mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia làm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Giới ngữ nhìn từ góc độ cấu trúc ngữ pháp Chƣơng 3: Giới ngữ nhìn từ góc độ chức năng ngữ pháp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái quát chung về từ loại Từ loại là một nội dung quan trọng của ngữ pháp học trong nghiên cứu ngôn ngữ. Mỗi ngôn ngữ đều sở hữu trong bản thân nó những vốn từ vựng đa dạng và phong phú khác nhau. Do khối lƣợng đồ sộ và chức năng ngữ pháp đƣợc sử dụng khác nhau nên từ loại đƣợc phân chia theo những mục đích khác nhau.
Về mặt từ vựng, có thể phân loại từ dựa trên cơ cấu ngữ nghĩa của từ vựng. [19] Cũng có thể chỉ dùng nguyên tắc hình thái học ( nhƣ ở thời kỳ Alexandria và La TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mã) hoặc sử dụng cách pha trộn cả hai nguyên tắc hình thái học và ngữ nghĩa ( nhƣ ở Aristote và những ngƣời khắc kỷ). Đối với các từ có biến hình, việc phân định theo hình thái học có vẻ hiển nhiên. Còn các hƣ từ không biến hình thì đƣợc nhận diện trên cơ sở khả năng kết hợp với các thực từ.
467] Tuy nhiên những nhà ngữ pháp học không dựa vào đó để phân loại từ mà dựa vào bản chất ngữ pháp của từ, kết quả là ta có các từ loại. Nhƣ vậy, từ loại đƣợc hiểu một cách nôm na là các lớp từ trong một ngôn ngữ cụ thể đƣợc phân chia dựa trên chức năng ngữ pháp của chúng. Cho đến nay tồn tại một cách phổ biến hai cách phân định từ loại: phân chia vốn từ của một ngôn ngữ ra thành hai lớp khái quát là thực từ và hƣ từ, và phân chia vốn từ của một ngôn ngữ ra thành nhiều lớp cụ thể hơn với những đặc trƣng xác định hơn. Trong cách phân chia thứ nhất của ngữ pháp truyền thống châu Âu, ứng với thực từ là tên gọi dịch ra tiếng Việt có nghĩa là “ các bộ phận của lời”, ứng với hƣ từ là tên gọi thƣờng dịch ra tiếng Việt là “tiểu từ”; ngữ pháp châu Âu hiện đại còn gọi là lớp từ từ vựng tính (thực từ) và lớp từ ngữ pháp tính (hƣ từ).
468] Theo Đinh Văn Đức, các lớp từ, xét về mặt ngữ pháp có thể chia ra, trƣớc hết, thành thực từ, hƣ từ và tình thái từ. Hai lớp sau khác với lớp thứ nhất về mặt ý nghĩa và các đặc trƣng ngữ pháp, đồng thời cũng phân biệt với nhau. Vì vậy có nhiều nhà ngôn ngữ học cho là có cơ sở để tiến hành việc phân định từ loại chỉ trong phạm vi các thực từ. Nhƣng, mặt khác, nếu xem xét các lớp từ từ quan hệ của chúng với các phạm trù của logic thì cần phải khảo sát các lớp một cách bình đẳng.
[dẫn theo 17, tr. Khái niệm về từ loại trong tiếng Anh Các khái niệm về từ loại và cấu trúc câu trong tiếng Anh có những điểm tƣơng đồng với tiếng Việt, song do mỗi ngôn ngữ lại có những đặc trƣng riêng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của nó nên luôn luôn tồn tại những điểm dị biệt. Thí dụ những khái niệm chung về động từ, tính từ, trạng từ, chủ ngữ, vị ngữ…thì giống nhau nhƣng nếu ta đi sâu vào nghiên cứu chi tiết về các mặt nhƣ cấu tạo, vị trí, vai trò chức năng của chúng trong câu thì có thể tìm thấy vô số những điểm khác biệt. Có những khái niệm mà chỉ trong tiếng Anh mới có còn trong tiếng Việt lại không có nhƣ sở hữu cách, danh động từ, tính động từ… Ngữ pháp tiếng Anh truyền thống – nghiên cứu từng bộ phận của ngôn ngữ một cách riêng rẽ - chia vốn từ loại (part of speech, word classes, kinds of words) thành hai nhóm lớn chính: nhóm hữu sinh (productive) và nhóm vô sinh (non- productive).
Nhóm hữu sinh bao gồm: - Danh từ (noun) - Động từ (verb) - Đại từ (pronoun) - Tính từ (adjective) - Phó từ (adverb) Nhóm vô sinh bao gồm: - Tính động từ (participle) - Giới từ (preposition) - Liên từ (conjunction) - Thán từ (interjection) - Mạo từ (article) Theo Lê Dũng, Bùi Ý, Vũ Thanh Phƣơng, tiếng Anh lại có 8 từ loại hay loại từ gồm: danh từ, đại từ, tính từ, động từ, phó từ, giới từ, liên từ và thán từ. Theo đó mỗi từ loại có những chức năng riêng: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tên từ loại Chức năng Ví dụ Danh từ (Noun) Chỉ ngƣời, vật, sự việc hay Girl, baby, history, khái freedom… niệm Đại từ (pronoun) Dùng để thay thế cho danh I, he, them, who, từ which… Tính từ Bổ nghĩa cho danh từ. Gồm A good teacher, my (adjective) nhiều loại, kể cả mạo từ (article) first lesson, new books… và số từ (numeral) Động từ (verb) Chỉ hành động hoặc trạng To run, to say, to thái feel… Phó từ (adverb) Bổ nghĩa cho động từ, tính They work very từ hoặc phó từ khác hard, I was too tired Giới từ Đứng trƣớc danh từ hoặc I spoke to him (preposition) đại từ để chỉ quan hệ của chúng với các từ khác Liên từ Nối các từ, cụm từ hoặc câu You and I. He will (conjunction) với nhau come if you ask… Thán từ Diễn tả cảm xúc Well! Ah! Yeah! (interjection) [46,tr.
12] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân chia từ loại theo chức năng Phân chia từ loại theo chức năng là dựa vào chức năng cú pháp mà từ đảm nhận trong câu. Vì một từ có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên nó có thể thuộc một từ loại trong câu này nhƣng lại thuộc về một từ loại khác trong câu khác. Ví dụ: I have two hands ( Tôi có hai tay – hands là danh từ) He hands me the paper ( Anh ấy đƣa cho tôi tờ giấy – hand ở đây là động từ A round table ( Cái bàn tròn - round là tính từ) A round of beer ( Một chầu bia – round là danh từ) The Earth moves round the Sun ( Trái đất quay xung quanh mặt trời – round là giới từ) The police rounded them up ( Cảnh sát quây họ lại – round là động từ) This is his hat ( Đây là mũ của anh ấy – This là đại từ, his là tính từ sở hữu) This hat is his ( Cái mũ này là của anh ấy – This là tính từ, his là đại từ sở hữu) [46, tr.
Phân chia từ loại theo hình thức Phân chia từ loại theo hình thức là dựa vào các tiếp tố (affixes) gắn với từ, nếu có. Nhờ đó, chúng ta có thể ít nhiều đoán đƣợc một từ thuộc loại từ nào, ví dụ: - Danh từ với –ist, -dom, -ness, -ship, -red: Artist Freedom Darkness Hardship TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (hoạ sỹ) (tự do) (bóng tối) (nỗi gian truân) Dramatist Wisdom Sweetness Friendship (nhà soạn kịch) (sự thông thái) (sự ngọt ngào) (tình bạn) - Động từ với –ed, -ing, -en, -ize, -fy, -ate: Changed Weaken Modernize Purify (đã thay đổi) (làm cho yếu) (hiện đại (làm cho tinh khiết) Walked Sweeten hóa) Simplify (đã đi bộ) (làm cho ngọt) (làm cho đơn giản) Minimize (giảm thiểu) - Tính từ với –ous, -ed, -en, -less, -ly, -ful. Famous Talented Wooden Fearless (nổi tiếng) (có tài) (bằng gỗ) (không sợ hãi) Continous Learned Woollen Hopeless (tiếp diễn) (có học) (bằng len) (không hy vọng) Người ta thường phân chia tám từ loại nêu trên thành hai nhóm lớn: - Open word classes: (từ loại có thể nhận thêm từ mới) gồm có: danh từ, động từ, tính từ và phó từ. Số lƣợng mỗi từ loại thuộc nhóm này có thể từ một vài nghìn đến cả trăm nghìn từ.
Nhóm này bao gồm các content word, là những từ mang nghĩa nội dung hay nghĩa từ điển (lexical meaning) nhƣ home (nhà ở, quê hƣơng), bridge (cây cầu), slowly (chậm chạp). - Close word classes: (từ loại có số lƣợng từ giới hạn) gồm đại từ, giới từ, liên từ và thán từ. Số lƣợng mỗi từ loại thuộc nhóm này chỉ từ vài từ đến vài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mƣời từ và rất it khi nhận thêm từ mới. Nhóm này bao gồm các function word, là những từ ít mang nghĩa nội dung nhƣng lại đóng vai trò quan trọng trong quan hệ cú pháp của câu, nhƣ on (ở trên), beside (bên cạnh), he (ông ấy), and (và).
Khái niệm về từ loại trong tiếng Việt Khái niệm từ loại xuất phát từ cứ liệu ngôn ngữ châu Âu, nó gắn với các phạm trù hình thái học khác nhƣ giống, số, cách.Vấn đề đƣợc đặt ra là, khi gắn từ loại với phạm trù hình thái thì, đối với tiếng Việt, có cần thiết duy trì sự tồn tại hay khẳng định sự có mặt của phạm trù từ loại hay không? Tuy nhiên, từ trƣớc đến nay luôn tồn tại hai thái cực đối nghịch nhau về sự tồn tại của từ loại trong tiếng Việt. Nhóm các tác giả phủ nhận việc tồn tại của từ loại nhƣ Lê Quang Trinh, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Hữu Tùng cho rằng: từ (trong ngôn ngữ đơn lập) không biến đổi hình thái do đó không thể phân chia từ loại một cách chính xác. Tác giả Hồ Hữu Tùng cho rằng: tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hẳn so với các ngôn ngữ phƣơng Tây (không có sự biến đổi hình thái) do đó không có từ loại, mà, tuỳ thuộc vào vị trí trong câu mà có tính chất (thuộc tính) nhất định, một từ có thể có nhiều thuộc tính khác nhau. Ở vào thế đối lập là các tác giả thừa nhận sự tồn tại của từ loại, tuy nhiên, trong nhóm này có những khác biệt trong việc nhận định, phân loại.
Họ thừa nhận sự có mặt của phạm trù từ loại trong tiếng Hán, tiếng Việt. nhƣng tiêu chí phân định không dựa vào đặc điểm hình thái mà là ý nghĩa ngữ pháp và/hoặc thái độ ngữ pháp (khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp). Có những tác giả phân định từ loại chỉ thuần túy dựa vào ý nghĩa khái quát nhƣ Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh. Theo đó từ loại là một phạm trù ngữ pháp-logic.
Có những tác giả lại dựa vào chức vụ cú pháp (một từ có thể TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuộc nhiều từ loại khác nhau) mà từ đảm nhận trong câu nhƣ Phan Khôi… hay lại dựa vào khả năng kết hợp của từ trong câu nhƣ Lê Văn Lí, Nguyễn Tài Cẩn, Lưu Vân Lăng, trong đó tập trung vào khả năng làm trung tâm của cụm từ, ngữ hoặc khả năng làm thành tố phụ của ngữ.