Giáo trình bệnh truyền nhiễm trâu bò tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp

Giáo trình bệnh truyền nhiễm trong chăn nuôi cao đẳng phần 2 cung cấp kiến thức cần thiết cho sinh viên ngành thú y tại Đồng Tháp.

Trường đại học

Cao đẳng

Chuyên ngành

Bệnh truyền nhiễm trâu bò

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
60
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

4. CHƯƠNG 4: BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÂU BÒ MH41-04

4.1. BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ (Pasteurellosis bovum)

4.2. BỆNH TIÊU CHẢY Ở BÒ DO VIRUS

4.3. BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÂU BÒ (FMD: foot and mouth disease)

5. CHƯƠNG 5: BỆNH TRUYỀN NHIỄM GIA CẦM MH41-05

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình bệnh truyền nhiễm trâu bò cao đẳng

Giáo trình bệnh truyền nhiễm trâu bò cao đẳng cung cấp kiến thức cần thiết về các bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trâu bò. Nội dung giáo trình không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ về triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh. Việc nắm vững kiến thức này là rất quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe đàn gia súc và đảm bảo an toàn thực phẩm.

1.1. Mục tiêu và nội dung chính của giáo trình

Giáo trình tập trung vào việc cung cấp kiến thức về đặc điểm triệu chứng, bệnh tích và chẩn đoán phân biệt các bệnh truyền nhiễm ở trâu bò. Mục tiêu chính là giúp sinh viên có khả năng thực hiện các biện pháp phòng và điều trị bệnh hiệu quả.

1.2. Tầm quan trọng của việc học về bệnh truyền nhiễm

Việc hiểu biết về bệnh truyền nhiễm ở trâu bò không chỉ giúp sinh viên nâng cao kiến thức chuyên môn mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe đàn gia súc, từ đó đảm bảo nguồn thực phẩm an toàn cho con người.

II. Những thách thức trong việc phòng bệnh truyền nhiễm cho trâu bò

Bệnh truyền nhiễm ở trâu bò là một trong những vấn đề nghiêm trọng trong chăn nuôi. Các bệnh như bệnh tụ huyết trùng, bệnh tiêu chảy do virus và bệnh lở mồm long móng đều có thể gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi. Việc phát hiện sớm và có biện pháp phòng ngừa kịp thời là rất cần thiết.

2.1. Nguyên nhân gây bệnh truyền nhiễm ở trâu bò

Nguyên nhân chính gây ra các bệnh truyền nhiễm ở trâu bò thường là do vi khuẩn, virus và điều kiện môi trường không đảm bảo vệ sinh. Việc thiếu kiến thức về phòng bệnh cũng là một yếu tố quan trọng dẫn đến sự lây lan của bệnh.

2.2. Tác động của bệnh truyền nhiễm đến ngành chăn nuôi

Bệnh truyền nhiễm không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của trâu bò mà còn gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi. Sự lây lan của bệnh có thể dẫn đến giảm năng suất, tăng chi phí điều trị và thậm chí là mất mát đàn gia súc.

III. Phương pháp phòng bệnh truyền nhiễm hiệu quả cho trâu bò

Để phòng ngừa bệnh truyền nhiễm ở trâu bò, cần áp dụng các biện pháp vệ sinh, tiêm phòng định kỳ và quản lý chăn nuôi hợp lý. Việc này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe đàn gia súc mà còn đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.

3.1. Biện pháp vệ sinh chuồng trại và thức ăn

Vệ sinh chuồng trại thường xuyên và đảm bảo nguồn thức ăn sạch sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh. Cần chú ý đến việc tiêu độc chuồng trại và cung cấp thức ăn dinh dưỡng cho trâu bò.

3.2. Tiêm phòng vaccine cho trâu bò

Tiêm phòng vaccine định kỳ là một trong những biện pháp quan trọng để ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm. Việc tiêm vaccine giúp tạo miễn dịch cho trâu bò, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

IV. Kết quả nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm ở trâu bò

Nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm ở trâu bò đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả có thể giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh. Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng việc tiêm phòng vaccine và quản lý chăn nuôi hợp lý là rất cần thiết.

4.1. Các nghiên cứu điển hình về bệnh truyền nhiễm

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh như tiêm vaccine và vệ sinh chuồng trại có thể giảm thiểu đáng kể tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm ở trâu bò.

4.2. Tác động của các biện pháp phòng bệnh đến sức khỏe đàn gia súc

Các biện pháp phòng bệnh hiệu quả không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe đàn gia súc mà còn nâng cao năng suất chăn nuôi, từ đó tăng thu nhập cho người chăn nuôi.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu bệnh truyền nhiễm

Kết luận từ các nghiên cứu cho thấy rằng việc phòng ngừa bệnh truyền nhiễm ở trâu bò là rất quan trọng. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các biện pháp phòng bệnh hiệu quả hơn để bảo vệ sức khỏe đàn gia súc.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong phòng bệnh

Nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm giúp cung cấp thông tin cần thiết để phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, từ đó bảo vệ sức khỏe đàn gia súc và đảm bảo an toàn thực phẩm.

5.2. Hướng đi tương lai trong nghiên cứu bệnh truyền nhiễm

Cần tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu và phát triển vaccine mới, cũng như cải thiện các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh truyền nhiễm ở trâu bò.

16/08/2025
Giáo trình bệnh truyền nhiễm nghề chăn nuôi cao đẳng phần 2 trường cao đẳng cộng đồng đồng tháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 4 BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÂU BÒ MH41-04 Giới thiệu: Trình bày nguyên nhân của các bệnh trên trâu bò. Chẩn đoán phân biệt các bệnh truyền nhiễm trên trâu bò. Có biện pháp phòng chống bệnh truyền nhiễm và biết cách điều trị bệnh hiệu quả. Mục tiêu: - Kiến thức: Có kiến thức về đặc điểm triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán phân biệt từng bệnh truyền nhiễmtrên trâu bò.

Có biện pháp phòng và điều trị bệnh trên trâu bò. - Kỹ năng: Phân biệt được các bệnh truyền nhiễm trên trâu bò.Thực hiện biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Sau khi kết thúc học phần sẽ có đủ trình độ tự giải quyết các vấn đề có liên quan đến cơ thể học của các loài động vật 1. BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ (Pasteurellosis bovum) Bệnh tự huyết trùng trâu bò là bệnh truyền nhiễm cấp tính gây ra bởi vi khuẩn Pasteurella multocida đặc trưng bởi nhiễm trùng huyết, xuất huyết và viêm phổi.1 Lịch sử và phân bố bệnh lý Năm 1878, bệnh lần đầu tiên được Bollinger ghi nhận ở động vật hoang dã và trâu bò. Năm 1880, Kitt so sánh bệnh tụ huyết trùng heo, gia cầm, trâu bò, thỏ và động vật hoang, ông đã kết luận những mầm bệnh này có nhiều đặc tính chung và gọi với tên chung Bacterium bipolare multocidum sau gọi là P.multocida Bệnh có ở châu Âu , châu Á, châu Phi,….ở vùng nhiệt đới bệnh thường lây lan có tính chất trầm trọng hơn ở vùng ôn đới.

Ở Việt Nam bệnh có ở khắp nơi xảy ra lẻ tẻ ở đồng bằng bắc, trung và nam bộ. Bệnh thường xảy ra lúc giao mùa. Nguyên nhân gây bệnh Do vi khuẩn Pasteurella multocida có đặc điểm tụ huyết, bại huyết, xuất huyết. Thể nặng ngày nay gọi là bại xuất huyết trâu bò.

- Hình thái:Vi khuẩn có dạng trực khuẩn ngắn, gram âm. Trong máu thú bệnh hoặc phủ tạng phết kính có hình lưỡng cực, không di động có giác mô. 61 - Sức đề kháng: đối với ngoại cảnh dể bị tiêu diệt bởi nhiệt độ, ánh sáng, chất sát trùng. Không tồn tại lâu trong đất, bùn (chết sau 24 giờ), trong xác thối (1 – 3 tháng) Các chất sát trùng diệt vi khuẩnnhanh chóng: HgCL2 1/5000, NaOH 1%, formol 1% trong vòng 3 – 5 phút - Cấu trúc kháng nguyên: Gồm kháng nguyên thân và kháng nguyên giác mô.

Theo Carter dùng phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp đã phân biệt được 5 týp kháng nguyên K kà A, B, D, E, F. Ở trâu bò thường gặp A, B với typ A gây viêm phổi, typ B thường gây bại xuất huyết. Theo Namioka và Brunner dùng phản ứng ngưng kết đã chia thành 12 typ kháng nguyên thân O. Bệnh bại xuất huyết trâu bò ở Việt Nam thường có cấu trúc kháng nguyên là 6:B 1.

Truyền nhiễm học Loài mắc bệnh - Trong tự nhiên: Trâu thường mẫm cảm với bệnh hơn bò, dê. Tuổi mắc bệnh từ 6 tháng đến 2- 3 năm. Có khi bệnh lây từ trâu bò sang heo và ngựa - Trong phòng thí nghiệm: Chuột bạch, thỏ, bồ câu dể mẫm cảm (thỏ rất mẫn cảm: 1 – 10 vi khuẩn  chết) Chất chứa vi khuẩn: Trong máu, phủ tạng, dịch bài xuất, dịch thủy thủng, niêm mạc mũi hầu. Đường xâm nhập: Tiêu hoá, hô hấp, da bị trầy.

Phương thức lây truyền: Trực tiếp qua vết thương, tiếp xúc chung chuồng và gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ, qua sản phẩm ( thịt, sữa, da) qua động vật truyền đi (chó, chim ăn thịt). Triệu chứng bệnh (biểu hiện 3 thể bệnh) Thời kỳ nung bệnh ngắn chỉ khoảng từ 1 – 3 ngày, đôi khi vài giờ, tỷ lệ chết có thể 90 – 95% Thể quá cấp: Thường chết trong vòng 24 giờ do bại huyết với triệu chứng ít rõ ràng, sốt cao, run rẩy, đôi khi có triệu chứng thần kinh bị kích động. Thể cấp: Thời kỳ ủ bệnh ngắn từ 1 – 3 ngày, tỷ lệ mắc bệnh 10 – 50%. Con vật mệt lả, không nhai lại sốt cao 40 - 42 0 C.

Niêm mạc mắt, mũi, tụ huyết, con 62 vật chảy nước mắt, nước dãi. Triệu chứng cục bộ xuất hiện do vi khuẩn xâm nhập. - Bệnh thể hạch: Hạch sưng thuỷ thủng, chổ sưng nóng, đau. Lưỡi thè ra ngoài miệng, nuốt khó.

Hạch đùi sưng gây triệu chứng đi khập khiểng hoặc không đi được. - Bệnh thể ngực: Viêm phế quản phổi, tần số hô hấp tăng trên 60 lần/ phút, nghe âm ran ướt ở phần bụng của phổi. Con vật ho, chảy nước mũi đặc, viêm màng phổi. - Bệnh thể bụng: Viêm ruột cấp tính, lúc đầu táo bón rồi tiêu chảy có máu, bụng chướng to lúc sắp chết (chướng hơi dạ cỏ) Thể mãn Thường theo sau thể cấp tính, kéo dài vài tuần lễ.

Triệu chứng hay gặp là viêm ruột, gây tiêu chảy hoặc viêm phế quản phổi (ho kéo dài) 1. Bệnh tích Bệnh tích chung: Tổ chức dưới da xuất huyết lấm tấm, thịt tím bầm và thấm ướt. Hạch sưng, quanh hạch có vùng thủy thủng. Thận, gan bị viêm.

Bệnh tích cục bộ: - Thể hạch: Hạch lamba thuỷ thủng, sưng to, cắt chảy nước vàng, thường có xuất huyết - Thể ngực: Lồng ngực có nước vàng, phổi viêm phần bụng cứng, ngoại tâm mạc có xuất huyết, bao tim tích nước vàng. - Thể bụng: Viêm phúc mạc, hạch ruột sưng, thủy thủng. Chẩn đoán Chẩn đoán phân biệt (lâm sàng) - Bệnh nhiệt thán: Bệnh tiến triển nhanh, sưng hầu, thịt đen, máu thâm đen, đặc khó đông, lách sưng to gấp 2 – 3 lần và nhũn nát. - Bệnh dịch tả trâu bò: Có mụn loét ở mồm, lợi, ỉa vọt cần câu.

Bệnh tích đặc hiệu là loét dạ múi khế, van hồi manh tràng và trực tràng. Cận lâm sàng (phòng thí nghiệm) - Kiểm tra trên kính hiển vi: Lấy bệnh phẩm như phổi, lách, gan nhuộm gram cho thấy vi khuẩn hình trứng, bắt màu lưỡng cực. 63 - Phản ứng huyết thanh học: Phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp, phản ứng kết tủa khuyếch tán trên thạch. Phòng bệnh và điều trị Phòng bệnh - Vệ sinh: Chuồng trại, ăn uống, quản lý.

Chăm sóc và sử dụng gia súc hợp lý. Thường xuyên tiêu độc chuồng trại, chú ý điều kiện thông thoáng. - Tiêm phòng: Tiêm vaccine định kỳ, dùng loại vaccine formol keo phèn tiêm dưới da 2ml/con, vaccine tạo miễn dịch sau khi tiêm 14 – 21 ngày và hiệu lực bảo hộ 6 tháng. Điềi trị Dùng kháng sinh như Penicillin phối hợpStreptomycin, Ampicilline, Tetracilline hoặc dùng Sulfamid kết hợp tăng sức đề kháng, trợ sức, trợ lực, hộ lý chăm sóc.

BỆNH TIÊU CHẢY Ở BÒ DO VIRUS 2. Lịch sửu và địa dư bệnh lý Bệnh phát hiện đầu tiên ở Canada và Mỹ vào năm 1940, được Olafson và ctv mô tả bệnh trên đàn bò sữa ở New York như là bệnh viêm dạ dày và ruột với triệu chứng tiêu chảy trầm trọng. Năm 1950 bệnh thể niêm mạc (mucosal disease) được Ramsey và Chivers mô tả trên bò và gia súc cho sữa khác. ở Việt Nam các chuyên gia thú y đã phát hiện một số bò sữa nhập nội có biểu hiện lâm sàng của bệnh tiêu chảy do virus, nhiều nghiên cứu huyết thanh học gần đây cho thấy sự hiện diện của virus trên một số đàn trâu bò.

Nguyên nhân gây bệnh - Bệnh do một một loại virus gây ra Pestivirrus thuộc họ Flavivirus, là một RNA. Virus hình cầu, đường kính 57nm. Virus có kháng nguyên gần với virus gây bệnh dịch tả heo. Có 2 type gây bệnh dịch tả ở bò - Virus bị tiêu diệt bởi ether, chloroform.

Ở 560C virus bị tiêu diệt sau 30 phút. - Virus tồn tại ở pH = 5. Trong các tổ chức bệnh bảo quản ở -200C virus sống được 1 năm. Trong máu có chất chống đông citrat natri bảo quản 40C virus sống được 6 tháng.

64 - Virus bị diệt dưới ánh sáng mặt trời và các thuốc sát trùng thông thường: Iod, formol, 2. Truyền nhiễm học * Loài mắc bệnh Bệnh tiêu chảy ở bò xảy ra ở bò mọi lứa tuổi, nhưng bê từ 3 - 18 tháng tuổi mẫn cảm nhất. Bệnh cũng có thể lây cho một số loài động vật khác như cừu,dê, nai… * Đường lây truyền Virus có trong dịch tiết như nước mắt, nước bọt, nước tiểu, dịch nhầy, trong phân, sữa. Bệnh có thể lây lan qua việc tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chất bài tiết có chứa virus.

Bò cái mang thai có thể lây truyền cho bào thai qua nhau * Cơ chế sinh bệnh Đa số bò mang thai đều mẫn cảm với bệnh, virus có thể đi vào tử cung và gây bệnh cho thai 2. Triệu chứng Thời gian nung bênh trong khoảng 2-10 ngày, với các thể bệnh Thể cấp tính Bò bị sốt cao (40-41OC) nhưng dần dần trở lại bình thường hoặc dưới mức bình thường trong vòng 1-2 ngày trước khi có triệu chứng tiêu chảy. Bò bệnh có triệu chứng chảy nước dãi, nước mắt, sung huyết và loét niêm mạc miệng, lợi, lưỡi. Bò có biểu hiện suy nhược cơ thể, biếng ăn, ngừng nhai lại, nhịp tim và nhịp thở gia tăng.

Tiêu chảy là triệu chứng đặc trưng, ban đầu con vật có triệu chứng tiêu chảy trong vài ngày rồi dừng lại khi nhiệt độ giảm, sau đó nhiệt độ tăng con vật tiêu chảy trở lại trong nhiều ngày, nhiều tuần. Phân lỏng và có mùi chia, có máu, sợi huyết, màng nhày và niêm mạc ruột. Có dấu hiệu mất nước rất nhanh do tiêu chảy nhiều nước. Ở bò cái mang sẩy thai sau 10 ngày hoặc vài tháng sau khi qua khỏi bệnh.

Tình trạng chết phôi và thai được thể hiện ở nhiều dạng như được hấp thu, thai gỗ (mummification) hay sẩy thai. Khi bào thai bị nhiễm vào giai đoạn cuối của thai kỳ (trên 150 ngày), lúc này thai có thể đáp ứng kháng thể và không bị ảnh hưởng. 65 Gia súc bệnh ở thể cấp tính có thể chết trong vòng 48 giờ do sốt, nhiễm trùng toàn thân và ngưng trệ tuần hoàn. Thể mạn tính Con vật bệnh thể mạn tính là do di chứng của thể niêm mạc cấp tính, con vật có thể bị tiêu chảy nhẹ, sốt, thở nhanh, chướng hơi mạn tính, kém ăn, sụt cân, chảy nước mũi.

Con vật có thể chết do suy nhược hoặc bị thải do năng suất kém. Bệnh tích Bệnh tích đại thể Bệnh tích điển hình là toàn bộ niêm mạc xoang miệng ửng đỏ, có nhiều đốm loét cạn trên niêm mạc, biểu bì bị bào mòn, loét có thể thấy ở khẩu cái cứng và khẩu cái mềm, phía lưng và phía bên của lưỡi, ở nướu răng và phần tiếp gáp của miệng. Những trường hợp bệnh đã tiến triển thì các gai thịt ở má bị sung huyết, phần đầu bị bong ra, để lại các gai thịt bị mòn. Hoại tử đốm, xuất huyết, viêm toàn bộ niêm mạc của hệ thống tiêu hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ