xác các khoảng trống về cơ chế định giá và thủ tục đăng ký chuyển quyền. Các nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho việc thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ trong nền kinh tế.