Luận văn thạc sĩ giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xhcn ở việt nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xhcn ở, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

102
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giữ Gìn Bản Sắc Văn Hóa Trong Kinh Tế Thị Trường

Lịch sử phát triển của văn hóa gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Khi con người xuất hiện thì lịch sử văn hóa cũng bắt đầu. So với lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa, thuật ngữ văn hóa xuất hiện muộn hơn. Đến thời cận đại từ “Văn hóa” mới trở thành một thuật ngữ khoa học. Văn hóa là khái niệm được dùng phổ biến trong đời sống xã hội. Thực tế cho thấy những biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế sẽ có tác động lớn đến đời sống tinh thần của con người. Vì vậy, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được đặt ra bức thiết trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay.

1.1. Định Nghĩa Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam

Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đặc trưng của một cộng đồng dân tộc, được hình thành và phát triển trong lịch sử, thể hiện sự khác biệt của dân tộc đó so với các dân tộc khác. Nó bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật, văn học, tri thức, lối sống, các giá trị đạo đức và thẩm mỹ. Bản sắc văn hóa là yếu tố quan trọng tạo nên sự thống nhất, đoàn kết và sức mạnh của dân tộc, đồng thời là nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững. Ví dụ như chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái, ý thức cố kết cộng đồng, truyền thống hiếu học, kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc.

1.2. Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, nhằm mục tiêu phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều tiết và quản lý nền kinh tế, đảm bảo phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự kết hợp giữa các yếu tố thị trường và các mục tiêu xã hội.

II. Thách Thức Ảnh Hưởng Kinh Tế Thị Trường Đến Văn Hóa Dân Tộc

Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa, nhưng cũng làm tăng nguy cơ xâm nhập của các giá trị văn hóa ngoại lai, làm xói mòn các giá trị truyền thống. Sự xuất hiện của văn hóa tiêu dùng, sự thương mại hóa các hoạt động văn hóa, và sự suy thoái đạo đức trong một bộ phận xã hội là những vấn đề đáng quan ngại. “Chúng ta đã quá ưu tiên cho phát triển kinh tế mà chưa nhận thức rõ được sự tác động trở lại của văn hóa đối với kinh tế và quả thật trong quá trình phát triển vừa qua bên cạnh những mặt đạt được về tốc độ tăng trưởng kinh tế chúng ta đang phải đối mặt với những tác động tiêu cực về các vấn đề xã hội trong đó có vấn đề văn hóa”.

2.1. Nguy Cơ Đồng Hóa Văn Hóa Và Xói Mòn Giá Trị Truyền Thống

Sự du nhập ồ ạt của các luồng văn hóa từ bên ngoài, đặc biệt là văn hóa phương Tây, có thể dẫn đến nguy cơ đồng hóa văn hóa, làm phai nhạt các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Các phong tục tập quán, lễ hội truyền thống có thể bị mai một, ngôn ngữ và trang phục truyền thống có thể bị lãng quên, lối sống và suy nghĩ của một bộ phận giới trẻ có thể bị ảnh hưởng bởi các giá trị ngoại lai. Điều này đòi hỏi sự chủ động trong việc tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời tăng cường giáo dục ý thức văn hóa cho thế hệ trẻ.

2.2. Thương Mại Hóa Văn Hóa Và Suy Thoái Đạo Đức Xã Hội

Nền kinh tế thị trường tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, nhưng cũng làm tăng nguy cơ thương mại hóa các hoạt động văn hóa. Các giá trị văn hóa có thể bị lợi dụng để kiếm lợi nhuận, các di sản văn hóa có thể bị xâm hại vì mục đích kinh tế. Sự suy thoái đạo đức xã hội, lối sống thực dụng, và sự đề cao vật chất có thể làm suy giảm các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển văn hóa.

2.3. Tác Động Tiêu Cực Của Văn Hóa Tiêu Dùng Đến Giá Trị Văn Hóa Truyền Thống

Sự phát triển của văn hóa tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường có thể dẫn đến sự coi trọng vật chất hơn tinh thần, sự đề cao hưởng thụ cá nhân hơn trách nhiệm xã hội, và sự lãng quên các giá trị văn hóa truyền thống. Áp lực tiêu dùng có thể tạo ra những hệ lụy tiêu cực, chẳng hạn như chạy theo mốt, lãng phí, và coi thường giá trị lao động. Điều này đòi hỏi sự định hướng và giáo dục về tiêu dùng hợp lý, khuyến khích lối sống giản dị, tiết kiệm và bảo vệ môi trường.

III. Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Văn Hóa Truyền Thống Hiệu Quả

Để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho văn hóa, xây dựng các chính sách khuyến khích sáng tạo văn hóa, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Bên cạnh đó, cần chú trọng giáo dục văn hóa cho thế hệ trẻ, nâng cao ý thức tự tôn dân tộc, và khơi dậy niềm tự hào về văn hóa dân tộc.

3.1. Xây Dựng Chính Sách Văn Hóa Phù Hợp Với Kinh Tế Thị Trường

Nhà nước cần xây dựng các chính sách văn hóa phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, đồng thời đảm bảo các hoạt động văn hóa không bị thương mại hóa quá mức. Cần có các quy định chặt chẽ về bảo vệ di sản văn hóa, ngăn chặn các hành vi xâm hại di sản, và xử lý nghiêm các vi phạm. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế vào các hoạt động văn hóa, tạo nguồn lực cho sự phát triển văn hóa.

3.2. Tăng Cường Giáo Dục Văn Hóa Cho Thế Hệ Trẻ

Giáo dục văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Cần đưa các nội dung về lịch sử, văn hóa, và truyền thống dân tộc vào chương trình giáo dục từ bậc mầm non đến đại học, giúp thế hệ trẻ hiểu biết sâu sắc về văn hóa dân tộc, khơi dậy niềm tự hào và ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.

3.3. Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Gắn Với Bảo Tồn Di Sản

Du lịch văn hóa là một kênh quan trọng để quảng bá văn hóa dân tộc ra thế giới, đồng thời tạo nguồn thu cho việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. Cần phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa đa dạng, hấp dẫn, gắn với các di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, và các làng nghề thủ công. Đồng thời, cần có các biện pháp quản lý chặt chẽ để đảm bảo du lịch không gây ảnh hưởng tiêu cực đến di sản văn hóa và môi trường.

IV. Công Nghiệp Văn Hóa Động Lực Phát Triển Và Bảo Tồn Văn Hóa Việt Nam

Công nghiệp văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa. Cần khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong lĩnh vực văn hóa, tạo ra các sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế và văn hóa cao. Các ngành công nghiệp văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, và thủ công mỹ nghệ cần được đầu tư và phát triển mạnh mẽ, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, và quảng bá văn hóa dân tộc ra thế giới.

4.1. Khuyến Khích Sáng Tạo Và Đổi Mới Trong Sản Phẩm Văn Hóa

Để phát triển công nghiệp văn hóa cần khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong các sản phẩm văn hóa. Cần tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, nhà văn, và nhà thiết kế được tự do sáng tạo, thử nghiệm các ý tưởng mới, và phát triển các sản phẩm văn hóa độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, cần có các cơ chế hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các dự án sáng tạo văn hóa.

4.2. Phát Triển Các Ngành Công Nghiệp Văn Hóa Tiềm Năng

Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, và thủ công mỹ nghệ. Cần có các chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư vào các ngành này, hỗ trợ các doanh nghiệp văn hóa phát triển, và tạo ra các sản phẩm văn hóa có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ví dụ: phát triển các làng nghề truyền thống thành điểm đến du lịch hấp dẫn.

4.3. Bảo Tồn Văn Hóa Phi Vật Thể Gắn Với Phát Triển Kinh Tế

Văn hóa phi vật thể, như lễ hội, nghệ thuật biểu diễn, và tri thức bản địa, là một nguồn tài nguyên quý giá để phát triển kinh tế. Cần có các biện pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của văn hóa phi vật thể, đồng thời khai thác tiềm năng kinh tế của chúng. Ví dụ, phát triển du lịch cộng đồng gắn với các lễ hội truyền thống, hoặc tạo ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dựa trên các tri thức bản địa.

V. Hội Nhập Quốc Tế Và Giao Lưu Văn Hóa Cơ Hội Và Thách Thức

Hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa là một xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay. Nó mang lại nhiều cơ hội cho sự phát triển văn hóa, như tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, quảng bá văn hóa dân tộc ra thế giới, và tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra không ít thách thức, như nguy cơ đồng hóa văn hóa, sự xâm nhập của các giá trị văn hóa ngoại lai, và sự suy thoái đạo đức xã hội.

5.1. Tiếp Thu Tinh Hoa Văn Hóa Nhân Loại Có Chọn Lọc

Trong quá trình hội nhập quốc tế, cần chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhưng phải có chọn lọc, phù hợp với điều kiện và truyền thống của dân tộc. Cần tránh việc du nhập ồ ạt các giá trị văn hóa ngoại lai, làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Điều này đòi hỏi sự tỉnh táo và bản lĩnh trong việc tiếp thu và ứng dụng các giá trị văn hóa từ bên ngoài.

5.2. Quảng Bá Văn Hóa Việt Nam Ra Thế Giới

Hội nhập quốc tế là cơ hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử, văn hóa, và con người Việt Nam. Cần có các chiến lược và hoạt động quảng bá văn hóa hiệu quả, như tổ chức các sự kiện văn hóa, tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế, và xây dựng các kênh truyền thông đa dạng để giới thiệu văn hóa Việt Nam.

VI. Vai Trò Của Cộng Đồng Trong Giữ Gìn Bản Sắc Văn Hóa

Cộng đồng đóng vai trò then chốt trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa. Mỗi cá nhân và tổ chức trong xã hội cần nâng cao ý thức về giá trị văn hóa và tích cực tham gia vào các hoạt động bảo tồn và phát huy. Sự chung tay của cộng đồng sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, đảm bảo rằng văn hóa dân tộc được truyền lại cho các thế hệ sau.

6.1. Nâng Cao Ý Thức Văn Hóa Cho Mỗi Cá Nhân

Việc nâng cao ý thức về văn hóa cho mỗi cá nhân là rất quan trọng. Điều này bao gồm việc hiểu rõ về lịch sử, truyền thống, và các giá trị của dân tộc. Giáo dục trong gia đình và nhà trường cần chú trọng đến việc bồi dưỡng tình yêu văn hóa và niềm tự hào dân tộc.

6.2. Phát Huy Vai Trò Của Văn Hóa Gia Đình Và Văn Hóa Cộng Đồng

Văn hóa gia đìnhvăn hóa cộng đồng là những nền tảng quan trọng cho việc giữ gìn bản sắc văn hóa. Cần khuyến khích các gia đình và cộng đồng duy trì và phát huy các phong tục tập quán tốt đẹp, tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống, và truyền lại cho thế hệ sau.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xhcn ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong 2 chương với 6 tiết.nay 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. NỘI DUNG Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA, BẢN SẮC VĂN HÓA VÀ KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. Văn hóa và bản sắc văn hóa 1. Khái niệm văn hóa Lịch sử phát triển của văn hóa gắn liền với lịch sử phát triển của loài người.

Khi con người xuất hiện thì lịch sử văn hóa cũng bắt đầu. So với lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa, thuật ngữ văn hóa xuất hiện muộn hơn. Đến thời cận đại từ “Văn hóa” mới trở thành một thuật ngữ khoa học. Văn hóa là khái niệm được dùng phổ biến trong đời sống xã hội, thuật ngữ này không những có nhiều nghĩa trong ngôn ngữ hàng ngày mà còn trong các ngành khoa học khác nhau.

Việc xác định nội hàm khái niệm này còn nhiều ý kiến, vì trên thế giới hiện nay, có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Song, về cơ bản đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con người sáng tạo để hình thành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động, hoạt động thực tiễn. Các giá trị chuẩn mực đó tác động, chi phối, điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện diện của con người. Lược khảo một số quan niệm tiêu biểu về văn hóa trong lịch sử, chúng ta bắt gặp những quan niệm trước Mác, quan niệm mac-xit, những quan niệm của các nhà khoa học cận và hiện đại, quan niệm của tổ chức UNESSCO, quan niệm của Hồ Chí Minh…với những nội hàm đúng đắn, có giá trị nhất định.

Những quan niệm trước C.Mác về văn hóa cũng khá đa dạng. Phương Đông với điển hình là Trung Quốc, từ cổ đại đến cận đại, đều cho rằng văn hóa là chế độ, văn trị, giáo hóa, lễ nhạc, điển chương. Điển hình như Lưu (LUAN.nay 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay Hướng cũng từng đề cập: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức, sau mới dùng vũ lực. Phàm dùng đến võ đối phó với kẻ không phục tùng, giáo hóa bằng văn mà không chịu thay đổi thì sau mới trừng phạt.

Văn hóa ở đây là giáo hóa đối lập với vũ lực”. Ở phương Tây, thời cổ đại, coi văn hóa với tư cách là một từ, đã xuất hiện từ trước Công nguyên trong ngôn ngữ Latinh (từ nghĩa khai khẩn, vỡ hoang đất đai… mở rộng sang cày cấy, gieo trồng, chăm sóc…và thêm “vun trồng tinh thần”). Thời kỳ Phục hưng thế kỷ XV – XVI, văn hóa có thêm nghĩa chỉ năng lực sáng tạo của con người, đề cao con người. Cùng với sự phát triển của xã hội và khoa học, khái niệm văn hóa mở rộng ra các lĩnh vực khác nhau như: xây dựng thể chế, cải tạo xã hội, thành đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học xã hội nhân văn như: Nhân loại học, Dân tộc học, xã hội học… Các nhà khai sáng Pháp cũng quan tâm đến văn hóa và có những quan niệm mới, khác về văn hóa (Vonte dùng khái niệm văn minh để miêu tả các thời kỳ phát triển của khoa học, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, nhà nước., Rútxô quan niệm văn hóa là hiện tượng xã hội…).

Sang thế kỷ XIX, từ nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau các nhà khoa học hướng tới xác định văn hóa như đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học độc lập.Tylor công bố công trình văn hóa nguyên thủy, coi văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cùng với những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội. Những quan niệm sau C.Mác, của các nhà khoa học về văn hóa đề cập đến rất nhiều định nghĩa văn hóa. Chẳng hạn, theo nhà ngôn ngữ học người (LUAN.nay 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay Pháp Jacques Derida: Văn hóa chính là cái tên chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó… Năm 1982, tại Mêhicô, Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa vì sự phát triển đã nêu ra định nghĩa: “Theo nghĩa rộng, ngày nay văn hóa có thể được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình cảm được đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị truyền thống và tín ngưỡng”[35, Tr.Trong định nghĩa này, văn hóa được quan niệm là toàn bộ các giá trị tinh thần nhưng nhấn mạnh đến đặc điểm có khả năng đặc trưng cho một xã hội hoặc một cộng đồng người.

Điều đó có nghĩa là trong quan hệ xã hội, trong phát triển phải tôn trọng bảo tồn và phát huy những đặc điểm có tính riêng biệt đó. Về căn bản, có thể liệt kê dưới đây ba định nghĩa nổi bật nhất, đó là định nghĩa của chủ nghĩa Mác- Lênin, của UNESSCO và của Hồ Chí Minh. Trong thập kỷ thế giới vì sự phát triển văn hóa (1988 – 1997), Phederico Mayo – Tổng giám đốc UNESSCO lúc đó đưa ra quan niệm: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.

Định nghĩa này tiếp cận văn hóa dưới góc độ hoạt động và văn hóa là hệ thống giá trị chuẩn mực đồng thời nhấn mạnh đặc tính dân tộc của văn hóa. UNESSCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội. Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác.

Với ý nghĩa đó, văn hoá có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là (LUAN.nay 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay hoạt động sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội, trong thái độ đối với thiên nhiên. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng của lịch sử là hoạt động lao động của con người và quá trình con người sáng tạo ra lịch sử cũng là quá trình con người sáng tạo văn hoá, văn hóa bắt nguồn từ lao động. Những quan niệm về văn hóa được trình bày trong nhiều tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”(1844), “Góp phần phê phán khoa Kinh tế chính trị”(1859), “Nguồn gốc của gia đình,của chế độ tư hữu và Nhà nước”(1884)… C.Mác viết: “Chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việc xác định tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa.

Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất. Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống con người”[37, Tr 39 - 40].Mác, khởi điểm của hành vi trong lịch sử là văn hóa. Văn hóa là hành vi quan trọng trong quá trình sản xuất vật chất, là cái để con người phân biệt với con vật. “Con vật chỉ xây dựng theo kích thước và nhu cầu của loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo kích thước của bất cứ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng; do đó con người cũng xây dựng theo quy luật của cái đẹp”[36, Tr 137].

Bàn đến văn hoá và sự phát triển của văn hoá, chủ nghĩa Mác còn thừa nhận, với tư cách là một hệ giá trị, văn hoá bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử, bởi năng lực thực hiện “ lực lượng bản chất người”. Mỗi bước tiến của lịch sử là một bước tiến tương ứng của văn hoá. Như vậy có thể nói việc con người tạo ra “thiên nhiên thứ hai” theo quy luật của cái đẹp là cái thuộc tính bản (LUAN.nay 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay chất, quy định cái văn hoá trong hoạt động của con người. Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên của sự hình thành và phát triển con người thì văn hoá là cái nôi thứ hai.

Nếu tự nhiên là cái quyết định sự tồn tại của con người với tư cách là một thực thể sinh vật thì văn hoá là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực bản chất người gắn liền với các hoạt động sống của con người. Con người là thước đo của mỗi giá trị, còn văn hóa là thước đo nhân tính, sự sáng tạo và thái độ của con người trước hiện thực. Quan niệm của Mác, Ănghen về văn hóa đã được Lênin kế thừa và phát triển. Ông đề ra nguyên tắc quan trọng trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới: tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc và tính nhân loại trong văn hoá; xác định sự nghiệp văn hoá là một bộ phận trong guồng máy cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.

Xác định tính kế thừa biện chứng của sự phát triển văn hóa, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong văn hóa. Ở đây, Lênin đã hiểu văn hóa theo nghĩa rộng, là những giá trị chung nhất, tồn tại và phát triển qua nhiều chế độ xã hội, nhiều giá trị có ý nghĩa vĩnh hằng, văn hóa luôn gắn liền với sự phát triển và toàn diện con người, hoàn thiện xã hội. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa đã được chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giữ Gìn và Phát Huy Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Trong Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam" khám phá tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện đại. Tác giả nhấn mạnh rằng việc duy trì các giá trị văn hóa truyền thống không chỉ giúp củng cố bản sắc dân tộc mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm và dịch vụ Việt Nam trên thị trường quốc tế. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa là một chiến lược bền vững, mang lại lợi ích lâu dài cho cả cộng đồng và nền kinh tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án giáo dục tinh thần dân tộc theo tư tưởng hồ chí minh trong dạy học lịch sử việt nam 1919 1975 tại trường trung học phổ thông, nơi bàn về vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục tinh thần dân tộc. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa bảo tồn và phát huy dân ca ba na ở huyện kbang tỉnh gia lai sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc bảo tồn văn hóa dân ca trong một cộng đồng cụ thể. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát huy bản sắc văn hóa dân tộc từ năm 1998 đến năm 2014, tài liệu này phân tích vai trò của Đảng Cộng sản trong việc phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về mối liên hệ giữa văn hóa và kinh tế trong xã hội Việt Nam.