Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế tri thức và xu thế hội nhập toàn cầu, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vị trí là một loại tài sản vô hình đặc biệt có giá trị kinh tế to lớn. Việc khai thác và thương mại hóa các đối tượng sở hữu trí tuệ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, tiết giảm chi phí vận hành, xây dựng lợi thế cạnh tranh và tạo ra những sản phẩm mang nét đặc trưng riêng biệt. Pháp luật Việt Nam hiện hành, tiêu biểu là Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp, đã chính thức ghi nhận quyền sở hữu trí tuệ là một trong các loại tài sản được phép sử dụng để góp vốn thành lập hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, do tính chất vô hình, phức tạp về mặt pháp lý và kỹ thuật định giá, hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ trên thực tế tại Việt Nam vẫn gặp nhiều trở ngại và chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn đó, tác giả Bùi Thị Thủy đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay" nhằm phân tích toàn diện khung pháp lý, làm rõ nguyên nhân của những bất cập và đề xuất các giải pháp khắc phục.

Khóa luận xác định rõ mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về góp vốn và góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ; đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành; phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả trong thực tiễn và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Thứ nhất: Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về góp vốn cũng như hành vi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
    2. Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh quan hệ góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
    3. Thứ ba: Đánh giá thực tiễn thi hành, nhận diện các vướng mắc, tồn tại và nguyên nhân; từ đó kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng vào thực tiễn Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đồng thời có sự liên hệ, đối chiếu và tham khảo có chọn lọc các quy định tương đương trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận pháp lý chuyên ngành luật học kết hợp với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan:

  • Hệ thống văn bản pháp luật và văn kiện sử dụng:

    • Pháp luật trong nước: Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Doanh nghiệp năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Luật Đầu tư hiện hành, Luật Thương mại; Điều lệ đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định số 115/NĐ-CP ngày 18/04/1977 của Hội đồng Chính phủ.
    • Pháp luật nước ngoài và quốc tế: Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Pháp (Điều 1832); Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS - Điều 39); Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV).
    • Tài liệu học thuật trích dẫn: Quan điểm lý luận của học giả Lê Nết và định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO).
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, cùng các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
    • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu giữa các thời kỳ lập pháp và giữa luật Việt Nam với luật quốc tế), phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê.
  • Nguồn dữ liệu: Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, các công ước quốc tế, sách chuyên khảo, bài báo khoa học và các số liệu thống kê liên quan đến hoạt động sở hữu trí tuệ và đăng ký doanh nghiệp.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề lý luận về góp vốn và góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ

Chương đầu tiên tập trung xây dựng nền tảng lý thuyết vững chắc về hành vi góp vốn và bản chất đặc thù của tài sản trí tuệ:

  • Khái niệm và bản chất của góp vốn: Căn cứ khoản 13 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014, góp vốn là việc đưa tài sản vào để tạo thành vốn điều lệ của công ty (gồm góp vốn thành lập hoặc góp thêm vốn điều lệ). Dưới góc độ kinh tế, góp vốn tạo lập thực thể kinh doanh và bảo đảm khả năng thanh toán cho chủ nợ; dưới góc độ pháp lý, đây là hành vi chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản để nhận lại các quyền và nghĩa vụ thành viên tương ứng với phần vốn góp, hoàn toàn khác biệt với giao dịch mua bán hay cho thuê tài sản.
  • Phân loại tài sản góp vốn: Dẫn chiếu Điều 1832 Bộ luật Dân sự Pháp (góp bằng tài sản, tri thức, công việc) và Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014, khóa luận phân chia tài sản góp vốn thành ba nhóm chính: góp vốn bằng tiền, góp vốn bằng vật chất liệu (hiện vật) và góp vốn bằng quyền (quyền hưởng dụng, sản nghiệp thương mại, quyền sở hữu trí tuệ).
  • Hệ thống đối tượng và đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ: Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009), tác giả phân tích các nhóm đối tượng bảo hộ:
    • Quyền tác giả và quyền liên quan: Cơ chế bảo hộ tự động theo hình thức thể hiện (tính nguyên gốc, tính định hình), không bảo hộ nội dung ý tưởng. Quyền nhân thân không gắn liền với tài sản (Điều 19) không thể chuyển giao, chỉ có quyền tài sản (Điều 20) và quyền nhân thân gắn với tài sản mới được mang đi góp vốn.
    • Quyền sở hữu công nghiệp: Gồm nhóm đối tượng sáng tạo (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh) và nhóm chỉ dẫn thương mại (nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh). Trong đó, chỉ dẫn địa lý thuộc quyền quản lý của Nhà nước nên không được chuyển giao hay đem góp vốn; bí mật kinh doanh được bảo hộ tự động mà không cần đăng ký văn bằng.
    • Quyền đối với giống cây trồng: Bảo hộ giống cây mới thỏa mãn 5 điều kiện (tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và tên gọi phù hợp).
  • 5 đặc trưng cơ bản của góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ:
    1. Chủ thể góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản trí tuệ.
    2. Thủ tục chuyển giao quyền phải tuân thủ đồng thời pháp luật doanh nghiệp và các quy định chuyên ngành của Luật Sở hữu trí tuệ.
    3. Thời hạn góp vốn bị ràng buộc bởi thời hạn bảo hộ của từng đối tượng sở hữu trí tuệ.
    4. Phạm vi góp vốn chỉ giới hạn ở quyền tài sản và quyền nhân thân gắn liền với quyền tài sản.
    5. Việc xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ có độ phức tạp cao, phụ thuộc lớn vào sự thỏa thuận của các bên.
Giai đoạn lịch sử Văn bản/Dấu mốc pháp lý chủ yếu Điểm nhấn về cơ chế góp vốn bằng quyền SHTT
Trước năm 1945 Pháp luật thời kỳ thuộc địa và phong kiến Chưa hình thành quy định rõ ràng về quyền sở hữu trí tuệ và góp vốn bằng quyền SHTT.
1945 – trước 1995 Nghị định 115/NĐ-CP (1977), Luật Đầu tư nước ngoài (1987) Kinh tế kế hoạch hóa tập trung; việc góp vốn bằng SHTT lần đầu áp dụng nhưng chỉ dành riêng cho nhà đầu tư nước ngoài vào xí nghiệp liên doanh.
1995 – trước 2005 Bộ luật Dân sự 1995, Luật Doanh nghiệp 1990 & 1999 BLDS 1995 dành Phần IV với 61 điều điều chỉnh SHTT; Luật Doanh nghiệp 1999 lần đầu cho phép cá nhân, tổ chức trong nước góp vốn bằng quyền SHTT.
2005 – 2009 BLDS 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Luật SHTT có hiệu lực từ 01/7/2006 thiết lập khung pháp lý độc lập, thống nhất và đồng bộ cho việc bảo hộ và chuyển dịch tài sản trí tuệ.
2009 đến nay Luật sửa đổi, bổ sung Luật SHTT 2009, Luật Doanh nghiệp 2014 Mở rộng thời hạn bảo hộ quyền tác giả (lên 75 năm hoặc 100 năm); kéo dài thời hạn thẩm định đơn SHCN; bảo hộ giống cây trồng theo UPOV; tăng chế tài xử phạt hành chính đến 500 triệu đồng (Điều 211).

Chương II: Pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ

Chương này đi sâu rà soát, đánh giá các quy định thực định điều chỉnh trực tiếp quy trình, điều kiện và hệ quả pháp lý của hành vi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ:

  • Quy định về chủ thể:
    • Chủ thể góp vốn: Phải là chủ sở hữu hợp pháp quyền sở hữu trí tuệ. Khóa luận phân tích chi tiết các trường hợp xác lập tư cách chủ sở hữu quyền tác giả (tác giả tự đầu tư, đồng tác giả theo Điều 38, tổ chức/cá nhân giao nhiệm vụ hoặc ký hợp đồng sáng tạo theo Điều 39, người thừa kế theo Điều 40, bên nhận chuyển giao quyền theo Điều 41); chủ sở hữu quyền liên quan (Điều 44); chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp (người được cấp văn bằng bảo hộ, người sử dụng hợp pháp tên thương mại, người có được bí mật kinh doanh hợp pháp) và chủ sở hữu giống cây trồng.
    • Chủ thể nhận vốn góp: Có thể là tổ chức, cá nhân tham gia thành lập pháp nhân mới (công ty TNHH, CTCP, công ty hợp danh, doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã... riêng doanh nghiệp tư nhân không áp dụng tư cách pháp nhân để nhận góp vốn) hoặc các doanh nghiệp đang hoạt động tiếp nhận vốn góp, hợp tác kinh doanh theo hợp đồng không hình thành pháp nhân mới.
  • Đối tượng và điều kiện góp vốn: Đối tượng phải là các quyền tài sản có thể chuyển giao được. Điều kiện góp vốn bắt buộc bao gồm: đối tượng được bảo hộ hợp pháp tại Việt Nam (có văn bằng bảo hộ hoặc giấy chứng nhận đăng ký đối với loại hình bắt buộc/tự nguyện); còn thời hạn bảo hộ pháp lý trên lãnh thổ Việt Nam; và tài sản hoàn toàn không bị tranh chấp, kê biên, thế chấp hay cầm cố.
  • Cơ chế định giá tài sản góp vốn (So sánh Luật Doanh nghiệp 2005 và 2014): Khóa luận làm rõ sự tiến bộ của Luật Doanh nghiệp 2014 (Điều 37) so với Luật Doanh nghiệp 2005 (Điều 30). Luật 2014 đã cho phép tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp tham gia định giá tài sản ngay từ thời điểm thành lập doanh nghiệp (chỉ cần đa số thành viên/cổ đông sáng lập chấp thuận), đồng thời minh định rõ trách nhiệm của các sáng lập viên phải liên đới góp thêm số tiền chênh lệch nếu tài sản bị định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm hoàn tất định giá.
  • Thủ tục, hợp đồng và chuyển giao quyền: Phân tích quy trình lập hợp đồng góp vốn, thủ tục đăng ký chuyển quyền sở hữu công nghiệp tại Cục Sở hữu trí tuệ hoặc chuyển quyền sử dụng tài sản trí tuệ vào doanh nghiệp, cùng hậu quả pháp lý khi chấm dứt hoạt động góp vốn.
  • Đánh giá tổng quan: Khóa luận chỉ ra mặt tích cực là tạo hành lang pháp lý mở rộng nguồn vốn cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời chỉ rõ những khoảng trống pháp lý khiến hoạt động góp vốn bằng tài sản trí tuệ chưa đạt hiệu quả cao (thiếu hướng dẫn cụ thể về phương pháp định giá, cơ chế xác thực quyền đối với tài sản bảo hộ tự động còn lỏng lẻo).

Chương III: Thực trạng và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Chương cuối của khóa luận khái quát bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật và đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Thực trạng tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế: Đánh giá mức độ tham gia khiêm tốn của doanh nghiệp trong việc dùng tài sản trí tuệ để góp vốn; so sánh với kinh nghiệm quản lý, định giá và thương mại hóa tài sản trí tuệ tại một số quốc gia phát triển trên thế giới.
  • Các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Sở hữu trí tuệ, đặc biệt là ban hành chuẩn mực và quy chế hướng dẫn chi tiết về phương pháp thẩm định giá tài sản vô hình/tài sản trí tuệ.
  • Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi: Nâng cao năng lực chuyên môn của các tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp; tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ và cơ quan đăng ký kinh doanh; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật sở hữu trí tuệ cho cộng đồng doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Làm rõ bản chất pháp lý của việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ: đây là quan hệ chuyển dịch tài sản đặc thù, chỉ được thực hiện đối với quyền tài sản và quyền nhân thân gắn liền với quyền tài sản, chịu sự chi phối chặt chẽ bởi thời hạn và phạm vi bảo hộ lãnh thổ.
    • Phân tích chi tiết sự chuyển biến tích cực qua các mốc sửa đổi pháp lý, nổi bật là các quy định mới trong Luật Sở hữu trí tuệ 2009 (nâng thời hạn bảo hộ quyền tác giả lên 75-100 năm; điều chỉnh thời hạn thẩm định đơn sáng chế lên 18 tháng, nhãn hiệu lên 9 tháng, kiểu dáng lên 7 tháng; tăng mức phạt vi phạm hành chính đến 500 triệu đồng theo Điều 211) và Luật Doanh nghiệp 2014 (quy định cụ thể tại Điều 35 và Điều 37 về vai trò của tổ chức thẩm định giá và trách nhiệm liên đới bù trừ phần chênh lệch giá trị).
  • Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
    • Đề xuất xây dựng khung pháp lý chi tiết điều chỉnh quy trình góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ trong các dự án đầu tư/hợp tác kinh doanh không hình thành pháp nhân mới.
    • Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn tiêu chí, phương pháp định giá tài sản trí tuệ dùng trong góp vốn doanh nghiệp.
    • Tối ưu hóa thủ tục hành chính liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp khi góp vốn tại Cục Sở hữu trí tuệ.
  • Đóng góp của khóa luận: Khóa luận đã hệ thống hóa một cách có logic toàn bộ tiến trình lập pháp về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam từ năm 1977 đến nay, cung cấp góc nhìn đa chiều khi kết hợp giữa luật kinh doanh (Luật Doanh nghiệp) và luật tài sản đặc thù (Luật Sở hữu trí tuệ).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tiếp cận dưới góc độ phân tích quy phạm pháp luật lý thuyết và các văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu; do nguồn dữ liệu thực tế về các giao dịch góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ không hình thành pháp nhân tại Việt Nam còn hạn chế nên phần đánh giá thực tiễn tại một số nội dung chưa bao quát hết mọi tình huống tranh chấp phát sinh trong thương trường.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm đối với các vụ việc tranh chấp cụ thể tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại liên quan đến việc thoái vốn, giải thể doanh nghiệp có phần vốn góp bằng quyền sở hữu trí tuệ; nghiên cứu sâu về các mô hình định giá tài sản vô hình theo tiêu chuẩn quốc tế áp dụng cho thị trường khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (startup).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Kinh tế, Quản trị Kinh doanh và Quản trị Tài sản trí tuệ.
    • Các luật sư, chuyên viên tư vấn đầu tư, cán bộ pháp chế doanh nghiệp và các thẩm định viên về giá.
    • Các nhà sáng lập doanh nghiệp, cá nhân nắm giữ bằng sáng chế, nhãn hiệu hoặc giải pháp kỹ thuật có nhu cầu huy động vốn hoặc góp vốn thành lập công ty.
  • Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
    • Hệ thống tiêu chí phân loại đối tượng sở hữu trí tuệ được phép tham gia góp vốn (Chương I).
    • Bảng đối chiếu, phân tích sự thay đổi giữa Điều 30 Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều 37 Luật Doanh nghiệp 2014 về thẩm quyền và trách nhiệm liên đới trong định giá tài sản góp vốn (Chương II).

Câu hỏi thường gặp

1. Quyền nhân thân đối với tác phẩm có được dùng để góp vốn vào doanh nghiệp không?
Không. Theo phân tích của khóa luận, quyền nhân thân không gắn liền với quyền tài sản (như quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên thật/bút danh, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm theo Điều 19 Luật SHTT) gắn liền với nhân thân tác giả và không thể chuyển giao. Do đó, chủ sở hữu chỉ có thể dùng quyền tài sản hoặc quyền nhân thân gắn liền với tài sản để thực hiện việc góp vốn.

2. Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý có được mang đi góp vốn thành lập công ty không?
Không. Khóa luận chỉ rõ chỉ dẫn địa lý là tài sản thuộc sở hữu chung của Nhà nước; các tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện địa lý chỉ được cấp quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu, do đó quyền này không được phép chuyển giao hay mang đi góp vốn như các đối tượng sở hữu công nghiệp khác.

3. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, việc định giá tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp có điểm gì mới so với Luật Doanh nghiệp 2005?
Theo khoản 2 Điều 37 Luật Doanh nghiệp 2014, tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp có thể do tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá (thay vì chỉ do các sáng lập viên tự định giá như Luật 2005), với điều kiện phải được đa số thành viên/cổ đông sáng lập chấp thuận. Đồng thời, luật quy định rõ trách nhiệm liên đới của các thành viên sáng lập là phải cùng nhau góp thêm phần tiền chênh lệch giữa giá trị định giá và giá trị thực tế tại thời điểm kết thúc định giá.

4. Thời hạn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có tác động như thế nào đến việc góp vốn?
Thời hạn bảo hộ là căn cứ pháp lý quan trọng để các bên xác định thời hạn góp vốn và định giá tài sản. Khi đối tượng sở hữu trí tuệ hết thời hạn bảo hộ theo luật định, tài sản đó sẽ rơi vào công chúng (tài sản chung của xã hội), chủ sở hữu mất quyền kiểm soát độc quyền, do đó doanh nghiệp nhận vốn góp không còn được hưởng lợi thế độc quyền khai thác từ tài sản này.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Thủy đã trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Công trình đã làm nổi bật tính chất đặc thù của tài sản trí tuệ trong các giao dịch góp vốn doanh nghiệp, đồng thời so sánh sâu sắc sự hoàn thiện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất trong khóa luận có giá trị thực tiễn và lý luận, đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ và hoàn thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam.