chương I - Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế như sau: (1) Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật. (2) Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế; công khai các thủ tục về thuế. (3) Giải thích, cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế; công khai mức thuế phải nộp của hộ gia đình, cá nhân kinh doanh trên địa bàn xã, phường, thị trấn. (4) Giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của pháp luật.
(5) Thực hiện việc miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, xoá nợ tiền phạt, hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế. (6) Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề nghị theo quy định của pháp luật. (7) Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế theo thẩm quyền. 12 (8) Giao kết luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế cho đối tượng kiểm tra thuế, thanh tra thuế và giải thích khi có yêu cầu.
(9) Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật. (10) Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Thời hạn thu, thủ tục nộp thuế và các chế tài liên quan: 2. Thời hạn nộp thuế: - Trường hợp người nộp thuế tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.
- Trường hợp cơ quan quản lý thuế tính thuế hoặc ấn định thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quản lý thuế. - Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, thời hạn nộp thuế như sau: + Đối với hàng hoá xuất khẩu là 30 ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan. + Đối với hàng hoá nhập khẩu là hàng tiêu dùng phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng; trường hợp có bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp thì thời hạn nộp thuế không quá 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan. + Đối với hàng hoá nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu là 275 ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan; trường hợp đặc biệt thì thời hạn nộ thuế có thể dài hơn 275 ngày phù hợp với chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu của doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ.
+ Đối với hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập, thời hạn nộp thuế là 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập. + Đối với các hàng hoá khác thì thời hạn nộp thuế là 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan. - Trường hợp được tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp thì thời hạn nộp thuế được thực hiện theo thời hạn bảo lãnh nhưng không quá thời hạn nộp thuế theo quy định. Hết thời hạn bảo lãnh hoặc thời hạn nộp thuế mà người nộp thuế chưa nộp thuế thì tổ chức bảo lãnh có trách nhiệm nôp số tiền thuế và tiền phạt chậm nộp thay cho người nộp thuế.
Đồng tiền nộp thuế: Đồng tiền nộ thuế là Đồng Việt Nam, trừ trường hợp nộp thuế bằng ngoại tệ theo quy định. Địa điểm và hình thức nộp thuế: 13 Người nôp thuế thực hiện nộp tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước, tại cơ quan quản lý thuế nơi tiếp nhận hồ sơ khai thuế, hoặc thông qua tổ chức tín dụng được cơ quan quản lý thuế uỷ nhiệm thu thuế, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và tổ chức dịch vụ theo quy định của pháp luật. Phân loại thuế: 3. Phân loại theo đối tượng chịu thuế: Có thể chia thuế thành 3 loại: Thuế tiêu dùng: Là loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập được tiêu dùng trong hiện tại như: thuế GTGT, thuế XNK, thuế TTĐB… Thuế thu nhập: Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập thực tế kiếm được của các tổ chức, cá nhân như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao…Thuế tài sản: Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản lưu giữ hay chuyển dịch như: thuế chuyển quyền sử dụng đất… 3.
Phân loại theo phương thức đánh thuế Có thể chia thuế thành 2 loại theo phương thức đánh thuế là: thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế. Thuộc thuế trực thu gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao… Thuế gián thu: Là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ. Người tiêu dùng hoặc người được cung cấp hàng hoá dịch vụ là người chịu thuế này (người nộp thuế không phải là người chịu thuế).
Thuộc thuế gián thu gồm: thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế XNK, thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)… 3. Phân loại theo mối quan hệ đối với khả năng nộp thuế: Theo cách phân loại này hệ thống thuế chia làm 2 loại: - Thuế tổng hợp: Là loại thuế đánh vào tất cả thành phần của cơ sở đánh thuế mà không có trường hợp ngoại lệ, không có miễn, giảm thuế. VD: thuế GTGT… - Thuế có lựa chọn: Là loại thuế chỉ đánh vào một phần nhất định của cơ sở đánh thuế. VD: thuế TNCN… 3.
Phân loại theo phạm vi, thẩm quyền về thuế: Theo phạm vi và thẩm quyền trong việc ban hành chính sách, chế độ, hệ thống thuế có thể chia thành: - Thuế Trung ương: Là hình thức thuế do các cơ quan đại diện chính quyền Nhà nước ở Trung ương ban hành. - Thuế địa phương: Là hình thức thuế do các cơ quan đại diện địa 14 phương ban hành. Các tiêu chí để xây dựng hệ thống thuế: Có 4 tiêu chí làm cơ sở xây dựng và đánh giá chất lượng của một hệ thống thuế ở mỗi quốc gia là: tính công bằng, tính hiệu quả, tính rõ ràng minh bạch và tính linh hoạt. Tính công bằng: Tính công bằng là một đòi hỏi khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử.
Trong một xã hội dân chủ tính công bằng cần phải được thực hiện trước hết đối với việc phân chia gánh nặng thuế khoá. Tuy nhiên cho đến nay, tiêu thức để đánh giá tính công bằng của một hệ thống thuế cũng đang có nhiều ý kiến khác nhau. Các nhà kinh tế cho rằng, công bằng của thuế khoá phải dựa trên nguyên tắc công bằng theo chiều ngang và chiều dọc. Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang: nếu các cá nhân về mọi mặt đều như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.
Tuy nhiên, trong thực tế nguyên tắc này ít có tính khả thi vì nó không chỉ rõ tiêu thức nào để xác định hai cá nhân như nhau, mặt khác nó cũng không nói rõ việc việc đối xử ngang nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế là như thế nào. Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều dọc: nếu người có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn những người khác. Trong thực tế, để áp dụng nguyên tắc này cần phải xác định rõ hai vấn đề: tiêu thức xác định khả năng và mức độ nộp thuế cao hơn. Xung quanh vấn đề tiêu thức xác định khả năng nộp thuế cũng còn nhiều ý kiến khác nhau.
Phổ biến hiện nay người ta dùng tiêu thức thu nhập hoặc tiêu dùng để đánh giá khả năng nộp thuế. Các nhà kinh tế cho rằng, đảm bảo tính công bằng thì nên dựa vào thu nhập suốt đời để đánh thuế. Thu nhập suốt đời được hiểu là giá trị chiết khấu hiện tại của tương lai. Họ lập luận rằng, một đồng thu nhập ở thời kỳ sau có giá trị thấp hơn một đồng thu nhập ở hiện tại.
Nếu một người nào đó nhận được một đồng thu nhập ở hiện tại họ mang gửi ngân hàng và họ sẽ có (1+r ) trong tương lai (r là lãi suất tiền gửi). Như vậy, giá trị chiết khấu hiện tại của (1+r) đồng trong tương lai chỉ là một đồng. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng cơ sở đánh thuế là thu nhập cho dù suốt đời, vẫn đánh trên cái mà cá nhân cung cấp cho xác hội như vậy không công bằng. Đánh thuế công bằng là dựa trên cái gì mà cá nhân nhận từ xã hội.
Với lập luận này, họ cho là nên dựa vào tiêu thức tiêu dùng để đánh thuế. Cùng với lập luận này, một số người còn đề nghị việc đánh thuế công bằng là nên dựa vào lợi ích mà mỗi người nộp thuế nhận được từ việc cung cấp hàng hoá công cộng của Nhà nước, nhưng không thể xác định lợi ích cụ thể mà cá nhân nhận được để làm căn cứ xác định mức thuế. Việc căn cứ vào lợi ích để đánh thuế chỉ xảy ra trong một số trường hợp mà việc cung cấp hàng hoá công cộng đó xác định được cụ thể lợi ích mà cá nhân nhận được và khả năng loại 15 trừ tiêu dùng là khả thi. Tóm lại, công bằng trong thuế khoá là một đòi hỏi khách quan.
Việc đánh giá một hệ thống thuế được gọi là công bằng không phải là một công việc dễ dàng. Đã có nhiều nhà kinh tế đưa ra các nguyên tắc xác định tiêu chuẩn công bằng trong thuế khoá, xong vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau và nói chung những nguyên tắc nêu ra đều mang tính định hướng. Công bằng trong thuế khoá thuộc về nhận thức và quan điểm của mỗi Chính phủ. Tính hiệu quả: Hệ thống thuế phải đảm bảo tính hiệu quả xét trên các mặt sau: Thứ nhất, hiệu quả can thiệp đối với nền kinh tế là lớn nhất.
Xét trên phương diện kinh tế, hành vi đánh thuế của Chính phủ bao giờ cũng ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực của xã hội và chịu sự chi phối của hai tác nhân có xu hướng vận động không đồng nhất. Nhà nước và các lực lượng thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, giá cả thị trường luôn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động một cách hiệu quả.