đặt vấn đề như thế, việc xây dựng nhân vật tích cực, nhân vật tìm đường trở thành xu hướng của văn học thời kì này. Bên cạnh đó, trong sự phát triển mới đầy biến động và phức tạp của đời sống, việc tìm hiểu con người bằng những thủ pháp phân tích truyền thống đã không còn phù hợp, nhà văn hiện thực đã tìm ra những cách tiếp cận mới, hiệu quả hơn trong việc đi sâu vào thế giới nội tâm của con người hiện đại. Trên bình diện thể loại cũng có sự phát triển và thay đổi mới. Thơ ca vẫn phát triển đa dạng nhưng đã nhường vị trí hàng đầu cho văn xuôi.
Trong văn xuôi, tiểu thuyết anh hùng ca, truyện vừa phát triển mạnh hơn cả và giữ địa vị thống soái so với các thể loại khác. Đỉnh cao mẫu mực của các hình thức này là Dostoievski và Tolstoi. Vào những thập niên cuối thế kỉ XIX, kịch và truyện ngắn khẳng định vị trí của mình bằng những cách tân mới mẻ của Chekhov. Cùng với hai thể loại này, trên văn đàn Nga thập niên cuối nở rộ thêm các thể loại chính luận báo chí với tên tuổi của A.
Giai đoạn kết thúc của văn học cổ điển với những bước chuẩn bị bắc cầu sang văn học hiện đại (từ giữa những năm 90 trở đi). Những người xây nhịp cầu để bước sang thời kì mới chính là một số đại diện kiệt xuất của giai đoạn trước, như F. Trong giai đoạn này nảy sinh nền văn học vô sản mà đại diện nổi bật là M. Gorki, nảy sinh nhiều kiểu tiếp xúc nghệ thuật, tiến tới xác lập cho văn học Nga một diện mạo hiện đại.
(3) Văn học Nga thế kỉ XX khá phức tạp, được cấu thành từ nhiều bộ phận, tựu trung là ba dòng sau đây: - Văn học Kỉ nguyên bạc (văn học cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX): là gạch nối chuyển giao của hai thời đại. Nó có vai trò đặc biệt trong việc tổng kết giai đoạn cổ điển và khơi nguồn một nền văn học hiện đại, chảy chung vào đời sống nghệ thuật thế giới thế kỉ XX. Một số đại diện của dòng văn học này: I. Sau Cách mạng tháng Mười, một số nhà văn trên đã ra nước ngoài, hình thành một phận văn học khác - Văn học Nga hải ngoại; sổ ở lại sáng tác trong bộ phận Văn học Xô-viết.
Một số tác phẩm nổi tiếng của dòng văn học này: Những quả tảo Antonoy, Quý ông từ San Fransisco (I. Bunin), Chiếc vòng thạch lựu (A. Đây là thời kì văn học phát triển đặc biệt bởi sự đua tranh của các tài năng, của nhiều khuynh hướng nghệ thuật. Trong thi ca nổi lên nhiều trường phái đa dạng: chủ nghĩa Tượng trưng với sự kết hợp nghệ thuật với tôn giáo, đại diện xuất sắc nhất là A.
Blok; chủ nghĩa Hình tượng mà Esenin có thời gian là đại diện tiêu biểu; chủ nghĩa Vị lai với thủ lĩnh nổi bật là V. - Văn học Xô-viết: là dòng văn học của một đất nước thực hành mô hình Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, cảm hứng chủ đạo là khẳng định cuộc sống mới của người lao động, với phương pháp sáng tác được định hướng là hiện thực xã hội chủ nghĩa. Bộ phận văn học này mang tên một giai đoạn lịch sử, một thể chế chính trị - xã hội đã từng tồn tại trong vòng bảy thập niên. Một số đại diện chính của dòng văn học này: M.
Các tác phẩm được coi là kinh điển của bộ phận văn học này: Người mẹ (M. Gorki) Thép đã tôi thế đấy (N. Ost’rovski), Đội cận vệ thanh niên (A. Fadeev), Con đường đau khổ (A.
Tolstoi), Sông Đông êm đềm, (M. Song song tồn tại với bộ phận văn học được coi là dòng chủ lưu này, thời kì Xô-viết còn có một bộ phận văn học không công khai, được gọi là văn học Samizdat (Tự xuất bản). Đó là phương thức xuất bản không chính thức, nằm ngoài kiểm duyệt, những văn bản được lưu truyền trong cộng đồng một số tác giả và độc giả. - Văn học Nga hải ngoại: là dòng văn học Nga do nhiều thế hệ Nga lưu vong ở nước ngoài viết (bằng tiếng Nga hoặc tiếng Anh).
Bộ phận này làm rạng danh văn học Nga bằng nhiều tên tuổi văn xuôi như I. cùng các nhà thơ tên tuổi như I. Đại diện của tất cả các bộ phận văn học trên đều giành được giải Nobel văn chương: I. (4) Văn học Nga từ sau 1991 đến nay: Sau sự tan vỡ của Liên bang Xô-viết vào năm 1991, các bộ phận văn học Nga dần dần hợp nhất thành một chỉnh thể với khuynh hướng chủ đạo là văn học hậu hiện đại.
Bên cạnh nhũng tên tuổi đã thành danh ở các giai đoạn trước, xuất hiện nhiều cây bút tài năng mới: V. Một nền văn học hướng về lí tưởng đạo đức và thẩm mĩ nhân dân, mang tính triết học Nga Đa số các nhà văn Nga đi nhiều, tiếp xúc nhiều, trải nghiệm nhiều, tôi luyện trong thực tế, chứ không sáng tác trong những “tháp ngà”. Không ít người trong số họ có xu hướng tách rời khỏi lí tưởng thẩm mĩ của giai cấp thượng lưu, tìm thấy trong nhân dân những giá trị chân - thiện - mĩ phù hợp với mình. Pushkin thuộc dòng dõi quý tộc thế truyền, nhưng suốt đời không chịu chức sắc cung đình, mà nguyện mãi là ca sĩ của nhân dân: “Năm châu bốn bể đi liền/ Mà đem lời nói đốt tim muôn người”.
Tolstoi là một “ông lớn” giàu sang nhưng suốt đời muốn chối bỏ sự giàu sang đó, suốt đời muốn rời bỏ “chiếc đi-văng màu xanh” của tổ ấm quý tộc, để trở về với cuộc sống của nhân dân. Quan điểm thẩm mĩ của Pushkin, Tolstoi, Dostoievski có rất nhiều điểm phù hợp với quan niệm thẩm mĩ của nhân dân. Nhũng nhân vật yêu quý của họ, như Tachiana Larina, Natasha Rostova, Dunia Raskolnikova, Sonia Marmeladov sáng ngời vẻ đẹp của lí tưởng Chính thống giáo Nga. Nhiều nhà văn Nga gần gũi thân quý với chủ nghĩa Dân túy (Polulisme) - một khuynh hướng lí tưởng hóa nhân dân, nhìn thấy trong nhân dân chân lí và cái đẹp.
Trong các tác phẩm của mình, Pushkin, Dostoievski, Tolstoi chỉ ra rằng một khi tầng lớp có văn hóa mà tách rời khỏi nhân dân và đứng đối lập với “nhân dân” và chân lí của nhân dân, nó sẽ lâm vào khủng hoảng và bế tắc. Tolstoi phát biểu thẳng thừng rằng chân lí nằm trong những người mu-gic, chứ không phải trong các nhà quý tộc, không phải trong giới trí thức. Văn học Nga còn là triết học, là đạo đức Nga được thể hiện dưới hình thức nghệ thuật. Nhiều tác phẩm văn học Nga được liệt vào hàng kiệt tác văn chương thế giới đều mang những tư tưởng sâu sắc về đời sống nhân sinh, trước hết là về đạo đức.
Không phải vô cớ mà N. Berdiaev cho rằng, văn học Nga gắn với đạo đức con người hơn bất cứ nền văn học nào khác. Lòng vị tha, nhạy cảm với mỗi nỗi đau của con người thuộc về bản tính của nhà văn Nga. Dostoievski được coi là những nhà tư tưởng lớn.
Hơn bất cứ ai, hai ông cảm nhận hết sức sâu sắc những mâu thuẫn gay gắt của thời đại mình. Để giải quyết những vấn đề đó, cả hai đều hướng tới đạo đức chứ không bằng giải pháp chính trị. Điều này khiến họ bất đồng với các tư tưởng cách mạng Nga lúc đó. Dostoievski và Tolstoi nhìn thấy sự bế tắc về đạo đức ở chỗ những nguyên lí đạo đức khởi nguyên đã sụp đổ, những tín ngưỡng dân tộc đã biến mất khỏi đời sống xã hội, cần phải xác định lại ý nghĩa của cuộc sống, bản chất cái thiện cái ác và tiêu chí phân chia các khái niệm ấy.
Cả hai ông đều nhìn thấy con đường duy nhất để thoát khởi ngõ cụt là sự tự đấu tranh hoàn thiện bản thân, thực hiện nguyên lí “Từ bi bác ái” và “Tình yêu”. Và đây chính là phạm vi đề tài của hai nhà văn, khi buộc bản thân mình và các nhân vật trải qua những “Con đường đau khổ” để dẫn tới “Phục sinh”. Một nền văn học sáng tác văn chương gắn liền với khoa học nghiên cứu văn học Ở Nga không thể tách rời hoạt động sáng tác văn chương với sự vận động và phát triển tư duy lí luận. Sáng tác văn chương luôn song hành với khoa học nghiên cứu văn học.
Lí luận văn học Nga đạt được những thành tựu rực rỡ, tác động và ảnh hưởng sâu đậm đến sự phát triển văn chương, văn hóa Nga. Hiện tượng nhà văn - nhà lí luận trong văn học Nga khá phổ biến, như N. Nhiều thành tựu của các phê bình Nga. đã thành di sản chung của toàn thế giới.
Ở đây chỉ xin nêu hai gương mặt tiêu biểu của hai thế kỉ văn học: Belinski và Bakhtin. Belinski (1811 - 1848) đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử văn học Nga. Mặc dù không để lại sáng tác thơ ca hay tiểu thuyết nào, nhưng nhà phê bình được coi là người đồng sáng tạo “Thế kỉ vàng” của văn học Nga. Ông là người đầu tiên trong văn học Nga và văn học thế giới chính thức đặt nền móng cho phương pháp nghiên cứu phê bình nghệ thuật như một bộ môn khoa học, truất bõ sự võ đoán và vượt xa phương pháp ấn tượng, công thức.
Luận điểm nổi tiếng “Nghệ thuật là tư duy bằng hình tượng” của ông ngày nay đã trở thành cơ sở nghiên cứu tác phẩm văn học nói chung. Ông nói: “Nhà triết học nói bằng tam đoạn luận, nhà nghệ sĩ nói bằng các hình tượng, bằng những bức tranh và cà hai cũng chỉ nói một điều mà thôi”. Nhà phê bình cho rằng nghệ thuật không chỉ phản ánh, mà còn là một phương tiện nhận thức cuộc sống và tác động đến cuộc sống khá sâu sắc, nghệ thuật là “phương tiện đặc biệt để nhận thức thế giới”. Luận điểm này mang ý nghĩa triết học sâu xa và tiến bộ lớn lao suốt thế kỉ XIX đến tận bây giờ.
Belinski đề cao tài năng và cảm hứng của nhà nghệ sĩ, phân biệt các tác phẩm của họ với những sản phẩm được “chế tác”, “chuốt nặn”. Các nhận định văn học của ông đã đặt cơ sở cho sự cảm thụ một nền văn học Nga kỉ nguyên vàng đang được hình thành, gắn liền với chất thơ mới, “hiện thực”, với những đỉnh cao của văn học Nga như Pushkin, Gogol, Dostoievski, Tolstoi. Nhờ ông, biết bao tài năng được phát hiện, được kịp thời nhận chân giá trị, được tôn vinh và bảo vệ.