Đặt vấn đề Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo (hình 1. Tổng sản phẩm quốc nội tăng gần 400% trong giai đoạn 1990 – 2014. Tỷ lệ người nghèo đã giảm từ 49,21% năm 1992 xuống còn 3,23% năm 2012. Từng là một trong số những quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người thấp nhất thế giới, đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp với mức thu nhập đầu người hơn 2000 đô la năm 2014.
Song song với việc mở cửa thị trường, nhiều cơ hội kinh doanh cũng như việc làm mới được tạo ra giúp gia tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, từ cuối năm 2007, dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những vấn đề nội tại của nền kinh tế trong nước, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bắt đầu chậm lại kèm với đó là sự bất ổn của thị trường vĩ mô, chẳng hạn như suy thoái, thất nghiệp và lạm phát. Bất bình đẳng thu nhập có xu hướng gia tăng, sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng tăng, tốc độ tạo việc làm giảm sút, nghèo đói tập trung nhiều hơn vào các nhóm dân tộc thiểu số. 25 20 15 10 5 0 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 -5 GDP lạm phát thất nghiệp Nguồn: World Bank (2015) Hình 1.1: Tăng trƣởng GDP, tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 60 49,21 50 38,78 40 34,79 30 27,12 22,01 20 16,17 10 4,78 3,23 0 Nguồn: World Bank (2015) Hình 1.2: Tỷ lệ nghèo theo chuẩn 1,90 USD (tính theo giá ngang bằng sức mua năm 2011, tính bằng phần trăm) Trong giai đoạn 2010 – 2012, tăng trưởng kinh tế giảm từ 6,24% xuống 5,25%, mức thấp nhất kể từ năm 2000.
Tỷ lệ lạm phát tăng cao trong giai đoạn này với đỉnh điểm 18,6% năm 2011. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể có xu hướng gia tăng trong khi số doanh nghiệp thành lập có xu hướng giảm. Việc thu hẹp hoạt động và giải thể của hàng loạt doanh nghiệp khiến nhiều lao động mất việc làm. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm còn 1,8% sau giai đoạn tăng từ năm 2008.
Với diễn biến kinh tế vĩ mô như trên, đã có nhiều thay đổi trong thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình trong giai đoạn này. Trong bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2012, gồm 9399 hộ lấy thông tin về thu nhập và chi tiêu, có 4173 hộ được khảo sát lại từ năm 2010. Các hộ gia đình này được phân nhóm theo ngũ phân vị về thu nhập và sắp xếp lại trên ma trận chuyển đổi như bảng 1. Kết quả thống kê từ bảng 1.1 cho thấy trong hai năm từ 2010 đến 2012, có 501 hộ gia đình, chiếm 12%, gia tăng ít nhất hai phân vị, tập trung ở góc phải phía trên của ma trận.
Haughton và các cộng sự (2001) xem những hộ này là những ngôi sao mới nổi. Trong nghiên cứu này, chúng tôi gọi đây là những hộ giàu nhanh. Kết quả thống kê cũng chỉ ra 504 hộ gia đình, chiếm 12%, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 giảm ít nhất hai phân vị, tập trung ở góc trái phía dưới của ma trận. Những hộ này được gọi là hộ nghèo nhanh.
Như vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi dựa vào sự thay đổi trong ngũ phân vị về thu nhập của hộ gia đình để xác định những hộ nghèo nhanh và giàu nhanh. Đây là hướng tiếp cận nghèo (giàu) một cách tương đối. Vấn đề đặt ra là điều gì đã làm cho những hộ gia đình trở nên giàu nhanh trong khi những hộ khác trở nên nghèo nhanh trong khoảng thời gian 2 năm này? Giải thích được việc giàu nhanh và nghèo nhanh giúp chúng ta hiểu được nguyên nhân dẫn đến nghèo cũng như giàu ở Việt Nam trong giai đoạn này và giúp các nhà hoạch định chính sách có những biện pháp nhằm gia tăng thu nhập, cải thiện phúc lợi cho người dân.1: Ma trận chuyển đổi nhóm của các hộ gia đình giai đoạn 2010 – 2012 Số hộ gia đình chia theo ngũ phân vị về thu nhập năm 2012 Nghèo nhất Nghèo Trung bình Khá Giàu Tổng Năm 2010: Nghèo nhất 425 205 96 69 40 835 Nghèo 200 264 192 113 66 835 Trung bình 100 177 239 202 117 835 Khá 62 121 203 242 207 835 Giàu 48 68 105 209 403 833 Tổng 835 835 835 835 833 4.173 Nguồn: dựa vào bộ dữ liệu bảng VHLSS 2010 và VHLSS 2012 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này tập trung vào phân tích tác động của ba nhóm nhân tố lên khả năng giàu nhanh và nghèo nhanh gồm: (1) những đặc điểm của hộ gia đình; (2) những đặc điểm về vị trí địa lý; và (3) những đặc điểm địa phương. Những đặc điểm hộ gia đình được chia thành ba nhóm nhỏ là những đặc điểm chung của hộ; những đặc điểm riêng của chủ hộ và những đặc điểm về kinh tế hộ.
Những đặc điểm về vị trí địa lý bao gồm khu vực thành thị - nông thôn và các vùng địa lý của cả nước. Những đặc điểm thuộc địa phương bao gồm các nhân tố về thiên tai, cở sở sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng, trường học và y tế của địa phương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Do đó, mục tiêu nghiên cứu của luận văn là khảo sát tác động của các nhân tố sau lên khả năng giàu nhanh và nghèo nhanh của hộ gia đình giai đoạn 2010 – 2012: (1) đặc điểm hộ gia đình; (2) đặc điểm vị trí địa lý; và (3) đặc điểm địa phương.3 Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu này trả lời các câu hỏi: (1) Đặc điểm hộ gia đình; (2) đặc điểm vị trí địa lý; và (3) đặc điểm địa phương tác động như thế nào đến khả năng giàu nhanh và nghèo nhanh của hộ gia đình giai đoạn 2010 – 2012.4 Cấu trúc của luận văn Ngoài phần giới thiệu, cấu trúc của luận văn này gồm những phần sau: phần thứ hai trình bày cơ sở lý thuyết về hộ gia đình, thu nhập hộ gia đình, các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các đặc điểm hộ, đặc điểm vị trí địa lý, địa phương lên hộ gia đình và khung phân tích của nghiên cứu; phần thứ ba trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm giới thiệu về dữ liệu, mô hình nghiên cứu, và các giả thuyết về chiều tác động của các biến giải thích; phần thứ tư trình bày kết quả nghiên cứu; và phần thứ năm trình bày các khám phá, khuyến nghị chính sách và hạn chế của nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này bắt đầu với việc làm rõ các khái niệm về hộ gia đình và thu nhập hộ gia đình.
Khung sinh kế và cách tiếp cận về nghèo cũng được trình bày trong phần này. Tiếp theo, bài viết trình bày các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan. Cuối cùng, chúng tôi xây dựng khung phân tích của nghiên cứu dựa trên các cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đã khảo lượt.1 Hộ gia đình Việc phân tích dữ liệu trong nghiên cứu này dựa vào thông tin lấy từ các hộ gia đình. Mỗi hộ gia đình được xem như là một quan sát trong bộ dữ liệu.
Do vậy, trước tiên bài viết cần làm rõ khái niệm hộ gia đình một cách phù hợp với bối cảnh của luận văn. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc (2008): “Một hộ gia đình được định nghĩa là một nhóm người chia sẽ cùng nơi sinh sống, đóng góp một phần hoặc toàn bộ thu nhập và tài sản của họ và tiêu dùng chung một số loại hàng hóa và dịch vụ, mà chủ yếu là nhà ở và thức ăn.” Nhìn chung, mỗi thành viên trong hộ đều có một số quyền đối với những tài sản chung của hộ gia đình. Ít nhất, một số quyết định về tiêu dùng hoặc các hoạt động kinh tế khác của hộ phải được đưa ra như một quyết định thống nhất. Những thành viên trong cùng hộ không nhất thiết phải cùng thuộc một gia đình.
Quy mô của hộ gia đình là không giới hạn. Quy mô của hộ phụ thuộc vào các đặc điểm về truyền thống, tôn giáo, giáo dục, khí hậu, địa lý, lịch sử và các nhân tố kinh tế - xã hội khác. Những công nhân, người giúp việc sống chung trong trong gia đình mà không được người chủ của họ xem như một phần của hộ, mặc dù vẫn chia sẽ chung nơi sinh sống và sử dụng chung một số hàng hóa, thì vẫn không được xem như là thành viên trong hộ gia đình. Mặc khác, những người ở trong bệnh viện, viện dưỡng lão, hoặc ở các tổ chức tương tự trong thời gian ngắn, những người đi làm, đi học xa ở các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trường trung học, cao đẳng, đại học, những người ở tù trong khoản thời gian ngắn hạn vẫn được xem là những thành viên trong hộ gia đình mà họ thường sinh sống.
Theo định nghĩa này, mỗi hộ gia đình được xem như một đơn vị tiêu dùng hàng hóa trên thị trường. Một khái niệm khác về hộ gia đình được Liên Hiệp Quốc (1998) phát triển phục vụ hoạt động điều tra dân số như sau: “Khái niệm hộ gia đình dựa vào sự thỏa thuận được thực hiện bởi con người, là cá nhân hoặc nhóm tập thể, về việc cung cấp cho chính họ thức ăn và những tài sản thiết yếu khác phục vụ cho cuộc sống. Một hộ gia đình có thể là: (a) một hộ gia đình một người, có nghĩa là một người tự cung cấp cho anh ta (hoặc cô ta) thức ăn và những tài sản thiết yếu khác cho cuôc sống mà không kết hợp với bất kỳ người nào khác; hoặc (b) một hộ gia đình nhiều thành viên, có nghĩa là một nhóm từ hai người trở lên sống chung với nhau, cung cấp chung thức ăn và những tài sản thiết yếu khác cho cuộc sống. Một thành viên trong nhóm có thể đóng góp vào nguồn tài nguyên chung hoặc ngân sách chung của họ, họ có thể là những người thân hoặc không hoặc là sự kết hợp cả hai.” Định nghĩa này không đồng nhất hai khái niệm hộ gia đình với khái niệm nơi ở.
Hay nói một cách khác, có thể có nhiều hộ gia đình sống chung trong một nơi ở hay một hộ gia đình có thể có những thành viên sống ở những nơi ở khác nhau.