Giáo trình Triết học - TS. Lê Kinh Nam - ĐH Bà Rịa Vũng Tàu (Khối không chuyên ngành)

Giáo trình triết học dành cho đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ, cung cấp kiến thức nền tảng về triết học một cách hệ thống.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2021

207
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình triết học cho trình độ thạc sĩ tiến sĩ

Giáo trình triết học này được biên soạn dành riêng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ. Mục tiêu chính là trang bị nền tảng tri thức triết học cần thiết. Giáo trình không đi sâu vào các tranh luận chuyên ngành triết học. Thay vào đó, nó tập trung vào những nguyên lý cốt lõi và phương pháp luận. Cách tiếp cận này giúp người học ứng dụng tư duy triết học vào nghiên cứu chuyên môn. Nội dung bao quát các trường phái triết học lớn từ Đông sang Tây. Nó nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa triết học và khoa học. Giáo trình là công cụ quan trọng để nâng cao năng lực tư duy lý luận cho nhà khoa học. Đây là yêu cầu bắt buộc trong chương trình đào tạo sau đại học không chuyên ngành triết học tại Việt Nam.

1.1. Đối tượng và mục tiêu đào tạo

Giáo trình hướng đến đối tượng học viên là các nhà nghiên cứu, kỹ sư, bác sĩ có nền tảng khoa học tự nhiên. Mục tiêu không phải đào tạo nhà triết học chuyên nghiệp. Trọng tâm là xây dựng thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn. Người học được trang bị khả năng phân tích các vấn đề xã hội và nghề nghiệp từ góc độ triết học. Chương trình giúp họ hiểu sâu hơn bản chất của quá trình nhận thức khoa học. Điều này phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo công nghệ.

1.2. Cấu trúc nội dung chính của giáo trình

Giáo trình được xây dựng theo bốn chương logic. Chương một giới thiệu khái niệm chung về triết học và các trường phái lớn. Chương hai trình bày triết học Mác-Lênin một cách có hệ thống. Chương ba làm rõ mối quan hệ giữa triết học với các ngành khoa học cụ thể. Chương cuối phân tích vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển xã hội. Cấu trúc này đảm bảo tính toàn diện từ lý luận đến ứng dụng. Nó tạo nền tảng vững chắc để người học vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu.

II. Các vấn đề cốt lõi trong giảng dạy triết học cho khối kỹ thuật

Giảng dạy triết học cho người học khối kỹ thuật đối mặt nhiều thách thức riêng biệt. Nhiều học viên ban đầu cho rằng triết học là lý thuyết trừu tượng, xa rời thực tế. Họ có xu hướng tập trung quá mức vào kiến thức chuyên ngành hẹp. Điều này dẫn đến hạn chế trong tư duy tổng hợp và sáng tạo liên ngành. Nội dung triết học đôi khi được trình bày một cách máy móc, thiếu liên hệ với đời sống khoa học. Phương pháp giảng dạy truyền thống chưa phát huy hết tính hấp dẫn của môn học. Mâu thuẫn giữa nhu cầu học nhanh, học thực tế với đặc thù lý luận sâu của triết học luôn tồn tại. Việc đánh giá kết quả học tập cũng cần có tiêu chí phù hợp với đặc thù người học không chuyên. Giải quyết những vấn đề này là chìa khóa để nâng cao hiệu quả đào tạo.

2.1. Rào cản nhận thức và tâm lý của người học

Rào cản lớn nhất là định kiến về sự khô khan của triết học. Người học quen với tư duy logic hình thức, công thức cụ thể của khoa học tự nhiên. Họ gặp khó khăn khi tiếp cận các phạm trù triết học mang tính khái quát cao. Tâm lý học để lấy tín chỉ, thiếu động lực nội tại cũng là vấn đề phổ biến. Nhiều người không thấy được mối liên hệ trực tiếp giữa triết học và công việc chuyên môn của họ. Việc phá bỏ những rào cản này đòi hỏi nỗ lực lớn từ cả người dạy và người học.

2.2. Hạn chế về nội dung và phương pháp giảng dạy

Nội dung giáo trình đôi khi chưa cập nhật những vấn đề khoa học đương đại. Các ví dụ minh họa có thể thiếu tính thời sự, khó thu hút sự quan tâm. Phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn là thuyết trình một chiều. Sự tương tác, thảo luận tình huống, phân tích案例 từ chính lĩnh vực chuyên môn của người học chưa được chú trọng. Đội ngũ giảng viên đôi khi chưa am hiểu sâu sắc về chuyên ngành của học viên. Điều này gây khó khăn trong việc xây dựng cầu nối giữa lý thuyết triết học và thực tiễn khoa học kỹ thuật.

III. Phương pháp tiếp cận triết học hiệu quả cho nhà khoa học

Để khắc phục các vấn đề trên, cần áp dụng phương pháp tiếp cận sáng tạo. Trước hết, phải làm rõ tính ứng dụng thực tiễn của triết học ngay từ đầu. Người dạy nên lấy các tình huống, vấn đề cụ thể từ khoa học tự nhiên làm điểm xuất phát. Từ đó, khái quát hóa lên các nguyên lý triết học. Thứ hai, tăng cường phương pháp học tập dựa trên thảo luận nhóm và phân tích案例. Ví dụ, phân tích triết học về trí tuệ nhân tạo, đạo đức sinh học hay phát triển bền vững. Thứ ba, xây dựng mối liên hệ đa chiều giữa các chủ đề triết học và chuyên ngành. Sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh trực quan phù hợp với tư duy kỹ thuật. Cuối cùng, đổi mới cách đánh giá, khuyến khích các bài luận ứng dụng triết học vào giải quyết vấn đề thực tế trong nghiên cứu.

3.1. Tích hợp案例 thực tiễn từ khoa học công nghệ

案例 thực tiễn là cầu nối hiệu quả nhất giữa lý thuyết và thực hành. Có thể sử dụng案例 về cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ tư. Phân tích góc độ triết học về bản chất của nhận thức trong thời đại big data. Thảo luận các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu gen, công nghệ sinh học. Đặt ra các câu hỏi triết học về mối quan hệ giữa con người và máy móc thông minh. Cách tiếp cận này giúp người học cảm nhận được sức sống và giá trị của triết học. Nó biến những khái niệm trừu tượng thành công cụ tư duy hữu ích.

3.2. Phát triển kỹ năng tư duy phản biện và sáng tạo

Triết học là nền tảng để rèn luyện tư duy phản biện sắc bén. Người học được khuyến khích đặt câu hỏi, nghi ngờ những điều hiển nhiên. Họ học cách phân tích, đánh giá tính hợp lý của các lập luận khoa học. Đồng thời, triết học cũng bồi dưỡng tư duy sáng tạo thông qua việc phá bỏ khuôn khổ. Nó giúp nhà khoa học nhìn vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau. Các kỹ năng này cực kỳ quý giá trong hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ. Chúng giúp tạo ra những ý tưởng đột phá và giải pháp sáng tạo.

IV. Ứng dụng và kết luận về vai trò của triết học trong đào tạo sau đại học

Việc ứng dụng hiệu quả triết học mang lại lợi ích to lớn cho người học và xã hội. Đối với nhà khoa học, nó cung cấp phương pháp tư duy đúng đắn để giải quyết các bài toán phức tạp. Nó giúp họ nhận thức sâu sắc hơn về quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Trên bình diện rộng hơn, triết học góp phần định hướng đạo đức và trách nhiệm xã hội cho hoạt động khoa học. Giáo trình triết học cho khối không chuyên ngành cần liên tục được hoàn thiện. Nó phải bắt kịp sự phát triển của khoa học và những vấn đề thời đại. Mục tiêu cuối cùng là đào tạo những nhà khoa học không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có tầm nhìn triết học sâu sắc. Đó là nhân tố quyết định cho sự phát triển bền vững và nhân văn của khoa học công nghệ.

4.1. Định hướng đạo đức và trách nhiệm xã hội của nhà khoa học

Triết học, đặc biệt triết học đạo đức, giúp nhà khoa học nhận thức trách nhiệm của mình. Họ phải cân nhắc tác động xã hội và môi trường của nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Nguyên tắc “phục vụ con người” phải được đặt lên hàng đầu. Giáo trình nhấn mạnh các giá trị nhân văn, công bằng và phát triển bền vững. Nhà khoa học cần được trang bị khả năng dự báo và đánh giá rủi ro từ góc độ triết học. Điều này giúp tránh được những hệ lụy tiêu cực do lạm dụng khoa học công nghệ gây ra.

4.2. Hướng phát triển tương lai của giáo trình triết học

Giáo trình cần mở rộng nội dung về triết học khoa học, triết học công nghệ và đạo đức ứng dụng. Cần cập nhật các vấn đề nóng như trí tuệ nhân tạo, biến đổi khí hậu, y học tái tạo. Phương pháp giảng dạy phải tăng tính tương tác, ứng dụng công nghệ giáo dục tiên tiến. Cần xây dựng đội ngũ giảng viên có kiến thức liên ngành vững chắc. Sự hợp tác giữa khoa triết học và các khoa kỹ thuật là then chốt. Giáo trình phải thực sự trở thành người bạn đồng hành của nhà khoa học trên con đường sáng tạo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Giáo trình triết học dùng cho khối không chuyên ngành triết học trình độ đào tạo thạc sĩ tiến sĩ các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề về niềm tin, mà là chỉ phủ nhận khả năng vô hạn của nhận thức. Thuật ngữ “thuyết bất khả tri” (Agnosticism) được đưa ra năm 1869 bởi T. Huxley (Hắc-xli) (1825 - 1895), nhà triết học tự nhiên người Anh, người đã khái quát thực chất của lập trường này từ các tư tưởng triết học của D. Hume (Hi-um) và Cantơ.

Đại biểu điển hình cho những nhà triết học bất khả tri cũng chính là Hium và Cantơ. Ít nhiều liên quan đến thuyết bất khả tri là sự ra đời của trào lưu hoài nghi luận từ triế t ho ̣c Hy La ̣p Cổ đa ̣i. Những người theo trào lưu này nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đa ̣t đươc̣ và cho rằ ng con người không thể đa ̣t đế n chân lý khách quan. Tuy cực đoan về mặt nhận thức, nhưng Hoài nghi luận thời Phu ̣c hưng đã giữ vai trò quan tro ̣ng trong cuộc đấ u tranh chố ng hệ tư tưởng và quyề n uy của Giáo hội Trung cổ.

Hoài nghi luận thừa nhận sự hoài nghi đố i với cả Kinh thánh và các tín điề u tôn giáo. Quan niệm bất khả tri đã có trong triết học ngay từ Êpiquya khi ông đưa ra những luận thuyết chống lại quan niệm đương thời về chân lý tuyệt đối. Nhưng phải đến Cantơ, bất khả tri mới trở thành học thuyết triết học có ảnh hưởng sâu rộng đến triết học, khoa học và thần học châu Âu. Trước Cantơ, Hium quan niệm tri thức con người chỉ dừng ở trình độ kinh nghiệm.

Chân lý phải phù hợp với kinh nghiệm. Hium phủ nhận những sự trừu tượng hóa vượt quá kinh nghiệm, dù là những khái quát có giá trị. Nguyên tắc kinh nghiệm (Principle of Experience) của Hium thực ra có ý nghĩa đáng kể cho sự xuất hiện của các khoa học thực nghiệm. Tuy nhiên, việc tuyệt đối hóa kinh ngiệm đến mức phủ nhận các thực tại siêu nhiên, đã khiến Hium trở thành nhà bất khả tri luận.

Mặc dù quan điểm bất khả tri của Cantơ không phủ nhận các thực tại siêu nhiên như Hium, nhưng với thuyết về Vật tự nó (Ding an sich), Cantơ đã tuyệt đối hóa sự bí ẩn của đối tượng được nhận thức. Cantơ cho rằng con người không thể có được những tri thức đúng đắn, chân thực, bản chất về những thực tại nằm ngoài kinh nghiệm có thể cảm giác được. Việc 13 khẳng định về sự bất lực của trí tuệ trước thế giới thực tại đã làm nên quan điểm bất khả tri vô cùng độc đáo của Cantơ. Trong lịch sử triết học, thuyết Bất khả tri và quan niệm Vật tự nó của Cantơ đã bị Feuerbach (Phoiơbắc) và Hêghen phê phán gay gắt.

Trên quan điểm duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen tiếp tục phê phán Cantơ, khi khẳng định khả năng nhận thức vô tận của con người.Ăngghen, con người có thể nhận thức được và nhận thức được một cách đúng đắn bản chất của mọi sự vật và hiện tượng. Không có một ranh giới nào của Vật tự nó mà nhận thức của con người không thể vượt qua được. Ông viết: “Nếu chúng ta có thể minh chứng được tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được của Cantơ nữa”2. Những người theo Khả tri luận tin tưởng rằng, nhận thức là một quá trình không ngừng đi sâu khám phá bản chất sự vật.

Với quá trình đó, Vật tự nó sẽ buộc phải biến thành “Vật cho ta”. Biện chứng và siêu hình Trước hết chung ta cần xem xét các khái niệm “biện chứng” và “siêu hình” trong lich ̣ sử triế t ho ̣c đươc̣ dùng theo một số nghiã khác nhau. Nghĩa xuất phát của từ “biện chứng” là nghệ thuật tranh luận để tìm chân lý bằng cách phát hiện mâu thuẫn trong cách lập luận (Do Xôcrát dùng). Nghĩa xuất phát của từ “siêu hình” là dùng để chỉ triết học, với tính cách là khoa học siêu cảm tính, phi thực nghiệm (Do Arixtốt dùng) Đối với triế t ho ̣c hiện đa ̣i, đặc biệt là triế t ho ̣c mácxít, chúng đươc̣ dùng, trước hế t để chỉ hai phương pháp tư duy chung nhấ t đố i lập nhau, đó là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.

-Phương pháp siêu hình: Nhận thức đố i tươṇ g ở tra ̣ng thái cô lập, tách rời đố i tươṇ g ra khỏi các quan hệ được xem xét và coi các mặt đố i lập với nhau có một ranh giới tuyệt đố i. Nhận thức đố i tươṇ g ở tra ̣ng thái tiñ h; đồng nhất đối tượng với trạng thái tĩnh nhất thời đó. Thừa nhận sự biế n đổ i chỉ là sự biế n đổ i về số lươṇ g, về các hiện tượng bề ngoài. Nguyên nhân của sự biế n đổ i coi là nằ m ở bên ngoài đố i tươṇ g.

Phương pháp siêu hình có cội nguồ n hợp lý của nó từ trong khoa học cổ điển. Muố n nhận thức bất kỳ một đố i tươṇ g nào, trước hế t con người phải tách đố i tươṇ g ấ y ra khỏi những liên hệ nhất định và nhận thức nó ở tra ̣ng thái không biế n đổ i trong một không gian và thời gian xác đinh. ̣ Đó là phương pháp được đưa từ toán học và vật lý học cổ điển vào các khoa học thực nghiệm và vào triết học. Song phương pháp siêu hình chỉ có tác du ̣ng trong 2 C.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.

21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 14 một pha ̣m vi nhấ t đinh ̣ bởi hiện thực khách quan, trong bản chất của nó, không rời ra ̣c và không ngưng đo ̣ng như phương pháp tư duy này quan niệm. Phương pháp siêu hình có công lớn trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến cơ học cổ điển. Nhưng khi mở rộng phạm vi khái quát sang giải quyết các vấn đề về vận động, về liên hệ thì lại làm cho nhận thức rơi vào phương pháp luận siêu hình.Ăngghen đã chỉ rõ, phương pháp siêu hình “chỉ nhìn thấ y những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấ y mố i liên hệ qua la ̣i giữa những sự vật ấ y, chỉ nhìn thấ y sự tồ n ta ̣i của những sự vật ấ y mà không nhìn thấ y sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấ y, chỉ nhìn thấ y tra ̣ng thái tiñ h của những sự vật ấ y mà quên mấ t sự vận động của những sự vật ấ y, chỉ nhìn thấ y cây mà không thấ y rừng”3.

- Phương pháp biện chứng: Nhận thức đố i tươṇ g trong các mố i liên hệ phổ biến vốn có của nó. Đối tượng và các thành phần của đối tượng luôn trong sự lệ thuộc, ảnh hưởng nhau, ràng buộc, quy định lẫn nhau. Nhận thức đố i tươṇ g ở tra ̣ng thái luôn vận động biế n đổ i, nằ m trong khuynh hướng phổ quát là phát triể n. Quá trình vận động này thay đổ i cả về lượng và cả về chấ t của các sự vật, hiện tươṇ g.

Nguồ n gố c của sự vận động, thay đổ i đó là sự đấ u tranh của các mặt đố i lập của mâu thuẫn nội ta ̣i của bản thân sự vật. Quan điểm biện chứng cho phép chủ thể nhận thức không chỉ thấy những sự vật riêng biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành, phát triển và sự tiêu vong của sự vật, không chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật mà còn thấy cả trạng thái động của nó.Ăngghen nhận xét, tư duy của nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung nhau được, đối với họ một sự vật hoặc tồn tai hoặc không tồn tại, một sự vật không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau. Ngược lại, tư duy biện chứng là tư duy mềm dẻo, linh hoạt, không tuyệt đối hóa những ranh giới nghiêm ngặt. “Trong những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là…hoặc là” thì còn có cả “cái này lẫn cái kia” nữa, và thực hiện sự môi giới giũa các mặt đối lập”.

Nó thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó la ̣i vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳ ng đinh ̣ và cái phủ đinh ̣ vừa loa ̣i trừ nhau la ̣i vừa gắ n 4 bó với nhau. Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồ n ta ̣i. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cu ̣ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải ta ̣o thế giới và là phương pháp luận tối ưu của mọi khoa học. Cùng với sự phát triể n của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã trải qua ba giai đoa ̣n phát triể n, đươc̣ thể hiện trong triế t ho ̣c với ba hình thức lich ̣ sử của nó: Phép biện chứng đã phát triển qua ba hình thức, ba trình độ cơ bản: phép biện chứng 3 C.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.

20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.Ăngghen (1994), Toàn tập, t. 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 15 chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin. + Hình thức thứ nhất là phép biện chứng chất phác thời cổ đại.

Là hình thức đầu tiên của phép biện chứng. Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ dại. Tiêu biểu cho nhũng tư tưởngng biện chứng của triết học Trung Quốc là "biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và "ngũ hành luận" (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia. Trong triết học Ấn Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù "vô ngã", "vô thường", "nhân duyên".

Đặc biệt, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện một cách sâu sắc tinh thần của phép biện chứng tự phát.Ăngghen viết: "Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và Arixtốt, bộ óc bách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ