Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quan trọng trong việc hình thành những cơ sở nền tảng cho sự phát triển lâu dài về nhân cách của con người. Vì vậy, hầu hết các quốc gia và các tổ chức giáo dục quốc tế đều rất quan tâm đến công tác giáo dục mầm non.
Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng GDMN, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của việc cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh. Ngay từ thế kỷ thứ XVI, J.Comenxki (1592-1670) trong cuốn sách "Thế giới tranh ảnh" đã thể hiện quan điểm của mình về vấn đề này. Cuốn sách của ông là bách khoa toàn thư đặc biệt dành cho trẻ nhỏ, ở đó trẻ được giới thiệu về thế giới với tất cả sự phát triển khoa học thời bấy giờ. Từ những bức tranh và những bài luận ngắn kèm theo, trẻ đã có thể biết về những công việc đầu tiên của con người trên Trái Đất như: làm vườn, làm ruộng, dệt vải; về những cuốn sách, nghệ thuật lời nói, về đạo đức, tính hài hước, tính nhân văn; về vật lý, hoá học và thiên văn [6].Rutxo (1712-1778), “nhà giáo dục học người Pháp đã gọi thời kỳ từ 2 đến 12 tuổi là thời kỳ của các giác quan.
Ông cho rằng tri thức của trẻ được hình thành bằng cách tiếp xúc với đồ vật và qua hoạt động thực tiễn. Chính trong quá trình tiếp cận với thế giới xung quanh mà tri thức của trẻ được hình thành” [31].Montexxori (1870- 1952) “cho rằng việc nhận biết thế giới khách quan (về đặc điểm, tính chất) là rất quan trọng đối với trẻ trước tuổi đi học. Chính những quan sát, tiếp xúc với thiên nhiên và xã hội có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển năng lực, trí tuệ của con người” [dẫn theo 21]. Piaget, trẻ em ở các lứa tuổi khám phá thế giới bằng những cách khác nhau.
Do vậy, các nhà giáo dục cần nắm được đặc trưng của mỗi giai đoạn phát triển của trẻ để trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ thể hiện tính tích cực của chúng. Piaget cho rằng có 3 loại tri thức mà trẻ có thể học được trong môi trường. Đó là: Tri thức về đối tượng và đặc điểm cùa nó; tri thức về mối quan hệ mà cá nhân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn tự xây dựng để tổ chức thông tin; tri thức có liên quan đến các quy tắc xã hội do con người xây dựng, trẻ sẽ được tiếp thu tri thức thông qua việc làm quen với môi trường xung quanh [dẫn theo 21]. Vugôtxki thì nhấn mạnh ảnh hưởng của môi trường xung quanh đến sự phái triển của trẻ em.
Ông cho rằng, khi trẻ học cách sử dụng các công cụ lao động (cốc thìa, khăn.) thì đồng thời trí tuệ của trẻ cũng phát triển. Các công cụ trí tuệ giúp con người làm chủ hành vi của mình. Trong các công cụ trí tuệ có công cụ kí hiệu. Ngôn ngữ là công cụ kí hiệu quan trọng nhất, nó cho phép con người có thể giải quyết vân đề trong tư duy [dẫn theo 19].Kôn: “Xã hội hoá là tổ hợp các quá trình xã hội nhờ đó cá nhân lĩnh hội và tái tạo hệ thống kiến thức, chuẩn mực, giá trị nhất định, cho phép cá nhân trở thành thành viên có đủ quyền hạn trong xã hội”.
Theo tác giả, tính tích cực của trẻ còn có phần bị hạn chế, trẻ mới chỉ tiếp thu các kinh nghiệm xã hội. Mudrik: “Xã hội hoá là quá trình phát triển của con người trong mối quan hệ qua lại với thế giới xung quanh”. Theo quan điểm này, con người không chỉ có khả năng tiếp nhận thế giới một cách thụ động mà còn cải tạo nó, thông qua quá trình tiếp xúc với môi trường xung quanh [dẫn theo 11]. Với đặc điểm phát triển tư duy và sự hạn chế của trẻ về mức độ phát triển ý thức nên trẻ nhỏ thường không có ý thức đặt mục đích trước cho hoạt động của mình.
Do vậy, đối với trẻ, môi trường chi phối rất nhiều đến hoạt động của chúng, môi trường có thể chi đạo hoạt động của chúng và định hướng hành vi cá nhân. Để giúp trẻ hoạt động tích cực, chủ động các nhà giáo dục nên sử dụng môi trường xung quanh với tư cách là yếu tố để điều chỉnh hành vi cá nhân. Biểu hiện đầu tiên của nhu cầu khám phá môi trường xung quanh của trẻ là nhu cầu mong muốn có được các ấn tượng về sự vật, hiện tượng xung quanh bằng những nỗ lực nhận thức đầu tiên của trẻ. Cơ sở sinh học của nó là phản xạ tìm tòi định hướng đã được các nhà sinh lí học I.I Paplôp gọi là phản xạ “cái gì đấy”.
Nhờ sự kích hoạt của các phản xạ này trẻ bắt đầu lĩnh hội được các đặc điểm, tính chất của sự vật và mối quan hệ giữa chúng. Nhu cầu có được những ấn tượng đầu tiên về sự vật. hiện tượng đã tạo ra tính ham hiểu biết ở trẻ. Cơ sở của nó cũng là các phản xạ tìm tòi định hướng - là một đặc điểm cơ bản của con người.
Ở trẻ mầm non, phản xạ này được thể hiện rõ ở việc trẻ liên tục đặt ra các câu hỏi cho người lớn: Đây là cái gì? Nó như thê nào? Tại sao lại như vậy? Làm thế nào để có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Nội dung các câu hỏi của trẻ rất đa dạng, bao trùm mọi lĩnh vực tri thức: Tự nhiên (cây cối, các con vật, nước, không khí, ánh sáng, mưa, gió. Spodek (1990) nhà giáo dục người Mỹ cho rằng người lớn chúng ta không thể quyết định dạy trẻ cái gì (nội dung) mà quên đi trẻ em học thế nào, bởi vì “học như thế nào” liên quan nhiều đến phương pháp. Nội dung chương trình (học cái gì), các quá trình học (học như thế nào), các chiến lược giảng dạy (dạy như thế nào), môi trường (hoàn cảnh học) và các chiến lược đánh giá (cho biết việc học tập xảy ra như thế nào) là những vấn đề có quan hệ qua lại với nhau và tạo nên chương trình GDMN (Brekdekamp, 1992).
Ông nhấn mạnh vai trò của hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh trong chương trình giáo dục mầm non [dẫn theo 15]. Có thể nhận thấy, những công trình nghiên cứu trên đã tập trung nhiều hơn vào việc nghiên cứu về hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh như: Khái niệm, ý nghĩa, vai trò của hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh; Các công trình nghiên cứu chưa đề cập nhiều đến tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh trong mối quan hệ với quản lý, tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mầm non. Các nghiên cứu ở trong nước Vấn đề cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh được Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam quan tâm từ những năm 50 - 60 của thế kỷ XX. Thời kỳ đó cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh được coi là phương tiện nhằm mục đích phát triển ngôn ngữ.
Các nội dung làm quen với môi trường xung quanh được đưa vào phần "Nhận xét và tập nói" trong chương trình giáo dục mẫu giáo. Nội dung và phương pháp của phần này còn rất phiến diện và đơn điệu. Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất (1975) nội dung của "Nhận xét và tập nói" được bổ sung, cải tiến và mang tên gọi mới "Tìm hiểu môi trường xung quanh và tập nói". Trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non, nội dung trên được đưa vào môn "Phương pháp phát triển ngôn ngữ" [24].
Từ những năm 1980, khi chương trình dự thảo và cải cách mẫu giáo được biên soạn thì làm quen với môi trường xung quanh được tách ra như một lĩnh vực tương đối độc lập với tên gọi "Cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh". Tên gọi này được duy trì trong chương trình đổi mới hình thức chăm sóc và nuôi dạy trẻ (2004). Trong chương trình giáo dục mầm non sắp ban hành, làm quen với môi trường xung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn quanh được gọi là khám phá khoa học thuộc lĩnh vực phát triển nhận thức. Trong chương trình đào tạo sinh viên ngành Sư phạm mầm non Phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh là một học phần nằm trong khối kiến thức chuyên ngành.
Nội dung của học phần này kế thừa được những kinh nghiệm tiên tiến trước đây, khắc phục những hạn chế của chương trình cải cách chỉ nặng về cung cấp kiến thức mà ít có các hoạt động trải nghiệm, hoạt động thực tiễn nhằm phát triển năng lực cho trẻ; đồng thời cập nhật những kiến thức mới của các chương trình trên thế giới và thành tựu nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước [4]. Trong những năm qua vấn đề quản lý GDMN nói chung và hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau đã được thực hiện: đề tài cấp Bộ, một số luận văn tiến sĩ, thạc sĩ. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu việc “Tổ chức cho trẻ vui chơi ở trường MG” với nhiều nội dung rất phong phú, đa dạng và có kết luận rằng “Việc tổ chức cho trẻ vui chơi và việc hướng dẫn các trò chơi cho trẻ có những nội dung, phương pháp khác nhau, giáo viên cần tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh thông qua HĐVC” [10]. Trong cuốn “Tổ chức, hướng dẫn trẻ MG chơi” tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết cùng cũng đã nói rất nhiều về tầm quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ “Tổ chức chơi cho trẻ là tổ chức cuộc sống của trẻ, cho trẻ tiếp thu tri thức thông qua hoạt động làm quen với MTXQ” [25].
Đề tài cấp Bộ: Những biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ của trường Mầm non (Phạm Thị Châu trường Cao đẳng sư phạm nhà trẻ - Mẫu giáo TW1, năm 1995) đề tài đã đề cập một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn của Ban giám hiệu và các cấp quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ [5].