CHƯƠNG 1 - Nội dung: + Kiến thức: Kiểm tra và đánh giá tất cả nội dung đã nêu trong mục tiêu kiến thức 10 + Kỹ năng: Đánh giá tất cả nội dung đã nêu trong mục tiêu kĩ năng. + Năng lực tự chủ và trách nhiệm: • Trong quá trình học tập, người học cần: • Nghiên cứu bài trước khi đến lớp • Chuẩn bị đầy đủ tài liệu học tập. • Tham gia đầy đủ thời lượng môn học. • Nghiêm túc trong quá trình học tập.
- Phương pháp: + Điểm kiểm tra thường xuyên: không có + Kiểm tra định kỳ lý thuyết: không có NỘI DUNG 1. Thống kê học là gì? - Định nghĩa Thống kê: Thống kê học là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể. + Hiểu một cách đơn giản: Thống kê là ghi chép lại các hiện tượng: cân, đong, đo, đếm… - Ví dụ: Số liệu về mức nước lên xuống của một dòng sông, sản lượng các sản phẩm chủ yếu của nền kinh tế, v.v… + Hiểu một cách đầy đủ: Thống kê là hệ thống 3 phương pháp: thu thập, tổng hợp và phân tích hiện tượng. (Trong phân tích gồm có: phân tích và dự đoán - 2 trong 1) - Ví dụ: Làm thế nào để có được các con số về dân số Việt Nam ở một thời điểm nào đó và nghiên cứu sâu vào cơ cấu lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,… 2.
Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của thống kê 2. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học - Định nghĩa: Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là mặt lượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể. - Ví dụ: + Số liệu về mức lên, xuống của một dòng sông tại một địa điểm nào đó. + Tổng sản phẩm trong nước tại 1 năm.
11 - Mặt lượng: Phản ảnh quy mô, khối lượng, trình độ phổ biến, tốc độ phát triển, quan hệ tỷ lệ, tỷ trọng… của hiện tượng nghiên cứu. - Mặt chất: Là những biểu hiện đặc trưng vốn có để phân biệt giữa hiện tượng này với hiện tượng khác. - Phải nghiên cứu mối quan hệ giữa mặt lượng với mặt chất: Một hiện tượng kinh tế, tự nhiện, kỹ thuật, xã hội đều có 2 mặt lượng và chất. Chất và lượng có mối quan hệ khăng khít với nhau không thể tách rời.
Chất không thể tồn tại độc lập được mà phải biểu hiện thông qua mặt lượng. Lượng này thì chất này, mà lượng khác lại là chất khác. - Trong nghiên cứu thống kê phải kết hợp giữa việc nghiên cứu số lớn (số tổng hợp) với việc nghiên cứu những con số cá biệt, để thấy rõ hơn bản chất, quy luật vận động của sự vật. Nhiệm vụ của thống kê học - Phản ánh trung thực về số lượng, chất lượng của các hiện tượng tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật, xã hội, phục vụ cho sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước - Tổng kết những thành tựu phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước và nghiên cứu tính quy luật của nó trong từng thời kỳ - Cung cấp các số liệu cần thiết cho việc kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, đồng thời làm cơ sở cho việc lập kế hoạch ở kỳ sau - Đảm bảo tài liệu cho việc thông tin tuyên truyền, động viên thi đua trong các doanh nghiệp, ngành và đất nước.
Phương pháp nghiên cứu của thống kê a. Cơ sở lý luận Cơ sở lý luận của thống kê dựa vào lí luận của CN Mác-Lê Nin, cụ thể: - Dựa vào lý luận của môn học Kinh tế chính trị học: Để phân biệt các khái niệm kinh tế thường dùng trong thống kê như: Giá cả, giá trị, giá thành, lợi nhuận, tiền lương, tổng sản phẩm quốc dân… - Dựa vào lý luận của CN duy vật lịch sử: Để thấy được hiện tượng phát sinh trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể nào đó giúp cho quá trình nghiên cứu được chính xác. Phương pháp luận - Phương pháp biện chứng: Là phương pháp nghiên cứu thống kê thông qua việc nhận thức các quy luật: Lượng - chất, quy luật mâu thuẫn, quy luật về mối liên hệ giữa các hiện tượng, quy luật phát triển… 12 - Phương pháp chuyên môn: Là phương pháp nghiên cứu thống kê bằng cách quan sát số lớn, phân tổ so sánh, dãy số thời gian, chỉ số, đồ thị thống kê, bảng thống kê… 3. Một số khái niệm thường dùng trong thống kê học 3.
Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể - Định nghĩa: Tổng thể thống kê là hiện tượng số lớn bao gồm các đơn vị (phần tử) cấu thành hiện tượng, cần quan sát và phân tích. Từng phần tử (đơn vị) trong tổng thể được gọi là đơn vị tổng thể - Ví dụ: Toàn bộ sinh viên trong lớp là một tổng thể, từng sinh viên trong lớp là một đơn vị tổng thể. Kết luận: Như vậy, xác định chính xác tổng thể và đơn vị tổng thể là vấn đề đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng cho giai đoạn thu thập số liệu thực tế. Tiêu thức thống kê - Định nghĩa: Tiêu thức thống kê là khái niệm chỉ đặc điểm của đơn vị tổng thể được chọn ra để nghiên cứu.
- Ví dụ: + Nghiên cứu tình hình học tập của sinh viên trường CĐ TM&DL thì điểm trung bình, số ngày lên lớp bình quân tháng. của mỗi sinh viên là tiêu thức thống kê. + Tổng thể nhân khẩu nước ta có đặc điểm chung là người Việt Nam. Ngoài ra nó còn có đặc điểm khác như: Giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp,….
Các đặc điểm này gọi là tiêu thức thống kê. - Phân loại tiêu thức thống kê Tiêu thức thống kê được chia thành hai loại sau: + Tiêu thức thuộc tính: Là tiêu thức không được biểu hiện trực tiếp bằng con số mà biểu hiện bằng các đặc điểm và tính chất khác nhau (biểu hiện bằng chữ). - Ví dụ: Tiêu thức giới tính, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân. + Tiêu thức số lượng: Là tiêu thức được biểu hiện trực tiếp bằng con số.
- Ví dụ: Mức lương, độ tuổi, thâm niên công tác,… 3. Chỉ tiêu thống kê - Định nghĩa: Chỉ tiêu thống kê là những con số phản ánh mặt lượng gắn với mặt chất của hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể. 13 → Mỗi một chỉ tiêu thống kê đều có cả mặt lượng và mặt chất; là hiện tượng số lớn không riêng lẻ cụ thể; gắn liền với điều kiện thời gian và không gian cụ thể; gắn với đơn vị đo lường và phương pháp tính cụ thể. Đây là những đặc điểm khác nhau trong so sánh với tiêu thức thống kê.
Các phương pháp trình bày dữ liệu thống kê 4. Phân tổ thống kê a. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tổ thống kê - Khái niệm Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hay một số tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ và các tiểu tổ có tính chất khác nhau. - Ví dụ: Trong nghiên cứu dân số, người ta thường phân tổ theo tiêu thức giới tính (thành 2 tổ: nam và nữ), tiêu thức tuổi (thành nhiều tổ khác nhau: 0; 1-4; 5-9,.) - Nhiệm vụ Thứ nhất: Phân chia các loại hình kinh tế-xã hội của hiện tượng nghiên cứu - Ví dụ: Số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc các thành phần kinh tế chia theo thời gian: Thành phần kinh tế Năm… Năm… Thay đổi Thứ hai: Biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu, qua đó nêu lên đặc điểm cơ bản của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể → phân tổ kết cấu.
- Ví dụ: Doanh nghiệp có 100 lao động, trong đó nam: 20 lao động và nữ: 80 lao động. Kết cấu nam trong tổng số LĐ của DN: 20% Kết cấu nữ trong tổng số LĐ của DN: 80% Kết cấu nam + nữ trong tổng số LĐ của DN: 100% hay 1 lần Thứ ba: Biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức. Chia tiêu thức thành tiêu thức nguyên nhân (tiêu thức gây ảnh hưởng) và tiêu thức kết quả (tiêu thức bị ảnh hưởng), sau đó sẽ tiến hành phân tổ theo tiêu thức nguyên nhân. - Ví dụ: Mối liên hệ giữa NSLĐ và tiền lương, giữa lượng phân bón và NS cây trồng… 14 - Ý nghĩa Hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại dưới nhiều loại hình khác nhau có quy mô, đặc điểm khác nhau.
Trong kết cấu nội bộ bao gồm nhiều tổ, nhiều bộ phận khác nhau, nếu chỉ dựa vào con số tổng hợp chung chưa nêu được vấn đề gì sâu sắc cả phải phân chia nó thành những nhóm, bộ phận có tính chất khác nhau, xác định đặc trưng về mặt lượng của từng nhóm, từng bộ phận trên cơ sở nhận thức đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể, do dó cần phải phân tổ thống kê. - Phân tổ thống kê là một phương pháp cơ bản của tổng hợp thống kê bởi vì tổng hợp thống kê là sự tập trung, chỉnh lý hệ thống hoá những hiện tượng kinh tế phức tạp do đó phải vận dụng phương pháp phân tổ thống kê. - Phân tổ thống kê là một phương pháp cơ bản của phân tích thống kê và là cơ sở để vận dụng các phương pháp phân tích thống kê khác. Các phương pháp của phân tích thống kê đều sử dụng kết quả của phân tổ thống kê.
Các loại phân tổ thống kê * Căn cứ vào nhiệm vụ của phân tổ thống kê Tương ứng với ba nhiệm vụ nói trên của phân tổ thống kê, có ba loại phân tổ: + Phân tổ phân loại Phân tổ phân loại giúp ta nghiên cứu một cách có phân biệt các loại hình kinh tế, xã hội, nêu lên đặc trưng và mối quan hệ giữa chúng với nhau. Từ việc nghiên cứu riêng biệt mỗi loại hình đó, tiến thêm một bước nghiên cứu các đặc trưng của toàn bộ hiện tượng phức tạp, giải thích một cách sâu sắc bản chất và xu hướng phát triển của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có thể phân loại các đơn vị theo nhiều tiêu thức khác nhau. Chẳng hạn, các doanh nghiệp công nghiệp nước ta có thể phân loại theo thành phần kinh tế, theo cấp quản lý hay theo nhóm, theo ngành, theo quy mô.